Quốc hội cũng là một nhóm lợi ích?

TỪ KHỔNG TỬ ĐẾN TỔNG KHỬ

+Siêu bão Hải Yến đã dạy chúng ta điều gì về Trung Quốc? walter Lohman | The National Interest | Lê Anh Hùng dịch/ Theo blog LAH + Phát biểu của Bộ trưởng KH-ĐT Bùi Quang Vinh tại buổi thảo luận tổ – Quốc hội 18-11-2013(dđxhds)

+Đập thủy điện và nhóm lợi ích(rfa) +Bịt miệng đại biểu quốc hội rồi khoe đang ‘hết mình'(NguoiViet)

***

Quốc hội cũng là một nhóm lợi ích?

Phạm Chí Dũng gửi RFA từ Việt Nam
2013-11-19
000_Hkg4467982-305.jpg
“Không những không còn “của dân” và “vì dân”, Quốc hội còn tiếp thêm một lực hút soi móc nữa đối với bầu ngân sách vốn đã bị các nhóm lợi ích xuyên đục đến tận cùng.Phải chăng vì sự thể này mà gần đây đã hiện ra mối nghi ngờ từ không ít cử tri “Có phải Quốc hội cũng là một nhóm lợi ích?”?”
Một đại biểu cầm phiếu bầu tại Đại hội toàn quốc lần thứ 11 của Đảng Cộng sản tại Hà Nội vào ngày 17/1/2011, ảnh minh họa.

AFP photo

Không những không còn “của dân” và “vì dân”, Quốc hội còn tiếp thêm một lực hút soi móc nữa đối với bầu ngân sách vốn đã bị các nhóm lợi ích xuyên đục đến tận cùng.

Từ ngủ gật…

Dù chưa kết thúc, nhưng kỳ họp thứ 6 khóa XIII Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nổi lên dấu ấn lặng cúi thấy rõ so với kỳ họp gần nhất và rõ hơn nhiều nếu nhìn lại thời gian cuối năm 2011.

40% trong tổng số đại biểu quốc hội đã “im lặng” khi được hỏi về việc chọn người chất vấn. Tỷ lệ này vươn lên gấp đôi so với kỳ họp lần thứ 5 vào giữa năm 2013 – thời điểm mà ngay cả những quan chức cao cấp của Quốc hội cũng phải bộc lộ nỗi bức xúc không hẳn là giả dối “hàng trăm đại biểu không có ý kiến gì trong suốt vài kỳ họp quốc hội”.

Dấu ấn duy nhất mang lại hy vọng cho cử tri vào kỳ họp thứ 5 đó chỉ là hình ảnh lóe sáng nhất thời của 32% đại biểu bỏ phiếu tín nhiệm thấp cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và 42% cho Thống đốc Ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình. Một hy vọng lấy lại những gì đã mất đối với khối cử tri, bằng vào hành động hiếm hoi trong một đánh giá có tính thực chất về tình cảnh điều hành bị coi là quá yếu kém của lớp quan chức chính phủ trong ít nhất hai năm từ giữa 2011 đến giữa 2013.

Nhưng chừng đó vẫn là chưa đủ, và còn xa mới thỏa mãn được cơn bức bối uất nghẹn không thể thốt lên của cử tri toàn quốc. Tối thiểu, những gì mà người dân muốn là các đại biểu quốc hội không được ngủ gật trong một khán phòng như ngủ lặng cùng bản hiến pháp bị xem là “ngủ đông”.

..tới ngủ đông

Ngay vào ngày đầu tiên của kỳ họp quốc hội lần này, một đại biểu từng cố gắng chống lại cơn ngủ gật trong ba kỳ quốc hội trước đã thẳng thừng tuyên bố với báo chí: “Sẽ không nói gì về hiến pháp nữa”.

Dĩ nhiên, nếu vị đại biểu trên còn tỏ ra minh mẫn thì bản dự thảo sửa đổi hiến pháp lại diễn biến theo tâm thế ngược lại.

Sau lời chốt đóng sổ sửa đổi hiến pháp của chủ tịch quốc hội, cử tri đang tự hỏi liệu tâm thế lộn ngược của dự thảo sửa đổi hiến pháp có thật “tập trung tinh hoa trí tuệ” như ông Nguyễn Sinh Hùng mặc định hay không?

Hay chỉ là lớp trình diễn của một tầng lớp “tinh hoa” nào đó và mang tính khu biệt trong nội bộ – những người được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc cách “Cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp”?

Thời quá khứ, ông Nguyễn Sinh Hùng từng là một quan chức chính phủ. Và ông cũng là một đại biểu thâm dày ở nơi mà nhiều ý kiến cho rằng “Quốc hội đã chẳng làm được gì cho dân”.

Những câu chuyện xưa cũ đến lê mòn cứ trôi dạt vào một góc phòng vô định chốn nghị trường. Quốc hội Việt Nam sẽ đi về đâu với những ảo ảnh không có cơ may nào được hiện thực hóa của nó?

Hiện thời, câu trả lời thực dụng nhất chỉ là nếu những chất vấn thê thiết nhất của cử tri đã bị số đại biểu quan chức lấp liếm hết kỳ họp này sang kỳ họp khác, thì đừng trông mong bất kỳ tốt lành nào cho vận mệnh đất nước.

Những kẻ “giết sống”

000_Hkg9202223-250.jpg
Người dân di chuyển đồ đạc từ một ngôi nhà bị ngập lụt trong thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định hôm 16/11/2013. AFP photo

Hàng chục vạn ngôi nhà, xóm, làng, khu phố bị chìm ngập trong biển nước. Hàng vạn hecta đồng ruộng, hồ ao, đầm nuôi cá đến kỳ thu hoạch đã mất trắng… … Đó là hình ảnh thống thiết thường thấy qua mỗi mùa mưa bão.

Nhưng sau chuỗi thời gian trầm nghẹn quá lâu, vào lúc này báo chí trong nước đã phải thét lên “Nhân tai!’.

Chỉ mới đây, cùng với tuyên bố tuyệt thực, Yeb Sano – trưởng đoàn đàm phán Philippines tại hội nghị Công ước khung của Liên hiệp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 19 – cất tiếng kêu xé lòng: “Chúng ta phải thôi gọi những sự kiện như vậy là tai họa tự nhiên…”.

Quằn quặn Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam…, tiếng khóc xé lòng dội khắp xóm làng sau cú xả lũ vào dân của các nhà máy thủy điện.

Song một điều kinh khủng là ngay cả bốn chục sinh mạng dân chúng bị cơn lũ thủy điện dã man chưa từng thấy cướp trắng ngay trong thời gian kỳ họp thứ 6 cũng không khiến nhiều đại biểu quốc hội bận lòng.

Cũng chẳng có bất cứ kẻ “giết sống” dân nào phải ra trước vành móng ngựa từ trước đến nay.

Hình ảnh an ủi duy nhất chỉ là những chiếc áo xanh bộ đội và cả những cán bộ, chiến sĩ công an oằn mình cứu hộ cho dân.

Nhưng bức tranh khác hơn rất nhiều là sau khi Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cố gắng lấp liếm về trách nhiệm của ban lãnh đạo Bộ Công thương, đã chỉ có vài đại biểu quốc hội dám lên tiếng về trách nhiệm không thể loại bỏ này.

Cho dù trong thâm tâm, rất có thể đa số dân biểu đều hiểu rằng trách nhiệm của toàn bộ chiến dịch xả lũ đó trước hết thuộc về Bộ Công thương, với gương mặt trơn bóng cùng những lời điều trần trơn tuột của bộ trưởng Vũ Huy Hoàng trước toàn thể Quốc hội về “chúng ta” – ngôi thứ ba số ít mà đã trở thành một thứ dịch bệnh tồn trữ quá lâu trong lòng chế độ.

Trách nhiệm đó cũng thuộc về cá nhân bộ trưởng Vũ Huy Hoàng – người liên đới trực tiếp với những cú “áp phe” quy hoạch thủy điện và phê duyệt các dự án thủy điện.

Bất chấp những lời dẫn dụ đầy ngụy biện của giới quan chức chính phủ và bộ ngành, tất cả đều đã quá chậm. Bất chấp vài trăm dự án thủy điện cuối cùng cũng buộc phải gạt ra khỏi quy hoạch, hàng trăm dự án thủy điện còn lại đã quét đi hơn 50.000 hecta rừng, hàng ngàn hecta đất ở, đất trồng trọt của người dân… khiến dân chúng phải chuyển nhà, chuyển cửa, mất nghề… khốn đốn trong sinh hoạt.

Nhiều người dân trắng tay và cũng trắng xóa lòng tin vào chế độ.

Những nén nhang và tiếng khóc thảm thiết của người dân huyện Đồng Xuân ở Phú Yên năm 2010 vẫn còn vang vọng. Chết mà không biết vì sao số phận lại quyên sinh đột ngột đến thế, cũng không biết kẻ nào đã cướp đi sinh mạng đời mình mà không một lời tạ tội.

Nhưng cùng với bệnh dịch quy hoạch thủy điện, những lãnh đạo của Bộ Công thương vẫn tiếp tay cho hàng loạt đợt tăng giá điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) – một địa chỉ mà đã gây ra cơn thảm họa lỗ lã 34.000 tỷ đồng từ đầu tư trái ngành vào chứng khoán và bất động sản. Còn Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng – người không có bất cứ thành tích nổi bật nào từ khi thành lập chính phủ mới vào giữa năm 2011 đến nay – là tác giả gián tiếp cho những trận đánh đẹp bù lỗ vào dân như thế.

Do những “thành tích” về điều hành quản lý và đặc biệt mối quan hệ quá gần gũi với các doanh nghiệp điện lực và xăng dầu, ông Vũ Huy Hoàng đã nhận được 25% phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ họp quốc hội giữa năm 2013 – một thứ hạng chỉ xếp sau Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nhưng trong lúc báo giới trong nước thường xuyên bị cấm cản đưa tin bài về nguồn cơn thực chất gây ra chết người do xả lũ, đã không một tiếng nói đủ liêm sỉ nào được cất lên từ Bộ Công thương hay Chính phủ để kềm giữ hành động đổ lỗ lên đầu người dân của EVN.

“Nhóm lợi ích Quốc hội”?

000_Hkg9116351-200.jpg
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong lễ khai mạc phiên họp thường niên thứ hai của Quốc hội tại Hà Nội vào ngày 21/10/2013. AFP photo

Thói vô lương tâm của quan chức vẫn luôn dẫn tới vô số trác táng trên bàn tiệc và những cuộc chơi bất tận thâu đêm, bất kể cảnh khốn cùng và bất chấp lời nguyền rủa từ những kẻ đóng thuế bất hạnh.

Toàn bộ sự thể trên hẳn là nguồn cơn sâu xa giải thích cho hiện tượng ngày càng xuất hiện quá nhiều đại biểu quốc hội “cấm khẩu” – một tâm lý mệt mỏi và chán nản đến mức không thể động mồm, bất chấp chỗ ngồi của họ vẫn ngốn đến 1 tỷ đồng cho mỗi ngày họp.

Từ tiền đóng thuế của tuyệt đại đa số cử tri.

Không những không còn “của dân” và “vì dân”, Quốc hội còn tiếp thêm một lực hút soi móc nữa đối với bầu ngân sách vốn đã bị các nhóm lợi ích xuyên đục đến tận cùng.

Phải chăng vì sự thể này mà gần đây đã hiện ra mối nghi ngờ từ không ít cử tri “Có phải Quốc hội cũng là một nhóm lợi ích?”?

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

TỪ KHỔNG TỬ ĐẾN TỔNG KHỬ

Lý Thoát Trung

Việc Trung Quốc lập giải Khổng Tử về Hòa bình, còn mở Viện Khổng Tử ở khắp nơi, thoạt nghe là một nghịch lý. Đây là một nhân vật, sau mấy mươi thế kỷ được tôn sùng, rồi một thời bị đánh tan hoang, sao bây giờ bỗng dưng lại được phục hồi để xuất khẩu[1]? Khổng giáo có nội dung gì đặc biệt mà chỉ nay Đảng với Nhà nước Trung Quốc mới khám phá ra chăng?

Để tìm hiểu một cách súc tích nhất có thể, tôi lôi quyển Cổ học Tinh hoa – thực chất là Khổng học tinh hoa, từ lâu đã bị bỏ xó!) – ra đọc, thì bắt gặp câu chuyện sau đây, do ông Liệt Tử nào đó kể lại[2].

Đức Khổng Tử đi chơi ra phía đông, thấy hai đứa bé cãi nhau, hỏi tại làm sao, thì một đứa nói rằng: — “Tôi, thì tôi cho mặt trời lúc mới mọc ở gần ta hơn, về buổi trưa ở xa ta hơn”. Còn một đứa nói: — “Tôi, thì tôi cho rằng mặt trời lúc mới mọc ở xa ta hơn, về buổi trưa ở gần ta hơn”.

Đứa trước cãi: — “Mặt trời lúc mới mọc to như cái bánh xe, đến giữa trưa nhỏ như cái bát ăn, thế chẳng phải tại xa ta mới nhỏ, gần ta mới to là gì?”. Đứa sau cãi: — “Lúc mặt trời mới mọc thì mát mẻ, đến giữa trưa thì nóng nực, thế chẳng phải tại gần ta mới nóng, xa ta mới mát là gì?”

Đức Khổng Tử nghe nói, không giải quyết được làm sao. Hai đứa bé cười, bảo: — “Thế thì cho ông là người đa trí thế nào được!”.

Người bàn câu chuyện trên không phải là ông Liệt Tử, và coi bộ cái đầu chưa hề liệt. Ông bênh cụ Khổng như sau: “Nhưng ở vào cái đời ông Khổng, khoa học chưa có mấy, thì xem hai đứa bé suy lý với nhau, đứa nào cũng phải, khó lòng mà quyết định được thật. Vả lại người thông minh, thánh thiện đến đâu cũng không sao biết cho hết mọi sự vật được. Vì rằng đời người sống có hạn, mà sự tri thức thì mông mênh không bờ bến nào!”. Đúng và hay quá.

Điều còn làm tôi băn khoăn là, dù chưa có điều kiện giải quyết như hai đứa bé, tại sao cụ Khổng lại chưa bao giờ tự đặt được cho mình loại thắc mắc như của hai đứa bé kia nhỉ? Có phải vì, trong bậc thang giá trị (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) của cái đạo đặt theo tên cụ, chữ trí chỉ đứng vào hàng áp chót chăng? Nếu thế thì cụ có đủ lý do để không là bậc đa trí — chẳng biết có thể gọi là bậc đơn trí hay thiểu trí được chăng? Mặt khác, nếu hai đứa bé cứ trông thấy Khổng Tử hay nghe danh cụ đã khúm núm, chẳng dám hó hé gì, thì liệu chúng có thể phát hiện ra mặt hạn chế nơi cái trí của cụ chăng? May mà chúng chưa bị kẹt vào cái cơ chế mang tên cụ “tiên học lễ”, hậu học… vấn!

Trở lại với lời bình. Nếu nói như ông thầy bàn ở trên, thì cụ là bậc thánh thiện mà cái trí đã phần nào bị chữ nhân hướng về cách ứng xử giữa con người với nhau — thứ đời sau gọi là luân lý — giới hạn và lèo lái. Cho nên muốn hiểu thấu đáo cái trí của người Trung Quốc, cả thời xưa lẫn thời nay, thì theo tôi không gì bằng xem việc áp dụng nó vào các vấn đề con người, không phải trong chữ nghĩa lý thuyết mà trong hiện thực.

Ở đây, còn gì rõ ràng hơn là cách nửa này (nửa giống đực) của người Đại Hán thấm nhuần Khổng học đối xử với nửa kia (nửa giống cái) trong lịch sử? Các đấng nam nhi và đức ông chồng (không phải thằng) đã giữ bọn nữ nhi và thê thiếp như thế nào để chúng không tháo chạy? Trong muôn ngàn biện pháp, họ đã nghĩ ra cách tinh tế nhất: tặng cho nửa kia đôi giày sen gót ngọc.

Vì không nơi đâu khác có được một Khổng Tử thứ hai, cũng không ở đâu khác có thể nghĩ ra cách giữ chân này, tôi tin rằng đây là chính là hai biểu trưng không thể tách rời của nền văn minh Trung Hoa vĩ đại. Nói đến cụ Khổng Tử ắt phải liên tưởng đến đôi giày sen; trông thấy đôi giày sen ắt phải nhìn ra cụ Khổng, hay nói theo ngôn ngữ bây giờ, “khủng” Khổng.

*

Viết đến đây tôi chợt thấy bồn chồn, tự hỏi “Viết thế này có hơi oan cho cụ Khổng, vì sơ sài quá không?”. Có lẽ cần đào sâu hơn chữ nhân và chữ trí trong đạo Khổng, nếu không được ở tầm vị sư tổ thì ít ra cũng phải ở cỡ các sư phụ đệ tử của Ngài. Thế là lại phải mò mẫm lật từng trang sách cũ để tìm tòi thêm, cuối cùng rơi vào một câu chuyện tinh hoa khác, ký tên Gia Ngữ[3]. Nó như sau :

Thầy Tử Lộ yết kiến Đức Khổng Tử. Đức Khổng Tử hỏi: — “Thế nào là người trí, thế nào là người nhân?”. Thầy Tử Lộ thưa: — “Người trí là người làm thế nào để cho người ta biết mình; người nhân là người làm thế nào để cho người ta yêu mình”. Đức Khổng Tử bảo: “Nhà ngươi nói như vậy cũng khá gọi là người có học vấn”.

Thầy Tử Lộ ra, thầy Tử Cống vào. Đức Khổng Tử lại hỏi người trí, người nhân là thế nào? Thầy Tử Cống thưa: — “Người trí là người biết người; người nhân là người yêu người”. Đức Khổng Tử bảo: “Nhà ngươi nói như vậy cũng khá gọi là người có học vấn”.

Thầy Tử Cống ra, thầy Nhan Hồi vào. Đức Khổng Tử lại đem trí, nhân ra hỏi. Thầy Nhan Hồi thưa: — “Người trí là người tự biết mình; người nhân là người tự yêu mình”. Đức Khổng Tử bảo: “Nhà ngươi nói như vậy đáng gọi là bậc sĩ quân tử”.

Nếu đây là một cuộc sát hạch, thì thầy Nhan Hồi đỗ đầu, thầy Tử Cống đứng nhì, còn thầy Tử Lộ về bét. Cũng thời là hỏi đáp, song khác với cái ông Socrate xứ Athènes kia (người không bao giờ tự vỗ ngực xưng là sư phụ mà luôn luôn giả làm anh học trò dốt để nghe kẻ tưởng mình hiểu biết phát biểu), ở đây cụ Khổng chễm chệ trong vai sư tổ, không hề ban phát lời vàng ngọc nào mà chỉ gật gù đánh giá ba ông đệ tử cũng vào bậc thầy. Nhưng căn cứ vào lời phán, có thể đoán rằng quan điểm về nhân và trí ở cấp “vạn thế sư biểu” chắc cũng na ná như ở cấp “sĩ quân tử” thôi. Người bàn giải thích thêm: “Có biết mình thì mới tu tỉnh được tâm thân, cải quá thiên thiện mà nên người hay, người khá, tức cũng như câu “Connais toi toi-même” của Tô-lạp-thị (cha nào vậy ta?). Có yêu mình, thì mới biết trọng tư cách của mình, quý phẩm giá của mình rồi mới ra đến thân nhân dân, ái vật, tức cũng như câu tục ngữ Pháp “la charité bien ordonnée commence par soi-même”.

Nghe cũng hay quá. Nhưng muốn biết giá trị của cây trồng, thì phải nhìn vào hoa trái. Khổng giáo đã để lại trong lịch sử và trong hiện tình Trung Quốc những con người như thế nào, về nhân và trí? Tôi ngờ rằng tầng lớp tinh hoa của Trung Quốc – tôi nói chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế[4] – đã đạt được trình độ của thầy Nhan Hồi hay thầy Tử Cống, nhất là trong các nghĩa mà ông thầy bàn ở trên đã giải minh.

Về chữ nhân, tôi e rằng họ sống rất “yêu mình”, song theo một nghĩa thô bạo hơn của thầy Nhan Hồi nhiều, là làm sao cho bản thân giàu hơn, sướng hơn, khỏe hơn: bằng sự băng đầu, bịt mắt, che tai dân chúng; bằng nạn cửa quyền, tham nhũng; bằng những hàng giả, hàng dỏm, hàng nhái không trả tác quyền cho người nước ngoài; bằng các bộ phận trộm hoặc cướp từ thân thể kẻ túng quẫn hay tù tội… – dù chúng gây thiệt hại, có khi là chết chóc cho kẻ khác, kể cả trẻ sơ sinh. Mà như thế thì cũng đâu có thể xem là “yêu người” theo nghĩa của thầy Tử Cống được?

Về chữ trí cũng thế. Chỉ cần nhìn thẳng vào trường hợp Khổng Tử, sẽ thấy ngay trình độ “biết mình” kiểu thầy Nhan Hồi ở các giới tinh hoa Trung Quốc: cũng một ông triết gia ấy thôi mà cả nước, lúc xì xụp cầu lạy, lúc ầm ĩ vùi chôn, sau lại xí xồ khai quật, rồi cuối cùng công kênh inh ỏi làm biểu tượng văn hóa chính thống! Họ có thực sự tự biết mình đã và đang nghĩ gì, làm gì chăng? Còn hiểu theo khả năng “biết người” kiểu thầy Tử Cống thì sao? Ở đây, chính sách tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải bằng thủ đoạn hù dọa nước nhỏ, khiêu khích nước lớn, đã khởi động cả một cuộc chạy đua vũ trang ở Thái Bình Dương, kéo Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á trong sự hân hoan cổ vũ của các quốc gia trong vùng, và tạo ra nhiều liên minh chống bành trướng Trung Quốc. Cái danh nghĩa “trỗi dậy hòa bình” bỗng đột quỵ, lò ra cái đuôi cáo đế quốc trá hình. Đánh giá địch thủ sai quá đỗi như thế mà xem là có trí được ư?

Nhiều lắm cái trí nói đây chỉ thích hợp với trình độ thầy Tử Lộ. Người trí là kẻ “làm cho người ta biết mình”. Và tôi tin rằng theo nghĩa này, số lượng người trí của Trung Quốc cao vô kể. Cả thế giới đều biết họ rất thân thuộc với cái ác: ác ngay cả với kẻ đồng hương, kể cả trẻ sơ sinh (vì chính sách một con, bao nhiêu triệu con gái mới đẻ đã bị hy sinh để chỗ chờ con trai?, bao nhiêu trẻ sơ sinh đã chết vì uống sữa made in China?…); ác với súc vật (xưa Từ Hi đập đầu khỉ múc óc đãi khách; nay ở nhiều quán ăn, thực khách chỉ cần chỉ vào mảng thịt nào của con bò đang còn sống, thì đầu bếp sẽ xẻo mảnh thịt ấy ra nấu nướng phục vụ!). Cả thế giới đều biết họ rất giỏi làm đồ giả và đồ nhái, không cần phải nhắc lại dài dòng. Nhưng có lần tôi khen “người Trung Quốc giỏi quá, cái gì họ cũng làm giả được, từ màng trinh đàn bà, đến tiền, thức ăn, máy tính và vàng!”; một cậu bé bướng bỉnh chỉnh tôi ngay: “Không đúng đâu bố; họ đâu có giả nhân, giả nghĩa được!”. Cho nên tôi chỉ sợ rằng, khi “làm cho người ta biết mình” kiểu đó, thì làm sao giới tinh hoa Trung Quốc cháu chắt cụ Khổng có thể đồng thời “làm cho người ta yêu mình” nổi?

*

Việc thành lập Viện Khổng Tử ở khắp nơi biểu thị cái ý muốn “làm thế nào để cho người ta biết mình, làm thế nào để cho người ta yêu mình” ấy, gọi đích danh ra là tuyên truyền chính trị. Và tất nhiên ai cũng biết quan hệ của nó với bộ máy chính quyền Trung Quốc[5], nên cũng đều thừa hiểu cái bản chất hai mặt của nó.

Trong một bài phỏng vấn trên RFI Việt ngữ, ông Nguyễn Xuân Diện, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội, đã nêu lên những nguy cơ tiềm ẩn từ Viện Khổng Tử sẽ được thành lập ở Việt Nam như sau:

Chúng tôi rất lo lắng bởi vì Viện Khổng Tử này chắc chắn không phải được lập nên để tuyên truyền về giáo lý, tinh thần triết học hay cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử, cũng như về Nho học : Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Tam Tòng Tứ Đức… Thực chất đây sẽ là một trung tâm văn hóa và ngôn ngữ, nhằm giới thiệu, quảng bá về văn hóa Trung Quốc: thi ca, âm nhạc, ẩm thực, trà đạo…, và sẽ có những giao lưu văn hóa giữa các nghệ sĩ Việt Nam và Trung Quốc. Đằng sau đó luôn là những hoạt động tư vấn về du học, tức là kéo thanh niên Việt Nam đến Trung Quốc du học ngày càng nhiều. Đây cũng sẽ là trung tâm dạy Trung văn, tức là tiếng Hoa. Đó là những hoạt động bề nổi, còn đằng sau nó chắc chắn sẽ là những hoạt động tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về mặt văn hóa và tư tưởng, về một nước Trung Hoa hiện đại. Chính vì vậy nhiều nhà quan sát cho rằng việc thành lập Viện Khổng Tử chính là một sự thể hiện quyền lực mềm của Trung Quốc, hoặc có người gay gắt hơn thì nói rằng đấy là bước đầu đặt cơ sở cho việc bành trướng văn hóa”.

Ông Diện nói đúng quá. Từ vài năm nay, bước vào một hiệu sách ở Saigon, ta có thể thấy nhiều của “lạ”:

Về chính trị, bên cạnh tiểu sử các nhà lãnh đạo Việt Nam, có không ít sách về các nhân vật lãnh đạo chính trị và quân sự Trung Quốc (Nxb Chính trị). Thôi thì cứ cho đấy là chuyện ngoại giao! Nhưng ở các kệ sách tổng quát, đã xuất hiện một số sách dịch mới, mang tính giáo dục tuyên truyền rất lộ liễu về Trung Quốc đương thời, với đủ các mặt: Quốc phòng, Xã hội, Dân tộc và tôn giáo, Lịch sử, Chế độ chính trị, Địa lý, Văn hóa, Khoa học kỹ thuật và giáo dục, Ngoại giao, Pháp luật, Kinh tế, Môi trường, Vườn cảnh, Gốm sứ, Truyền thuyết thần thoại, Rượu, Thủ công mỹ nghệ truyền thống, Lễ Tết, Đồ nội thất, Ẩm thực, Phục sức, Hí kịch… (Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh xuất bản, Nxb Truyền bá Ngũ châu phát hành).

Về văn hóa, ngoài loại sách vẫn thấy từ thời trước về triết học (Khổng, Mạnh, Lão, Trang…), và văn học (Tây Du, Thủy Hử, Tam Quốc…), một loại sách nặng tính “xâm lăng văn hóa” cũng đã ló mặt, để ca ngợi cái trí của người Trung Quốc, như Mưu trí thời Tần Hán, Mưu trí thời Tùy Đường, Mưu trí thời Liêu Kim Hạ, Mưu trí thời Nguyên Minh, Mưu trí thời nhà Thanh, Mưu trí thời Xuân Thu, Mưu trí thời Chiến Quốc Thất Hùng[6] (Nxb Văn học), hoặc các danh nhân Trung Quốc, như 12 Đại Thừa tướng, 12 Đại Mưu lược gia, 12 Đại Hoạn quan, 12 Đại Tham quan, 12 Người đẹp Trung Hoa(Nxb Văn hóa Thông tin)[7].

Trong bối cảnh này, việc thành lập Viện Khổng Tử có thể sẽ trở thành bộ não của những hoạt động xâm nhập văn hóa mà Trung Quốc xem là “chưa được hệ thống hóa đúng mức” ở Việt Nam. Hoạt động của nó sẽ không chỉ giới hạn vào việc dạy ngôn ngữ và thông tin một chiều có lợi cho Trung Quốc như ở các nước Phi châu chẳng hạn. Nếu ở nơi sinh thành, Khổng Tử được phục hồi với ý đồ vuốt ve tự ái dân tộc (TA cũng có một hiền giả tầm cỡ nhân loại như ai!) và tạo thêm một chân đứng cho chủ nghĩa toàn trị (hệ thống độc đảng kiểu Lênin sẽ được hỗ trợ bởi truyền thống không có gì quý hơn phục tùng, trật tựkhông có gì đáng sợ hơn phản biện, phê phán của vị vạn thế sư biểu), thì ở nơi từng chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo, chắc chắn là cái ý đồ thứ hai cũng sẽ được tiếp đón bởi tập đoàn toàn trị trong niềm hân hoan, nếu không phải là lòng biết ơn sâu sắc!

Nhưng nhân dân Việt Nam thì khác. Từng xem Khổng Tử là đầu mối của họa mất nước trong thế kỷ thứ XIX, họ không có lý do gì ăn lại cái món họ đã nhổ ra, nhất là khi nó biểu thị một cái họa Bắc thuộc khác. Họ thừa biết có cái gọi là “lý thuyết”, và có cái gọi là “hiện thực” trong các giá trị nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của văn minh Trung Quốc. Người Việt thừa sức thấy rằng, trong thế kỷ thứ XXI sCn này, chẳng có gì là đáng học thêm ở đạo Khổng, ngay cả ở cái phiên bản chân chính nhất của nó. Họ thừa thấy là, từ xưa tới nay, cái chữ trí ở người Trung quốc luôn luôn đi đôi với chữ mưu (như ở các tựa sách nói trên). Cho nên dân Việt đã kết luận, một lần dứt khoát: kẻ gọi là “đối tác chiến lược toàn diện ưu tiên” này chẳng dạy ta được gì cả, bởi vì cái trí của nó chưa bao giờ là trí huệ hay trí tuệ hết cả, mà vẫn muôn đời là trí trá.

Hãy khiến cho cái Viện Khổng Tử vừa được quyết định thành lập ở Việt Nam này – một mảng quan trọng của quyển Mưu trí thời Đặng Tập – cái số phận khôi hài của Giải Khổng Tử về Hòa bình[8]. Hãy làm cho thứ quyền lực mềm này thành quyền lực nhão. Hãy làm cho nó hiện nguyên hình là một hình thức bịt đầu kiểu “giày sen gót ngọc” xưa kia. Sang thăm Pháp, tôi được xem cảnh quay một lớp đào tạo cán bộ ở Bắc Kinh, trong một phim tài liệu mang tựa là Những giới hạn của quyền lực mềm: các học viên lo ngại rằng loại Viện Khổng Tử danh nghĩa (bởi đâu thể đặt tên là Viện Mao Trạch Đông!), song song với sự đề cập đến Trung Quốc kiểu nện dùi cui vào đầu này, sẽ làm cho người nước ngoài tò mò hơn, tìm hiểu thêm về hiện tình nội bộ Trung Quốc, thì “toàn Đảng, toàn quân, toàn dân” chỉ có nước độn thổ.

Có một thời để báo động, và một thời để hành động. Rõ ràng là hai bộ máy toàn trị đã lùi thêm một bước nữa về quá khứ: thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đang tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, bỗng chuyển sang từ trần, nhường chỗ cho thời kỳ kinh tế thị trường “với định hướng xã hội chủ nghĩa”, rồi bây giờ là thời kỳ chính trị phong kiến “với định hướng xã hội chủ nghĩa”! Không lừa được bằng tương lai huyễn hoặc, thì bịp bằng truyền thống “kính lão đắc thọ”. Có điều người dân Việt Nam đã quá hiểu, cả cái hủ lậu nọ, cái hão huyền kia, lẫn chiếc cầu tiếp nối hai bờ đó. Họ thừa biết rằng, để thoát khỏi sự tăm tối của đất nước và con người Việt Nam hôm nay, ta cần phải đạp đổ tật cả mọi thứ tàn dư và mộng mị – nghĩa là làm một cuộc tổng vệ sinh. Hãy biến cái Viện Khổng Tử đang thành hình thành một đích nhắm cho chiến thuật “một mũi tên hai thành quả”. Vài thanh niên đã “dậy mà đi”. Và ông lão nhà bên đã đủ lạc quan để ư ử ngân nga một bài vè con cóc: “Viện Khổng Tử ra đời, Điềm tổng khử đã tới, Bắt đầu khử Tổng thôi!”. Tôi ghi lại để mọi người cùng suy ngẫm.


[1] Khổng Tử sống giữa thế kỷ thứ VI và thứ V (551-479) tCn. Do đó, có thể xem như ảnh hưởng của ông trên văn hóa Trung Quốc đã kéo dài từ thế kỷ thứ V tCn cho đến thế kỷ thứ XIX sCn (khoảng 24 thế kỷ), khi Trung Quốc thất thế nhục nhã trước phương Tây. Từ lúc đó, văn hóa Khổng giáo bị xem là nguyên do của sự suy đồi của Trung Quốc, tư tưởng của ông còn bị đánh tơi bời trong cái gọi là cuộc “đại cách mạng văn hóa vô sản” thời Mao Trạch Đông (1966-1969), nhất là trong các năm 1971-1974.

Quá trình phục hồi Khổng Tử được xem như bắt đầu khoảng cuối thập niên 1980 – khi chân dung của 4 ông râu xồm nước ngoài (Marx, Engels, Lenin, Stalin) tại Thiên An Môn bỗng dưng bay mất, rồi sau được thay thế bằng pho tượng Khổng Tử cao 9 thước, đặt bên trái song cách khá xa chân dung của Mao Trạch Đông chễm chệ trên cổng vào quảng trường – và kết thúc năm 2011, khi tờ Nhân dân Nhật báo trích dẫn câu tuyên bố ngắn ngủi sau của một vị lãnh đạo ĐCSTQ (không nêu tên): “Khổng Tử là biểu tượng của nền văn hóa Trung Quốc”.

Giải thưởng Khổng Tử về hòa bình được đặt ra vào năm 2010, với một phần thưởng khoảng 11000 euros, trong tham vọng thay thế giải Nobel về hòa bình. Còn về Viện Khổng Tử, tính đến tháng 7-2013, đã có khoảng 327 cái được thành lập ở hơn 90 quốc gia và khu vực trên thế giới.

[2] Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc & Từ An Trần Lê Nhân. Cổ học Tinh hoa. Hà Nội, 1925. Q. I, tr. 40-42. Đây là hai quyển sách chỉ tập trung giới thiệu tư tưởng của nhà nho, do đó, nếu đặt tên là Khổng học Tinh hoa có lẽ sẽ chính danh hơn nữa.

[3] Cũng sách trên, tr. 126-127.

[4] Tôi không nói về văn hóa và khoa học, vì không nắm được tình hình bên trong. Bên ngoài, vẫn có những người gốc Trung Quốc đoạt được các giải thưởng cao quý. Nhưng có lẽ họ chỉ mắc nợ hệ thống giáo dục và không khí văn hóa của nơi họ định cư mà thôi; gán cho Khổng Tử loại thành tích này thực sự là vu khống cụ.

[5] Các Viện Khổng Tử được thiết lập theo mô hình đối tác (liên kết Văn phòng Uỷ ban Quốc tế về Tiếng Trung gọi tắt là Hán Ban, một trường Đại học Trung Quốc, và một trường Đại học nước ngoài), song tất cả đều được quản lý bởi Hán Ban (tổ chức quần chúng phi lợi nhuận, do một nhóm người xuất thân từ Hội đồng Nhà nước, Bộ Giáo dục, Bộ Ngoại giao và Bộ Văn hoá Trung Quốc điều khiển).

[6] Ở đây, hãy so sánh với các tên sách về cái trí ở những nơi khác: Trí tuệ Ả Rập, Trí tuệ nước Mỹ, Trí tuệ nước Pháp … (Nxb Thời đại).

[7] Tình hình sách báo này, tôi thực tình thấy đáng báo động, mặc dù so với lượng sách về thế giới nói chung, số sách về Trung Quốc cũng chưa lấy gì làm vĩ đại lắm. Ông chủ tiệm sách còn ranh mãnh đặt đối diện với các kệ sách trên (không thấy bao nhiêu người viếng mua) loạt sách Danh nhân Lịch sử Việt Nam với bao anh hùng, anh thư nổi tiếng, cùng các loại sách đối trọng khác, cũng có đủ bộ hoạn quan, tham quan và người đẹp bản xứ chứ chẳng thua kém gì.

[8] Giải Khổng Tử về Hòa bình được đặt dưới sự quản lý của Hiệp hội Nghệ thuật Bản xứ Trung Quốc, với một ban giám khảo gồm có một đại tá Quân đội Giải phóng, một ký giả Nhân dân Nhật báo và một thủ lĩnh của trường đảng. Hiệp hội này bị Nhà nước đình chỉ và thay thế bằng Trung tâm Nghiên cứu về Hòa bình của Trung Quốc vào năm 2011. Giải thưởng đã được trao cho: Lien Chan năm 2010 (Phó tổng thống Cộng hòa Trung Hoa, ông này không đến nhận), Vladimir Putin năm 2011 (qua một phát ngôn nhân, Putin cho biết ông không hay biết gì về giải thưởng này!), Kofi Annan và nhà nông học Yuan Longping năm 2012.

Giải Khổng Tử về Hòa bình được đặt ra khi Liu Xiaobo được trao tặng Giải Nobel về Hòa bình năm 2010, tThe Economist đã so sánh nó, rất chính đáng, với Giải thưởng Quốc gia Đức về Nghệ thuật và Khoa học (do đảng Quốc Xã Đức đặt ra, sau khi cấm Carl Von Ossietzky nhận giải Nobel về Hòa bình năm 1935) và Giải Stalin về Hòa bình (sau đổi tên thành Giải Lenin về Hòa bình, do Liên Xô đặt ra cũng sau khi cấm Andrei Sakharov nhận Giải Nobel về Hòa bình năm 1975). Ôi, vinh quang!

Viet-studies nhận được bài vào ngày 18-11-13

http://www.viet-studies.info/KhongTuTongKhu.htm

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: