Vì sao lòng dân chưa an

Định nghĩa lại nhân dân trong hiến pháp-Tạ Dzu

con an

Tin khẩn: Côn an[1] bắt người đến giúp dân oan(bvn)-Trương Văn Dũng bị công an đánh gãy 3 xương sườn số 7, số 8 và số 9(XHDS)

Đã đến lúc Quốc hội cần minh bạch –Gs. TsKh. Đặng Hùng Võ

Vì sao lòng dân chưa an

 Nhân đọc phát biểu của Đại biểu Quốc hội Nguyễn thị Quyết Tâm được trích đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 25.10.2013

Gs Tương Lai

Nguyễn Thị Quyết Tâm: Báo cáo cứ nhận khuyết điểm, nghe có vẻ như thành thật lắm nhưng có lẽ chưa có sự nghiêm túc tự vấn lương tâm và trách nhiệm nên chưa có được giải pháp hiệu quả để xoay chuyển tình thế chăng?

Ta đánh giá trong nước kinh tế – xã hội ổn định, đó là một đánh giá đúng và cũng là nỗ lực của toàn hệ thống. Nhưng nếu không thấy được những yếu tố bất ổn ở trong lòng sự ổn định đó thì chúng ta sẽ giống như ngủ mê. Bây giờ làm sao đo lường được những bất bình của nhân dân đối với chính sách? Bao nhiêu chính sách ra mà người dân không ủng hộ – có đếm được không?

Làm cách gì để đo được lòng dân? Nếu không qua báo chí thì cũng chưa chắc gì ta hiểu được người dân phản ứng tới mức độ nào. Trong khi đó ta có mặt trận, có các cơ quan đại diện, có cả một hệ thống hội đồng nhân dân nhưng không có một cơ chế nào để đo lòng dân trước và sau khi đưa ra một chính sách có liên quan đến các tầng lớp nhân dân

Lòng dân bây giờ thật sự bất ổn trên nhiều góc độ lắm. Những cái không công bằng, những cái không minh bạch trong chính sách làm người dân không tin tưởng. Phải có giải pháp, mà quan trọng nhất là phải có cơ chế để đo được lòng dân. Vì nói cho cùng, lòng dân là một trong ba yếu tố đảm bảo ổn định chính trị xã hội – đó là sự đồng thuận xã hội.’”

 Quả thật đã khá lâu trên mặt báo “chính thống” mới thấy xuất hiện những ‎ý kiến thật lòng từ một người giữ trọng trách trong bộ máy cầm quyền nói về lòng dân đúng với nghĩa như nó vốn có. Chính vì thật lòng nên mới đặt ra được câu hỏi khá thiết thực ” làm cách gì để đo được lòng dân“. Cũng vì thật lòng mà dám quyết liệt phê phán sự bằng lòng với kiểu đánh giá “trong nước kinh tế – xã hội ổn định, đó là một đánh giá đúng” nhưng xem ra đó lại là lẩn tránh sự thật, vì “không thấy được những yếu tố bất ổn ở trong lòng sự ổn định đó thì chúng ta sẽ giống như ngủ mê“. Người đánh thức sự “ngủ mê” ấy lại là bà Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, phó Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, đại biểu Quốc hội.
Không thể “ngủ mê” khi mà nền kinh tế của ta có nguy cơ tụt hậu so với cả Campuchia và Lào nếu không đổi mới quyết liệt như cảnh báo của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư. Trong khi tốc độ tăng trưởng của ta chậm lại thì một số nước trong khu vực ASEAN đã có sự cải thiện rõ rệt, Mianma là ví dụ nổi bật : tăng từ 5,6% năm 2011 lên 7,6% năm 2012. Ngủ mê sao được khi nguy cơ “vỡ trận tài chính” trong năm 2014 và rồi triển vọng trung hạn 2013-2015 cũng không mấy sáng sủa. Làm sao còn “mê ngủ” khi mà kinh tế của ta đang ”mò đáy” và tê liệt vì các doanh nghiệp thi nhau  phá sản hay đóng cửa từ 2011. Nạn thất nghiệp gia tăng vũ bão (tỷ lệ thất nghiệp được một số giới cho là trên 10% thay vì con số chính thức là 2%) gây ra các tệ nạn xã hội đáng báo động…Đó là những điều đã đặt ra tại hội thảo mùa Thu của Ủy ban kinh tế Quốc hội (26-27/9/2013) ở Huế .
Rõ ràng không thể ngủ mê trước quy luật nghiệt ngã của kinh tế, gắn liền với sự tụt hậu là miếng bánh nhận được chia sẽ ít hơn trong thế giới hội nhập và theo sau nó là vấn nạn về việc làm và an sinh xã hội. Chẳng những thế, sẽ không đủ nội lực để bảo vệ Tổ quốc mà mỗi thước núi, tấc sông đều thấm đẫm máu của bao thế hệ Việt Nam trong khi kẻ thù đang trăm phương nghìn kế nhằm nuốt trọn Biển Đông, đè bẹp ý chí của một dân tộc từng là sức cản ngăn chặn không cho chúng bành trướng thế lực xuông vùng Đông Nam Á.
Để “đánh thức” đừng “ngủ mê” nữa, bà nghị sĩ đòi hỏi “sự nghiêm túc tự vấn lương tâm và trách nhiệm , một vấn đề mang tính “kinh điển” khi bàn về đạo lý và quyền lực. Một vấn đề thật là hóc búa và e là điều không tưởng đối với “một bộ phận không nhỏ” đang ngày càng phình to ra tỷ lệ thuận với quá trình đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Mà thật ra, điều này chẳng có gì khó hiểu, từ thế kỷ 19, người ta đã đúc kết thành quy luật rồi : quyền lực có xu hướng tham nhũng, quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối [power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely” Lord Acton]. Corrupt trong tiếng Anh còn có nghĩa là tha hóa. Ông Tổng bí thư thì diễn đạt điều này một cách nôm na trong tiếp xúc cử tri quận Ba Đình ngày 27.9.2013 là : Tham nhũng lớn có, tham nhũng vặt cũng nhiều. Chỉ ra khỏi nhà đã thấy cái gì cũng cần tiền, không tiền là việc không “trôi” khiến người dân rất khó chịu, ngột ngạt”.
Sự “khó chịu, ngột ngạt” mà ông Tổng Bí thư nói chính là điều bà Chủ tịch HĐNDTPHCM băn khoăn đặt ra câu hỏi : “chúng ta đang ngày càng vùng vẫy trong những khó khăn đến mức nghẹt thở như vậy? Báo cáo cứ nhận khuyết điểm, nghe có vẻ như thành thật lắm nhưng có lẽ chưa có sự nghiêm túc tự vấn lương tâm và trách nhiệm nên chưa có được giải pháp hiệu quả để xoay chuyển tình thế chăng? “Báo cáo” nói ở đây là “Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội”.
Thế nhưng chuyện “nghiêm túc tự vấn lương tâm và trách nhiệm” để “xoay chuyển tình thế” chắc nhà chính khách hôm nay không chỉ đặt ra cho riêng Chính phủ! Thì chẳng phải là chuyện “không có một cơ chế nào để đo lòng dân trước và sau khi đưa ra một chính sách có liên quan đến các tầng lớp nhân dân“, thì cơ chế đó phải được quyết định từ đâu nếu không từ Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mà thực chất là từ Bộ Chính trị BCHTƯĐCSVN? Đừng quên rằng, trước khi Quốc hội họp, mọi việc đã được quyết định từ Hội nghị BCHTƯ lần thứ 8 vừa bế mạc. Cái “cơ chế” mà bà đại biểu QH đặt ra, trước hết cần nói đến cái “cơ chế” sinh ra từ cái quy trình này. Cái mà nhà sử học người Anh thế kỷ 19 đúc kết “quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng [tha hóa] cũng tuyệt đối” chính là cái “cơ chế” nảy sinh từ cái “quy trình” này đây! Quy trình của một chế độ toàn trị.
Hãy bắt đầu từ cái lớn nhất là Hiến Pháp cho dù ngài Tổng Bí thư đã tuyên bố cái còn lớn hơn là “Cương lĩnh”của Đảng, thì trên nguyên lý được Tuyên bố trước quốc dân đồng bào và trước cả thế giới khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2.9.1945,”nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á” như vẫn được rao giảng, thì vẫn khẳng định đó là”cơ quan có quyền cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“.[Chương III, Điều thứ 22, Hiến pháp 1946]. Thế rồi hôm nay, khi bản Hiến Pháp sửa đổi sắp được Quốc hội thông qua, bản Hiến pháp mà Ông Tổng Bí thư cho rằng “nội dung dự thảo về cơ bản đã rất tốt“, “… sửa những cái gì đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh và tạo được thống nhất cao còn cái còn ý kiến khác nhau thì chưa nên sửa…Tôi thấy tất cả nội dung này đã đáp ứng được tư tưởng đó. Tôi tán thành”. Cụ thể hóa chỉ dẫn của ông TBT, ông trưởng Ban biên tập Dự thảo Hiến pháp sửa đổi nêu rõ Bản dự thảo Hiến pháp trình QH đã “phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bám sát cương lĩnh của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị“.
Thế nhưng, hôm thứ tư, 23.10.2013, báo DÂN TRÍ, Diễn đàn dân trí Việt Nam thì lại chạy một cái tít rất đậm : “Hiến pháp chung chung, dễ bị lạm dụng, dân còn bất an”. Đại biểu Trương Trọng Nghĩa sau khi thiết tha đề nghị :” Quốc hội sẽ ghi nhận những đóng góp của nhân dân đối với bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp” thì vạch rõ : “Bởi nếu những kiến nghị và đóng góp này không được tiếp thu thì đó là một lãng phí rất lớn đối với tinh hoa và trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân đã gửi gắm vào Quốc hội. Điều đó cũng thể hiện việc chúng ta đã bỏ lỡ một cơ hội để đẩy đất nước lên một tầm phát triển cao hơn, thông qua việc đổi mới về hệ thống chính trị đồng bộ với đổi mới về kinh tế …”
Đại biểu Nghĩa nêu cụ thể những bất cập của Hiến pháp vưa được trình QH : “Trong bản Dự thảo Hiến pháp sửa đổi có một số câu chữ bị sửa đi so với Hiến pháp năm 1992. Theo nhận định của tôi, việc sửa chữa này đã làm giảm bớt đi sự bảo vệ của quyền tự do dân chủ chứ không phát huy hơn...các quyền con người thì không có thể nói rằng là phải theo khuôn khổ luật pháp, bởi để đảm bảo quyền con người chúng ta sẽ ban hành một số đạo luật, nhưng vì gắn vào cái đuôi “theo quy định của pháp luật” thì Hiến pháp đã bị hạn chế bởi một cơ sở pháp lý thấp hơn….Có những chỗ sửa chữa nhìn vào có vẻ vô hại nhưng sau này áp dụng thì sẽ tạo điều kiện cho những người muốn lợi dụng để hạn chế quyền tự do dân chủ của nhân dân…Hiến pháp không nên đặt vấn đề thành phần kinh tế nào là chủ đạo, bởi như vậy là đã hiến định việc phân biệt đối xử. 20 năm qua, việc hiến định phân biệt đối xử này đã mang lại nhiều hệ lụy tiêu cực cho nền kinh tế.
 Tiếp theo vấn đề được cho là “lớn nhất” ấy, vấn đề “Luật đất đai”, một vấn đề đang bức xúc trong tâm trạng quần chúng nhân dân, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ, tạo nên sự bất ổn xã hội kéo dài, cũng sẽ được đưa ra QH biểu quyết thông qua trong kỳ họp này. Nỗi ám ảnh khiếu kiện về việc nhà nước thu hồi đất vẫn phủ bóng lên đời sống xã hội và lan tỏa trên diễn đản và trong các buổi thảo luận của các đoàn đại biểu QH. “Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật” như điều 54 trong Dự thảo gây lo ngại sẽ tiếp tục đẩy tới khiếu kiện. Sự cần thiết bỏ cái đuôi “do luật định” theo đại biểu Nguyễn thị Quyết Tâm “là vì trên thực tế có thể có văn bản pháp luật dễ làm cho người thi hành lạm dụng, lợi dụng làm giàu bất chính, và điều đó làm cho dân bất an“.
Làm sao mà “an” được khi “trong cả thế giới chỉ có mỗi Việt Nam là dùng khái niện “thu hồi đất” như TS. Phạm Sỹ Liêm, Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam nêu lên trong buổi giao lưu trực tuyến với chủ đề “Sửa Luật Đất đai: Cơ chế thu hồi và định giá đất” ngày 18/10 do VnEconomy tổ chức. Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường thì  nói rõ : “Với tư cách của một chuyên gia, bản thân tôi mong muốn Luật Đất đai sắp tới cũng như các luật khác phải có quy định quy hoạch chỉ được phê duyệt khi đạt được sự đồng thuận của cộng đồng dân cư nơi có đất. Đây cũng là một quy định được thấy trong hệ thống luật pháp của hầu hết các nước công nghiệp phát triển“. Ông khẳng định :” Trong Luật Đất đai sắp tới, tôi cho rằng, nhiệm vụ quan trọng nhất là tìm được cơ chế xác định thật khách quan giá đất phù hợp thị trường để tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất. Nếu không làm được việc này, thì chắc chắn, khó giảm được lượng khiếu kiện của dân“.
Rõ ràng là, chênh lợi ích giữa thu hồi đất và cơ chế thỏa thuận bồi thường với doanh nghiệp, người dân sẽ lại khiếu kiện. Nhưng thu hồi đất không nêu rõ trong Hiến pháp, để luật định cũng dễ bị lạm dụng, người dân lại bất an…Đó là một trong những vấn đề được đặt ra trong phiên thảo luận tại tổ của đại biểu Quốc hội về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, diễn ra ngày 23.10.2013 như báo Dân Trí phản ánh. Vậy thì tại sao cả “đại vấn đề” như vậy chưa lý giải được mà người ta vẫn kiên quyết cho là “tốt rồi”?
Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên là chuyên gia của Liên Hiệp quốc, từng tham gia Tổ Tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt trước đây đặt thẳng vấn đề : “Dùng chữ “quyền sử dụng” thay cho “quyền sở hữu” và hy vọng người ta hiểu khác đi cho dân nhờ. Quyền sử dụng là gì và khác với quyền sở hữu ở chỗ nào thì không thấy …đả động tới. Nhưng tôi nghĩ là không bây giờ thì mai sau việc chấp nhận đa sở hữu về đất trong đó có sở hữu tư nhân là chuyện đương nhiên. Nếu làm sớm thì dân đỡ khổ và nhà nước và đảng đỡ bị khinh ghét. Thực chất trong lịch sử ngoài đất thuộc nhà nước/vua chúa, đất đai hầu hết là thuộc tư nhân (tư nhân hay tập thể) nhưng bị nhà nước cưỡng đoạt sau cách mạng. Ngoài ra, tôi cũng không thể hiểu được tại sao nhà nước này chấp nhận sở hữu tư nhân về mọi phương tiện sản xuất có lợi cho người giầu nhưng lại chống việc giao sở hữu tư nhân lại cho dân chúng, phần lớn thuộc nông dân nghèo,  là người chủ thực sự của chúng.
Tiến sĩ Việt phân tích tiếp : khi Hiến pháp viết đất là sở hữu toàn dân thì đó là phiếm chỉ vì đó chỉ là sở hữu của nhà nước, không có sự có mặt của toàn dân về mặt pháp lý ở đây, chỉ có nhà nước làm quyết định (mà toàn dân chẳng có quyền gì). Cơ bản nếu hiểu đúng, thì “quyền sử dụng” đất chỉ là hợp đồng nhà nước cho dân thuê đất,  và trong thời gian  hợp đồng (dù 10,20,50,100 năm) người dân có quyền sử dụng theo hợp đồng, sau đó phải trả lại. 
Quyền sở hữu như thế rất khác quyền sử dụng. Quyền sở hữu có một số quyền sau: Quyền kiểm soát (control) việc sử dụng, quyền cấm người khác xâm phạm, quyền được hưởng mọi lợi ích kinh tế và phi kinh tế mà nó mang lại,  quyền chuyển sở hữu (bán, cho không)  cho người khác. Các quyền này ở bất cứ nước nào cũng bị hạn chế bởi luật pháp quy hoạch (đất nông nghiệp không được đem xây nhà cho thuê chẳng hạn), lợi ích công, v.v..
Nếu muốn tránh việc nhà nước tùy tiện lấy lại hợp đồng thì dân chúng phải có quyền sở hữu tư nhân. Nhà nước hoàn toàn có quyền lấy đất vì lợi ích chung theo luật được gọi ở nhiều nước là “eminent domain”. Đối với đất tư nhân, luật các nước đều cho phép nhà nước có quyền trưng dụng vì mục đích công ích, kể cả nhằm mục đích phát triển kinh tế chung. Luật này được gọi là eminent domain. Giá mua là do nhà nước và người bị thu hồi đồng ý với nhau. Nếu không đạt được sự đồng thuận thì nhà nước vẫn có quyền mua, nhưng cá nhân được quyền đưa vấn đề ra tòa án để yêu cầu xử lý dựa trên hai điểm: a) có thực sự là vì lợi ích chung không và b) giá đền bù có hợp lý không, dựa vào đánh giá của chuyên gia đã có quá trình và kinh nghiệm đánh giá tài sản mà hai bên đưa ra. Quan tòa sẽ là người quyết định cuối cùng. Do đó cần có luật về eminent domain.
Tuy nhiên cái khó ở VN là dù có luật, cũng không thể có công lý nếu tòa án không độc lập. Dù sao nếu quá trình này được chấp nhận thì vẫn là bước tiến so với tình hình hiện nay… Cho nên việc chấp nhận sở hữu tư nhân không cản trở mục đích phát triển kinh tế nói chung như  nhiều nhà lý luận ở Việt Nam đang dùng để chống việc chấp nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai.
Quả là xót xa khi một nhà bình luận nước ngoài, ông Jonathan London viết : “Kết quả không bất ngờ của quá trình này là Quốc Hội CHXHCNVN đã quyết định tiếp tục không nghe gì ngoài những tiếng dội từ quá khứ. Thay vì thực sự xem xết lại những hạn chế của mô hình cũ, QH sắp phê duyệt một hiến pháp “sửa đổi” mà không có một sự thay đổi cơ bản nào.
Từ những dẫn giải và phân tích hai vấn đề về Hiến pháp và Luật đất đai nói trên, nếu nói là lòng dân bất an thì phải chăng đây là một trong những “bất an” lớn nhất hiện nay? Nỗi day dứt thật lòng của đại biểu QH Nguyễn thị Quyết Tâm “Lòng dân bây giờ thật sự bất ổn trên nhiều góc độ lắm. Những cái không công bằng, những cái không minh bạch trong chính sách làm người dân không tin tưởng. Phải có giải pháp, mà quan trọng nhất là phải có cơ chế để đo được lòng dân. Vì nói cho cùng, lòng dân là một trong ba yếu tố đảm bảo ổn định chính trị xã hội – đó là sự đồng thuận xã hội ” cần phải được đặt vào trong tổng thể nói trên.
Làm sao có “đồng thuận xã hội” khi mà hơn 77% vụ khiếu kiện liên quan đến quyền sở hữu đất đai mà đạo luật cao nhất, cơ bản nhất lại không tường minh về chuyện này? Liệu có phải không thể tường minh vì vướng vào một trong những vấn đề then chốt nhất của ý thức hệ, điểm tựa “bât di bất dịch” của thể chế hiện hành. Nếu để mất cái này cũng có nghĩa là mất “chủ nghĩa xã hội”, một ảo ảnh đang cố tạo dựng thành một hiện hữu như kiểu gợi hình ảnh giếng nước ảo trong sa mạc nhằm làm dịu cơn khát đang đốt cháy sức lực khách lữ hành.
Thật ra thì chuyện sở hữu được xem là nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản được “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ” do C.Mác và Ph Angghen soạn thảo từng tuyên bố rành rọt “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất này là : xóa bỏ chế độ tư hữu” đã phá sản từ lâu rồi. Chính tác giả của bản Tuyên ngôn đã từng nhiều lần khuyến cáo việc “về nhiều mặt phải viết khác đi“, “việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời và do đó không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II“*[ tức là chương đưa ra “công thức duy nhất” dẫn ra ở trên. TL] . Những câu này viết năm 1872. Đến năm 1888 được nhắc lại và nhấn mạnh rằng “vì tình hình chính trị đã hoàn toàn thay đổi và sự tiến triển lịch sử đã làm tiêu tan phần lớn những đảng được kể ra trong đó. Tuy nhiên, “Tuyên ngôn là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa.”*
Tài liệu lịch sử” ra đời cách nay đã 165 năm [tính từ 1848] , thế giới đã trải qua bao biên động dữ dội thế mà cứ khư khư bám lấy nó, biến nó thành giáo điều phải học thuộc lòng thì không trì trệ và “ngột ngạt” mới lạ! Chính Nguyễn Ái Quốc ngay từ năm 1924 đã thẳng thừng tuyên bố : “không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” **. Vì thế Nguyễn đòi hỏi “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông“**.
May thay, từ Đổi Mới với Đại hội VI chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó sở hữu tư nhân, trao quyền tự chủ sản xuất và kinh doanh về cho hộ kinh tế gia đình nông nghiệp, tạo nên cục diện mới, vượt qua bờ vực của sự sụp đổ. Vậy là, bằng hành động thực tế, người cộng sản Việt Nam đã từ bỏ “công thức duy nhất” vốn là nguyên lý cơ bản nhất của ý thức hệ XHCN! Nhưng cũng chính ở đây lại nổi rõ lên cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cũ và mới, giữa bảo thủ, giáo điều với tiến bộ và sáng tạo. Chưa lúc nào mà mệnh đề về phép biện chứng được Hégel nêu ra mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hoálại được thể hiện sinh động đến thế trong đời sống của xã hội ta! Cái “trạng thái cũ đang suy đồi” hiện lên bằng xương, bằng thịt, đi lại nói cười, rao giảng, thuyết lý, lừa mị, trấn áp…thôi thì thiên hình van trạng. Mà cái “trạng thái” ấy duy trì được là do “ được tập quán thần thánh hoá”! 
Khi bà đại biểu QH Nguyễn thị Quyết Tâm nhận ra rằng “chúng ta đang ngày càng vùng vẫy trong những khó khăn đến mức nghẹt thở như vậy” thì phải cố tìm cho ra cội nguồn của sự “nghẹt thở” ấy trong “cuộc chiến đấu khổng lồ” mà Hồ Chí Minh nêu trong Di Chúc : “chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi“, khi mà cái “cũ kỹ, hư hỏng” vẫn đang ngự trị trong đời sống, đang tác oai tác quái nhằm duy trì được ngày nào hay ngày ấy cái “trạng thái cũ” được khoác cái áo kiên định đi theo con đường Bác đã chọn mà thực chất là phản lại tư tưởng Hồ Chí Minh. Không chống lại được trạng thái cũ đang suy đồi vì người ta không thể và cũng không dám “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dừa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” để “giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này“** như Hồ Chí Minh đã căn dặn. Không thể và không dám làm như vậy, điều ấy thật dễ hiểu.
Một chế độ toàn trị chỉ có thể duy trì sự tồn tại của nó bằng sự quay lưng lại với đòi hỏi dân chủ và quyền con người, quyền công dân trong một nhà nước pháp quyền đích thực. Dứt khoát không chấp nhận tam quyền phân lập, dứt khoát không lập tòa án hiến pháp, kiên quyết duy trì chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, duy trì điều 4 của Hiến pháp v.v… là diễn biến logic của việc quyết bảo vệ chế độ toàn trị cho dù biết rằng, sớm muộn thì sự sụp đổ là không thể tránh khỏi khi đi ngược lại với quy luật phát triển của cuộc sống.
Chính ở đây thể hiện quá rõ một cuộc khủng hoảng lý luận triền miên tiếp theo sự sụp đổ của hệ thống XHCN! Và rồi chỉ còn lại “thành trì ” gồm Bắc Triều Tiên [với cha con cháu chắt nhà họ Kim], Cuba [với anh em ông Phiđen], Trung Quốc [với Mao “nghìn năm công tội” của những cuộc thanh trừng đẫm máu chưa bao giờ dứt trong bộ máy cầm quyền mà vụ Bạc Hy Lai đang nóng hổi chắc chắn chưa là vụ cuối cùng của cuộc tranh bá đồ vương], Lào và Việt Nam. Điều mà bà đại biểu “nghe có vẻ như thành thật lắm nhưng có lẽ chưa có sự nghiêm túc tự vấn lương tâm và trách nhiệm” cần phải truy tìm nguyên nhân từ cuộc khủng hoảng lý luận triền miên này. Vậy mà chưa bao giờ những người giữ trọng trách “cầm cân nảy mực” công khai và minh bạch thừa nhận để huy động trí tuệ của dân tộc cùng góp sức vượt qua.
Chỉ xin gợi ra đây một chuyện vừa trớ trêu vừa bi hài minh họa cho sự khủng hoảng đó : trong khi “kiên định lập trường theo con đường đã chọn” thì những nhà chiến lược, nhà ngoại giao, nhà kinh tế của ta lại đang ra sức thuyết phục và tìm mọi cách để các nước tư bản công nhận Việt Nam đã có nền kinh tế thị trường đích thực mặc dầu trên văn bản chính thống thì luốn có cái đuôi “định hướng XHCN” đi kèm ! Liệu có phải ai đó đang lâm vào cảnh : “Cờ đang dở cuộc, không còn nước. Bạc chửa thâu canh, đã chạy làng“? Vậy thì có cần “tự vấn lương tâm” ở đây không nhỉ khi “lương tâm là yếu tố cốt yếu của lý trí thực hành” mà Aristot, nhà hiền triết cổ đại và Kant, nhà triết học lớn nhất của thời cận đại đều khẳng định.
Vậy là cái “cơ chế để đo được lòng dân” khi mà “lòng dân bây giờ thật sự bất ổn trên nhiều góc độ lắm” mà nữ chính khách bức xúc nêu lên rút cục lại phải bắt đầu từ đâu?
Liệu có phải từ sự khủng hoảng về lý luận dẫn đến sự rối loạn trong hoạt động thực tiễn khi mà đã có cả rừng luật và văn bản dưới luật nhưng luật rừng lại đang được thực hiện phổ biến? Rồi chuyện dân tự xử vì không còn tin ở luật pháp như việc đập chết người ăn trộm chó [mà riêng năm nay đã có 10 người trộm chó bị dân đập chết] cho đến chuyện công an cùng với chủ đầu tư sử dụng côn đồ để trấn áp người dân biểu tình khiếu kiện giữ đất đang có xu hướng ngày càng bạo liệt. Không thể nào liệt kê ra đây “những bất ổn trên nhiều góc độ” nên chỉ giới hạn ở hai vấn đề Hiến pháp và Luật đất đai, những “vấn đề của vấn đề” đang tích tụ hàm lượng lý luận và thực tiễn cần phải được tập trung giải quyết. Đó cũng là hai vấn đề mà Quốc hội sẽ biểu quyêt thông qua trong kỳ họp này. Lòng dân “an” hay “bất an” tùy thuộc vào chuyện lớn này.
Đó chính là lý do để người viết bài này trân trọng ghi nhận những ý kiến sâu sắc và mạnh mẽ của người nữ đại biểu Quốc hội về nỗi bất an của lòng dân.
Sự sâu sắc và mạnh mẽ của một nữ chính khách bỗng ngẫu nhiên gợi lên liên tưởng về cung cách ứng xử của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đối với đám trí thức rởm mà bà chúa thơ Nôm ấy réo gọi là “lũ ngẩn ngơ” chỉ quen “Ong non ngứa nọc châm hoa rữa, Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa” thì hãy “lại đây cho chị dạy làm thơ” [hay làm chính khách]. Người kỳ nữ ấy cũng chỉ mặt bọn chỉ quen ăn theo nói leo không được một tích sự gì : “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông, Chúng bảo nhau rằng ấy ái uông !
Rồi đây các đại biểu QH sẽ bấm nút biểu quyêt thông qua Hiến pháp và Luật Đât đai, những vân đề liên quan mật thiết đến chuyện an dân, liệu có nên bắt chước bản lĩnh của thiên tài kỳ nữ Xuân Hương mà cảnh báo chuyện phải cực kỳ thận trọng việc thò tay bấm nút rằng :
         “Này này chị bảo cho mà biết
        Chốn ấy hang hùm chớ mó tay
Ngày 26.10.2013
            TL
 Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
__________________
* C.Mác và Ph. Angghen toàn tập. Tập 18. NXBCTQG. Hà Nội, 1995, tr.128 và Tập 21, tr.524.
**. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 1. NXBCTQG. Hà Nội, 1995, tr.465, tập 12, tr.505

Định nghĩa lại nhân dân trong hiến pháp

Tạ Dzu

Kể từ năm 1945 đến nay, nhà nước CSVN đã đưa ra bốn bản hiến pháp khác nhau nhưng chưa bao giờ người dân được quyền tham dự vào việc quyết định sinh mệnh chính trị của mình thông qua tiến trình phúc quyết hiến pháp. Nhân dân dưới chế độ cộng sản chỉ là công cụ và phương tiện phục vụ cho ý đồ cầm quyền của đảng. Nhân dân chưa bao giờ là đối tượng phục vụ, là thực thể lẽ ra phải là chủ nhân ông đất nước, có quyền lực thực sự.

Do đó, cần phải định nghĩa và đặt lại vai trò của nhân dân trong hiến pháp.

‘Dân’ trong Nhân Dân

Dân, là người trong mỗi xã hội riêng biệt. Do phân bố địa lý, hoàn cảnh lịch sử và văn hoá khác biệt, người dân tại mỗi quốc gia mỗi khác nhau. Do đó, ‘dân’ mang tính đa nguyên tương đối. Muốn thế giới ổn định, phải tôn trọng tính đa nguyên của (các) dân (tộc). Chủ nghĩa cộng sản đã hoàn toàn sai lầm khi chủ trương xóa bỏ dân tộc để mơ ước tiến đến đại đồng quốc tế. Họ không nhìn ra và phá vỡ quy luật đa nguyên tương đối này. Trên bình diện quốc gia, chính quyền cũng phải tôn trọng tính đa nguyên giữa các giai tầng quốc dân. Chủ trương chỉ công nhận giai cấp công nhân hay những người được đảng cộng sản chấp nhận, cũng phá vỡ quy luật đa nguyên của dân.

Một cách thông thường, nhân dân được hiểu là tất cả mọi người dân trong một nước – toàn dân hay quốc dân. Từ điển tiếng Việt của người cộng sản định nghĩa nhân dân là “khối người đông đảo làm nền tảng cho một nước…” không mang ý nghĩa toàn dân. Nó là thuật ngữ mang ý nghĩa chính trị, thuộc phạm trù ý hệ Mác Lê. Nhân dân, theo những người cộng sản, không phải toàn dân mà “… gồm các giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Những tầng lớp ấy, do giai cấp công nhân lãnh đạo, cùng tham gia chính quyền…” như Trường Chinh xác nhận trong dịp báo cáo trước Đại hội 2.

Điều này nêu lên ba quan điểm về nhân dân của người cộng sản.

Thứ nhất, theo gót Mao Trạch Đông, Trường Chinh cũng quy định có bốn giai cấp họp thành nhân dân nhưng không đưa ra tiêu chuẩn ổn định để xác định giai cấp tính. Chẳng hạn thế nào là tiểu tư sản và tư sản dân tộc? Tại sao rất nhiều tư sản dân tộc theo đảng từ những ngày đầu mà bị phản bội, bị truy tố trước toà án nhân dân hoặc bị âm thầm thủ tiêu dã man không ai biết đến? Tại sao Giang Trạch Dân lại cho phép hàng ngũ đại gia tư bản – những kẻ trên lý thuyết phải bị tiêu diệt – trở thành đảng viên theo thuyết “ba đại diện” của ông ta?

Thứ nhì, theo lý thuyết, giai cấp công nhân lãnh đạo tất cả các giai cấp khác; trên thực tế, chỉ những kẻ đại biểu mới được đứng trong hàng ngũ này. Đảng cộng sản tự phong cho mình là đại biểu của giai cấp công nhân. Mặc nhiên, chỉ có đảng mới thực sự lãnh đạo không chỉ ba giai cấp còn lại, mà cả những ai không được may mắn quy định nằm trong bốn giai cấp trên.

Thứ ba, mặc dù thòng thêm câu “cùng tham gia chính quyền”, nhưng đại biểu những giai cấp còn lại không thực sự có thực quyền. Những người ngoài đảng lại càng không. Điều 3 Hiến pháp 1980 định nghĩa nhân dân như sau: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người chủ tập thể là nhân dân lao động bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Theo định nghĩa này thì nhân dân không phải là toàn dân. Ngay cả những người cùng một giai cấp được công nhận trước kia cũng bị phân biệt rõ rệt: Cùng là nông dân, nhưng nông dân tập thể được đứng trong hàng ngũ nhân dân; nông dân cá thể thì không. Cũng vậy, trí thức “Xã hội Chủ nghĩa” được nhìn nhận, trí thức “suông” thì không (*).

Đầu thập niên 90, do sự lung lay tận gốc rễ của chủ nghĩa cộng sản với sự sụp đổ của các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên Xô, CSVN đành phải đổi mới nội dung nhân dân nơi điều 2 Hiến pháp 1992: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”.

Quy định này không còn phân biệt tính chất nông dân (cá thể và tập thể) và trí thức (XHCN và không XHCN) nữa. Nhưng trong điều 4 ngay sau đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động lại được nhấn mạnh như lực lượng chính trong nhân dân. Do đó, “nhân dân” vẫn mang tính chuyên quyết, chỉ vì quyền lợi và sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam, không vì quyền lợi và sự tồn tại của toàn dân. Họ luôn mập mờ và trí trá trong quy định nhân dân. Khi cần, họ sẵn sàng lôi kéo những thành phần ngoài đảng, thậm chí thuộc giai cấp đối nghịch đứng chung hàng ngũ nhân dân; lúc không cần, người cộng sản sẵn sàng loại bỏ không thương tiếc (*).

Đây là cách nhìn và hành động của những nhà nước thiếu văn minh, của những chính quyền độc tài mà luôn hô hào dân chủ giả dối.

Trong một chế độ dân chủ, nhà nước, được toàn dân trao thẩm quyền điều hành các hoạt động xã hội, phải tạo điều kiện cho mỗi cá nhân, các giai tầng và xã hội dân sự phát huy hết khả năng, sinh hoạt hoà hợp nhịp nhàng, thúc đẩy cả xã hội tiến bộ và phát triển.

Vai trò của nhà nước hiện đại, theo quan niệm mới, nghiêng nhiều về quản trị và điều hành (managing) thay vì cai trị, lãnh đạo (ruling). Mọi người dân ngày càng được khuyến khích tham dự vào đời sống chính trị chung. Đây là nền dân chủ với nội dung mới – nền dân chủ toàn dân và trực tiếp (empowered, parcitipatory democracy).

Chỉ khi nào đại diện toàn dân từ các địa phương được chính người dân cử vào cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội, chứ không phải bao gồm toàn các đảng viên cộng sản, thông qua đầu phiếu tự do, thì tính đa nguyên của dân mới được bảo chứng. Quốc hội phải hoạt động độc lập với đảng nhằm bảo đảm tính trung thực của các quyết định do quốc hội đưa ra liên quan tới đời sống hàng ngày của dân. Đảng phải sinh hoạt trong khuôn khổ luật pháp cho phép, quy định trong hiến pháp được toàn dân phúc quyết. Đây là điều quan trọng trong việc xác định chức năng giữa đảng và nhà nước, giữa vai trò thiết kế chính sách (chính) của ngành lập pháp  và quản trị hành chánh (trị) của ngành hành pháp. Như vậy, lập pháp là quyền của dân, hành pháp thuộc về chính quyền, tư pháp đứng độc lập.

Quan hệ giữa nhà nước và quốc dân phải là quan hệ hỗ tương hợp tác, thông lưu trên dưới, đối lập mà thống nhất, không phải là lãnh đạo một chiều từ trên xuống. Nhân dân phải được tự do, trực tiếp tham dự vào các sinh hoạt chính trị thông qua những đại diện do chính họ bầu lên, cùng nhà nước thiết kế và thực hiện (chấp hành) dân sinh, chứ không chỉ là đặc quyền của các đảng viên cộng sản, dễ trở nên lạm dụng quyền lực đi đến độc tài chuyên chế. Thực thi được điều này thì đó mới là một chính quyền văn minh, tôn trọng người dân và được toàn dân tin tưởng, kính trọng, không cần sử dụng bạo lực mà vẫn giữ được ổn định xã hội.

Dân chủ phải gắn liền với dân chứ không phải với đảng. Xây dựng hiến pháp mà không gắn với (toàn) dân khiến đảng luôn phải dối trá, lúc nào cũng tìm cách lừa bịp dân.

Vào đầu tháng 10, Tổng Bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, trong tư cách đại biểu quốc hội đã gặp gỡ cử tri các quận Tây Hồ và Hoàn Kiếm, tuyên bố rằng dự thảo Hiến pháp được tuyệt đại đa số người dân đồng tình. Nhưng ngay sau đó, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tại Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng đã công bố kết quả cuộc khảo sát có tên gọi Chỉ số Công lý 2012, cho thấy 65.4% dân chúng Việt Nam không biết cũng như không tham dự vào kế hoạch sửa đổi hiến pháp. Chỉ số Công lý 2012 đã chứng minh ông Trọng dối trá. Không người dân nào, ngoại trừ các đảng viên Đảng CSVN, được tham gia vào tiến trình dự thảo hay phúc quyết hiến pháp. Đảng CSVN đang sửa đổi hiến pháp là nhằm biện minh cho sự cầm quyền của họ chứ không cho toàn dân.

Ngày 19 tháng 11 năm 1863, khi đến thăm mặt trận tại Gettysburg, Tổng thống Hoa Kỳ, A. Lincohn, đã tuyên bố rằng chính phủ là “của dân, do dân, vì dân”. Định nghĩa này giúp người dân hiểu dễ dàng và giống nhau. Chính quyền Mỹ không cần phải quy định ai là (nhân) dân, ai không. Câu nói đơn giản đó khiến mọi người hiểu rõ ràng rằng chính quyền là do (toàn) dân lập ra, bằng bầu cử tự do, dựa vào dân và để phục vụ dân, chứ không phải để cai trị dân. Chính vì không phân biệt giai cấp, lấy toàn dân làm nền tảng và là cứu cánh, hiến pháp Hoa Kỳ cho tới nay chưa phải thay đổi, chỉ cần tu chính.

‘Nhân’ trong Nhân Dân

Nhân, là con người trong dòng lịch sử nhân loại nói chung. Dù thuộc dân tộc nào, con người cũng là nhân. Ở đâu, có mầu da nào, mang quốc tịch nào, con người đều phải được tôn trọng nhân phẩm như nhau, có quyền con người như nhau. ‘Nhân’ mang tính nhất nguyên tuyệt đối.

Để công nhận một cuộc hôn nhân mới, một gia đình mới giữa hai người nam và nữ, xã hội nào cũng có nghi thức nhằm ra mắt, giới thiệu hai người với cộng đồng. Đó là tính nhất nguyên của nhân. Tổ chức đám cưới như thế nào, mời bao nhiêu người, cô dâu thay bao nhiêu chiếc áo, họ hàng và bạn bè mừng tiền mặt hay tặng phẩm cho đôi trẻ, mang tính đa nguyên, khác nhau tùy mỗi dân tộc, mỗi xã hội.

Trong tương quan giữa mình với người khác, nhân loại luôn chọn lựa cách ứng xử phù hợp với đời sống con người, phù hợp với nhân tính nhất, gọi là nhân đạo – đường sống, lối sống người. Dù ở chân trời góc biển nào, con người cũng hành xử như thế, cổ đại cũng như hiện đại, tuy mức độ có khác nhau tuỳ vào tri thức ở giai đoạn đó, nhưng luôn là lối sống tương hợp với nhân tính, dần rời xa vật tính. Dù trong nhiều thời kỳ lịch sử, con người đã (và đang) có nhiều hành động, tư tưởng xa rời nhân tính, nhân đạo, nhưng rồi, qua thời gian tiến hóa, con người lại sửa sai và trở về với nhân đạo.

Qua quá trình sống hàng ngàn năm, chục ngàn năm như thế, con người dần tìm ra bảng giá trị chung mà mọi người, mọi dân tộc đều thấy hợp lý.

Kể từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, con người thức tỉnh ra, thấy cần phải sống hoà hợp với nhau hơn thay vì gây chiến. Trong thời đại toàn cầu hoá, mỗi dân tộc lại thấy ra hai con đường sống: không chỉ đời sống quốc dân của dân tộc, mà còn có đời sống quốc tế của dân tộc nữa.

Giao thoa giữa các nền văn hóa, việc làm ăn buôn bán, du lịch thăm thú nhau giữa các quốc gia, càng làm cho mọi người thấy tầm quan trọng của những gía trị chung buộc phải tôn trọng, mới dễ tạo nên sự ổn định toàn cầu.

Hiện tại, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền nói về quyền con người và nền chính trị dân chủ đích thực, tham gia bởi toàn dân chứ không chỉ còn là công việc của đảng phái, là những giá trị phổ quát, thành tựu văn minh chung của toàn thể nhân loại. Với giá trị chung đó, các chính quyền độc tài, trong đó có cả Trung Quốc và Việt Nam đã ký vào bản Tuyên Ngôn, không thể biện luận dối trá rằng nhân quyền của chúng tôi khác với nhân quyền Tây phương, nhằm tước đoạt quyền làm người của dân.

Nhà nước nào càng đi gần với bảng giá trị chung và tôn trọng người dân, xã hội của nhà nước đó càng phát triển trong hoà bình và ổn định.

Hiến pháp dựa vào toàn dân với những giá trị chung của nhân loại thì lâu bền; dựa vào đảng và những người được đảng công nhận là nhân dân sẽ sớm bị đào thải. Hành động chỉ công nhận nhân dân theo định nghĩa của đảng còn tạo ra phân biệt đối xử, gây chia rẽ mọi tầng lớp quốc dân, không thể đưa đất nước đến phát triển và ổn định lâu dài.

Tạ Dzu

(*) Trần Thanh Hiệp (2012). Việt Nam Trên Đường Đi Tới Tương Lai Dân Chủ Hoá. Paris: Tủ Sách Thái Bình Dương, pg 11-13.

—————–

Cùng tác giả: + Xây dựng dân chủ Việt Nam qua kinh nghiệm Hoa Kỳ (Đàn chim Việt);   + Mô hình kiến thiết nào cho Việt Nam và thế giới? (Nhà báo Việt Thường); + Đảng và Nhà nước CSVN có đứng trong hàng ngũ nhân dân? (X-Cafe); + Cách mạng là gốc, chính trị là ngọn (Chuyển hóa);  + Chuộc lỗi cha ông (Thông luận); + Bản dịch: Những biến chuyển chính trị nhẹ nhàng của Đảng Cộng sản Việt Nam (TC Phía trước).

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/10/26/dinh-nghia-lai-nhan-dan-trong-hien-phap/

Đã đến lúc Quốc hội cần minh bạch

Tác giả: Gs. TsKh. Đặng Hùng Võ

Nguyên tắc “Quyền sử dụng là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ” cần được đưa trở lại Hiến pháp sửa đổi. Việc Ủy ban sửa đổi Hiến pháp tự ý đưa nguyên tắc này ra khỏi Dự thảo Hiến pháp sửa đổi bản mới nhất trình ra Quốc hội cần được giải thích rõ ràng, minh bạch trước nhân dân. 

Muốn hay không thì chúng ta cũng phải cùng nhau thừa nhận một thực tế xót xa rằng tham nhũng về đất đai còn lớn, khiếu kiện của dân về đất đai còn nhiều và nông dân nói chung cũng như đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng còn nghèo vì thiếu đất. Đất đai dễ dàng chuyển cho các dự án đầu tư không rõ hiệu quả đã là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng thị trường bất động sản “đóng băng” vì ứ đọng cung như hiện nay. Mặc dù Nhà nước cố gắng đẩy lùi cả tham nhũng và khiếu kiện, cố gắng trợ giúp thêm để xóa đói giảm nghèo những thực tế chưa thấy nhiều chuyển biến tích cực.

Thời gian vừa qua, cả xã hội như  đang đắm mình vào góp ý cho cả Hiến pháp sửa đổi và Luật Đất đai sửa đổi chỉ vì một lẽ đơn giản: cơ hội hiếm gặp để cùng nhau làm cho dân giầu, nước mạnh để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Người dân thì nhìn dưới góc độ cuộc sống thực, nhiều nhà quản lý lại nhìn dưới góc độ lý luận. Chúng ta đang gặp những khoảng trống giữa lý luận và đời thực mà nguyên nhân gây ra các khoảng trống này chính là lý luận chưa phù hợp với đời thực. Lý luận không phải là “thiên thư” mà chính là sự tổng kết các quy luật của đời thực. Trước khi pháp luật đi vào được cuộc sống thì pháp luật phải tiếp nhận được cuộc sống thực.

Những khoảng trống

Nội dung về đất đai là một trong một số nội dung được thảo luận nhiều nhất quá trình dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Trọng tâm chính là mối “bòng bong” giữa quyền sở hữu và tài sản đất đai, hay nói cách khác là quyền của những người đang giữ đất cần được hiến định như thế nào? Đây là khoảng trống đáng kể nhất giữa lý luận và thực tiễn cuộc sống về đất đai.

Theo lý luận về sở hữu thông thường, khi một vật đã thuộc sở hữu của chủ  thể này, trở thành tài sản của chủ thể  này thì không thể thuộc sở hữu và là  tài sản của chủ thể khác. Chắc ai cũng phải đồng ý với mệnh đề lý luận này. Vậy theo duy lý mà xét thì đất đai đã thuộc sở hữu của chủ thể toàn dân, là tài sản của toàn dân tộc thì không thể chấp nhận quyền sở hữu và là tài sản của người đang giữ đất. Tiếp theo dòng lý luận này, chắc chắn đất đai không thể được chuyển nhượng trên thị trường. Khi người dân bỏ tiền thật ra mua theo quan hệ thị trường để có đất sử dụng cho riêng mình thì không thể không gọi cái mua được dưới dạng vật thể là tài sản. Mệnh đề lý luận này chắc cũng không xa lạ trong cuộc sống.

Như vậy, khi chỉ thừa nhận công hữu về đất đai thì pháp luật không được cho phép người giữ đất có quyền thực hiện các giao dịch về đất đai với nhau, đất đai không có giá trị và phải đi theo tài sản gắn liền với đất. Chỉ còn lại mối quan hệ về đất đai giữa người dân và Nhà nước, người cần sử dụng đất thì Nhà nước giao, người không cần thì Nhà nước thu hồi. Đây là cách làm được sử dụng trong suốt thời kỳ kinh tế bao cấp. Người dân mua nhà của nhau và đất được Nhà nước cấp không đi theo nhà. Người sử dụng đất cũng không thế chấp được bằng đất để vay tiền của ngân hàng. Nhà nước cũng không thu được đồng nào từ đất.

{keywords}
Ảnh: laodong.com.vn

Đời sống kinh tế khó khăn của đất nước đã buộc chúng ta phải đổi mới, xóa bỏ kinh tế bao cấp và tiếp nhận kinh tế thị trường. Cuộc sống thực tế gắn với kinh tế thị trường cũng đã buộc chúng ta từng bước đưa đất đai vào thị trường. Luật Đất đai 1987 vẫn giữ nguyên cơ chế Nhà nước bao cấp về đất đai, đất không có giá và người sử dụng đất không có quyền giao dịch về đất đai trên thị trường. Nhà nước ta quyết định áp dụng cơ chế thị trường vào năm 1991, Luật Đất đai 1993 đã quy định đất có giá nhưng chưa công nhận giá đất trên thị trường và người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân được thực hiện giao dịch về đất đai thông qua các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Các tổ chức kinh tế chỉ được thuê đất của Nhà nước mà chưa có quyền giao dịch về đất đai. Thực tế cuộc sống lại tiếp tục buộc Nhà nước phải đổi mới về quyền của người sử dụng đất là tổ chức kinh tế.

Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Đất đai năm 1998 đã cho phép tổ chức kinh tế thực hiện dự án khu công nghiệp, dự án nhà ở để kinh doanh và dự án đổi đất lấy hạ tầng được thực hiện các quyền giao dịch về đất đai thông qua chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn. Tiếp tục, Luật Đất đai 2003 thừa nhận giá đất trên thị trường, giá đất của Nhà nước quy định cũng phải phù hợp thị trường, mọi tổ chức kinh tế đều được thực hiện các quyền giao dịch về đất đai đối với đất đã trả tiền một lần để được sử dụng. Không muốn vật thể đất đai rời khỏi sở hữu toàn dân nên pháp luật đã thừa nhận quyền sử dụng đất là tài sản của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân.

Như vậy, quá trình đổi mới chính sách đất đai cho phù hợp kinh tế thị trường đã làm cho chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không còn nguyên nghĩa. Một phần tài sản về đất đai đã thuộc người có đất từ trước khi thiết lập chế độ sở hữu toàn dân hoặc người đã bỏ tiền của mình ra để được sử dụng đất. Chắc chắn những người soạn thảo Hiến pháp sửa đổi buộc phải rơi vào lúng túng với 2 lựa chọn. Một là khi chấp nhận trọn vẹn chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, đất là tài sản của toàn dân, thì không thể chấp nhận đất đai hoặc quyền sử dụng đất là tài sản của người sử dụng đất. Đó là lựa chọn quay lại chế độ Nhà nước bao cấp về đất đai như trước kia. Ngược lại, khi chấp nhận mệnh đề “quyền sử dụng đất là tài sản của người sử dụng đất” thì đất đai không thể thuộc sở hữu toàn dân nữa. Đó là lựa chọn đưa đất đai vào cơ chế thị trường theo đúng nghĩa. Về lý thuyết, ta đang sử dụng lựa chọn một; nhưng về thực tiễn, ta đang vận hành theo lựa chọn hai.

Giải pháp của các nước khác như thế nào?

Trên thế giới hầu như nước nào cũng gặp phải vướng mắc lý luận như chúng ta đã gặp phải vì sở hữu đất đai là  sở hữu đặc biệt, không giống như sở  hữu đối với các đồ vật thông thường. Đây gần như có một phần quyền sở hữu thuộc toàn dân, một phần thuộc các chủ thể đang giữ đất. Tương tự, tài sản đất đai cũng như vậy, một phần giá trị tài sản là của toàn dân và một phần là của người đang giữ đất.

Đại đa số các nước chọn một giải pháp khá đơn giản, chấp nhận chế độ sở hữu tư nhân hạn chế đối với đất đai, trong đó hạn chế là vì Nhà nước được quyền quyết định lấy đất trong một số trường hợp thật cần thiết vì lợi ích công. Đài Loan là một nền kinh tế tiếp nhận lý luận “bình quân địa quyền” của Tôn Trung Sơn khá giống ta, nhưng nhu cầu phát triển cũng đã buộc Nhà nước phải chấp nhận sở hữu tư nhân hạn chế về đất đai. Hiến pháp của Đài Loan ghi rằng “Đất đai là tài sản của toàn dân tộc, Nhà nước công nhận sở hữu tư nhân về đất đai theo quy định của pháp luật”.

Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và  Môi trường về “Kinh nghiệm nước ngoài về quản lý và pháp luật đất đai” đã chỉ rõ hầu hết các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ đã chuyển sang công nhận chế độ đa sở hữu về đất đai, trừ 5 nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Cu Ba, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên), Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục chỉ chấp nhận chế độ công hữu về đất đai. Cu Ba và Bắc Triều Tiên vẫn đang trong cơ chế kinh tế bao cấp nên chế độ công hữu về đất đai là phù hợp. Trung Hoa đã có chủ thuyết riêng chặt chẽ về lý luận nhưng thực tế tiếp nhận như thế nào còn phải chờ câu trả lời từ thời gian. Việt Nam thì đang xoay trở trong khoảng trống giữa lý luận và thực tiễn với sửa đổi cả Hiến pháp và Luật Đất đai. Lào chắc vẫn luôn chờ đợi kinh nghiệm của Việt Nam về chính sách đất đai (Luật Đất đai của Lào và Việt Nam khá tương đồng).

Ở Trung Hoa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được xác định là đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước và đất nông thôn thuộc sở hữu tập thể. Các hợp tác xã, cộng đồng là chủ thể sở hữu đất đai ở nông thôn, tự quyết định phân chia đất đai để sử dụng trong mối quan hệ cộng đồng. Tất nhiên, cách này không tạo lập được thị trường bất động sản ở nông thôn. Đối với đất đô thị, Nhà nước xuất nhượng quyền sở hữu của Nhà nước cho người sử dụng đất trong thời hạn sử dụng và đất đó là tài sản của người sử dụng đất có thời hạn. Cách làm này bảo đảm điều kiện cho thị trường bất động sản phát triển ở đô thị.

Chúng ta cần hiến định gì về đất đai

Đầu năm 2013, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Quan điểm thứ nhất của Nghị quyết là “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất…”. Trước hết, Hiến pháp phải quy định được tinh thần của quan điểm này.

Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đưa ra lấy ý kiến nhân dân đã có quy định tại khoản 2 Điều 58 (sửa đổi, bổ sung Điều 18) “Quyền sử dụng đất là quyền tài sản  được pháp luật bảo hộ”. Đến nay, trên bản Dự thảo Hiến pháp mới nhất (ngày 17/10/2013) trình ra Quốc hội được công khai trên báo điện tử VnEconomy lại có quy định tại Khoản 2 Điều 54 (sửa đổi, bổ sung Điều 18) “Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ”. Đây là một thay đổi nhỏ, chỉ bỏ đi có mấy chữ thôi, nhưng lại gây lo ngại lớn cho người dân. Điều quan trọng hơn là báo cáo giải trình của ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi trước Quốc hội sáng ngày 22/10/2013 lại không đề cập đến thay đổi lớn này.

Khi lấy ý kiến về Hiến pháp sửa đổi, nhân dân rất vui vì quyền tài sản là quyền sử dụng đất đã được hiến  định. Người ta bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng đất đai về sử dụng được coi thực sự là tài sản của mình, phù hợp với nhu cầu phát triển thị trường bất động sản. Tôi tin chắc rằng, trong quá trình lấy ý kiến của dân về Hiến pháp sửa đổi, không có người dân nào góp ý là không nên coi quyền sử dụng đất là tài sản hoặc quyền tài sản vì đó là lợi ích của dân. Tôi đã làm một thử nghiệm nhỏ, đi ra khỏi nhà và vào vài chục nhà gặp được trên đường đi để hỏi một câu rằng “Nếu không coi quyền sử dụng thửa đất này của bác là tài sản của bác thì bác nghĩ sao?”. Ai cũng trả lời hoặc “Không thể thế được?” hoặc “Hôm nay bác bị lẫn à!”.

Việc không hiến định quyền sử  dụng đất là tài sản của người sử dụng đất không phải là giải pháp để lấp đi khoảng trống giữa lý luận và thực tiễn. Giải pháp thực sự là phải đối mặt và giải quyết đến cùng. Người dân đang cần điều này được hiến định. Dù có bỏ mệnh đề này ra khỏi Hiến pháp thì cũng không làm mất đi lúng túng ở tầng luật, vẫn buộc chúng ta phải đối mặt với cả lý luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề.

Như quan niệm trên thế giới, sở  hữu đất đai là sở hữu đặc biệt, không thể dùng khái niệm sở hữu các vật thể  thông thường vào lý luận về sở hữu đất đai. Trên đất đai luôn tồn tại cả quyền của Nhà nước, quyền của cộng đồng và quyền của người đang giữ đất. Tên gọi của sở hữu đất đai chỉ mang tính hình thức, khác với nội dung kinh tế cần xác định trong kinh tế thị trường. Đất đai là tài sản vô giá của toàn dân tộc nhưng lại là tài sản có giá trị kinh tế cụ thể của người đã bỏ tiền ra để được sử dụng đất. Quá trình đổi mới chính sách về tài chính đất đai ở nước ta đã tiện cận tới quan niệm này. Quyền sử dụng đất là tài sản đã được Nghị quyết của Đảng xác lập và đang được quy định trong pháp luật hiện hành, và đang vận động hiệu quả trong thị trường bất động sản.

Kết luận lại là nguyên tắc  “Quyền sử dụng là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ” cần được đưa trở lại Hiến pháp sửa đổi. Một mặt thể hiện đúng được đường lối chính trị của Đảng, mặt khác làm yên lòng dân vì quyền tài sản đối với đất đai được hiến định như một quyền của con người đối với đất đai. Việc Ủy ban sửa đổi Hiến pháp tự ý đưa nguyên tắc này ra khỏi Dự thảo Hiến pháp sửa đổi bản mới nhất trình ra Quốc hội cần được giải thích rõ ràng, minh bạch trước nhân dân.

Gs. TsKh. Đặng Hùng Võ

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/tu-lieu-suy-ngam/2013-10-25-da-den-luc-quoc-hoi-can-minh-bach

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: