Đổi mới tư duy cho đất nước tiến lên

DÂN CHỦ KHÔNG THỂ LÀ “CÁI BÁNH VẼ”(DĐXHDS) Đâu là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân” vi phạm quyền dân chủ của nhân dân?

Đổi mới tư duy cho đất nước tiến lên

Nguyễn Trọng Vĩnh

…”Nhưng xét đến cùng thì trách nhiệm thuộc về lãnh đạo Đảng, bởi vì Đảng lãnh đạo toàn diện, lãnh đạo chính quyền, kể cả ký thay chính quyền trong hoạt động đối ngoại, các chức danh chính quyền từ dưới lên đều do cấp ủy Đảng bố trí, Thủ tướng cũng do lãnh đạo Đảng quyết định. Quốc hội bầu chỉ là hình thức. Một Thủ tướng yếu kém, không có tâm, có tầm mà lãnh đạo vẫn để cho quyền điều hành, cộng với những chủ trương sai lầm của lãnh đạo nên kinh tế sa sút, tụt hậu, chính trị lệ thuộc, xã hội hỗn loạn, văn hóa đạo đức suy đồi, dân nghèo nước yếu.”…

I. Vì ai nên nỗi

Đọc bài viết của tiến sĩ Trần Đình Bá về “Tứ đại Vina” và những thất thoát do họ gây ra, nợ nần khổng lồ của nhà nước cùng sự công bố của vụ trưởng Trần Ngọc Thành [xem ở đâyBVN], tôi vô cùng xót xa và oán hận. Chắc rằng những công dân lương thiện mà biết được cũng có tâm trạng như tôi.

Do thất thoát, lãng phí, tham ô hàng chục, hàng trăm tỷ đô la, tài chính nhà nước thiếu hụt, tất phải lạm phát, làm cho giá mọi thứ nhu cầu thiết yếu của dân tăng, từ xăng dầu, điện, nước, học phí, viện phí, thuốc men, cho đến con cá lá rau cũng tăng, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, nhất là công nhân, dân nghèo đời sống càng chật vật.

Do tài chính thiếu hụt, không có tiền tăng lương cho công nhân viên chức, giáo viên để họ đủ nuôi sống gia đình, nên nhiều người phải xoay sở một cách bất chính; không có tiền xây thêm trường học, học sinh phải học ba ca, không có tiền xây thêm bệnh viện, khiến bệnh nhân phải nằm 2,3 người một gường; không có tiền đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn; không có tiền tăng ngân sách quốc phòng, để trang bị cần thiết tạm đủ khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, nên bị “người ta” lấn át. Do thiết hụt tài chính lại tăng vay nợ nước ngoài, nợ cũ nợ mới chồng chất để gánh nặng cho cháu chắt phải trả bao giờ cho hết trong khi tài nguyên khoáng sản các loại móc lên bán hết, còn đâu phần cho các thế hệ mai sau. Những thất thoát kinh khủng mà “Tứ đại Vina” gây ra do mua sắm đồ phế thải, do làm ăn thua lỗ, do tham ô, tất nhiên các giám đốc, các tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm. Nhưng trách nhiệm lớn hơn phải là Chính phủ, Thủ tướng là cấp trên trực tiếp quản lý và chỉ đạo các Tập đoàn kinh tế nhà nước. Chả lẽ những sự việc rất to như mua “ụ nổi sắt vụn”, tàu nát, xây hơn 200 cảng biển, 63 sân bay quá nhiều không cần thiết, v.v. mà Thủ tướng không biết hoặc biết mà dung dưỡng, hoặc có những uẩn khúc, khuất tất gì bên trong mà không dám công khai xử lý và không dám công khai nhận trách nhiệm.

Nhưng xét đến cùng thì trách nhiệm thuộc về lãnh đạo Đảng, bởi vì Đảng lãnh đạo toàn diện, lãnh đạo chính quyền, kể cả ký thay chính quyền trong hoạt động đối ngoại, các chức danh chính quyền từ dưới lên đều do cấp ủy Đảng bố trí, Thủ tướng cũng do lãnh đạo Đảng quyết định. Quốc hội bầu chỉ là hình thức. Một Thủ tướng yếu kém, không có tâm, có tầm mà lãnh đạo vẫn để cho quyền điều hành, cộng với những chủ trương sai lầm của lãnh đạo nên kinh tế sa sút, tụt hậu, chính trị lệ thuộc, xã hội hỗn loạn, văn hóa đạo đức suy đồi, dân nghèo nước yếu.

II. Đổi mới tư duy để đất nước tiến lên

1. Trước hết cần có một Hiến pháp thật sự dân chủ, bảo đảm mọi quyền tự do chính đáng của công dân đã ghi trong Hiến pháp, đúng tinh thần dân làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân như lâu nay văn kiện thường nêu. Hiến pháp phải đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết và phù hợp với trào lưu văn minh, tiến bộ của thế giới đương đại trong đó có tam quyền phân lập. Có thế mới động viên được tinh thần phấn khởi của toàn dân, phát huy được mọi năng lực, sáng tạo vào công cuộc xây dựng đất nước, không phải như dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện nay theo chỉ thị của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sắp được Quốc hội thông qua.

2. Lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, không cần nói “theo chủ nghĩa Mác – Lê nin” nữa. Biết rằng Mác, Lênin là những nhà uyên bác, những đầu óc lớn đáng kính, nhưng các vị cũng có những chỗ sai, không phù hợp với thực tế. Vả lại những ý gì của Mác, của Lênin mà thích hợp với nước ta thì đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu, cũng như Người đã tiếp thu những gì là văn minh khoa học, tiến bộ của thế giới. Người cũng đã nghiên cứu tiếp thụ những cái đúng cái hay của đạo Phật, đạo Thiên chúa, của Khổng Tử, của Tôn Trung Sơn. Vậy làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ rồi.

3. Mục tiêu: Xây dựng nước ta dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh như nghị quyết Đảng đã từng nêu là thích hợp. Được thế thì nhân dân hạnh phúc rồi. Không nêu xây dựng chủ nghĩa xã hội nữa. Mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Stalin, trái ngược với thực tế cuộc sống đã tan rã, sụp đổ rồi. Các nước vẫn còn bám theo mô hình ấy như Cuba, Việt Nam, Triều Tiên thì đều nghèo, thậm chí đói (như Triều Tiên), trừ Trung Quốc. Từ khi ông Đặng Tiểu Bình nêu: “Mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo tốt” thì Trung Quốc đã rẽ theo con đường phi xã hội chủ nghĩa rồi và tiến nhanh. Mặc dầu đến nay, họ vẫn nêu “Xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc” là nói để mà nói thôi, thực tế thì xã hội Trung Quốc hiện tại là xã hội tư bản chưa hoàn chỉnh do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Việt Nam ta mang tên là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa và vẫn nói xây dựng chủ nghĩa xã hội, vậy theo mô hình nào, tiêu chí ra sao, chưa ai nêu ra. Trong nước ta hiện nay, cái gì là xã hội chủ nghĩa không ai chỉ ra được, đến Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nói “Đến hết thế kỷ này, cũng chưa hoàn thành được chủ nghĩa xã hội”. Cái mà gần 100 năm nữa chưa biết ra thế nào có phải là ảo tưởng không? Lại nói “định hướng xã hội chủ nghĩa” là định hướng theo cái vô hình ư, thật mơ hồ. Vậy nên thôi nói xây dựng chủ nghĩa xã hội để khỏi tự bó buộc mình và dễ hòa đồng với thế giới. Nên giải thể hoặc cổ phần hóa các Tập đoàn kinh tế nhà nước, không giao cho nó vai trò chủ đạo nền kinh tế và nó cũng không có khả năng chủ đạo.

4. Lãnh đạo khác với Đảng trị. Không nên mọi việc đều do Bộ Chính trị quyết định một cách chủ quan, độc đoán. Phải thực hiện dân chủ, tôn trọng các quyền tự do của công dân được ghi trong Hiến pháp; phải đồng hành với dân, lắng nghe ý kiến của dân, của các chuyên gia, các nhà kinh tế giỏi trong, ngoài nước trong đó có ý kiến của ông Lý Quang Diệu; lắng nghe những ý kiến tâm huyết của những nhà trí thức chân chính, những ý kiến xây dựng của các nhân sĩ ngoài Đảng, của các Đảng viên lão thành trung thực, nói thẳng nói thật. Không nên đàn áp những người có ý kiến bất đồng, những người đấu tranh cho độc lập chủ quyền của Tổ quốc. Bộ Chính trị không nên tự cho mình là giỏi giang, sáng suốt nhất nước (thực tế không phải như vậy), mà phải quý trọng thu hút hiền tài. Những cái ghế, cái ngai không phải là quan trọng mà những người nào làm được cho Tổ quốc cường thịnh mới là quan trọng nhất.

5. Quan trọng hơn hết là phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường vốn có của dân tộc ta. Tự lực, tự cường phải xây dựng và phát triển nội lực, nội lực chính là lòng dân và sức dân. Gắn bó với dân, dựa vào dân thì sẽ có tất cả. Từ các triều đại phong kiến đánh bại được quân xâm lược phương Bắc, giữ được nước cũng là nhờ có sức mạnh của dân, Cách mạng tháng 8 giành lại được độc lập, xây dựng được chính quyền cũng là nhờ được sức mạnh của hàng vạn, hàng triệu dân (vũ khí bấy giờ không đáng kể). Tất nhiên cần có vua sáng, tôi hiền, có lãnh đạo kiệt xuất, tướng lĩnh tài ba biết động viên và phát huy sức mạnh toàn dân. Hiện nay, do yếu kém không tạo được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc thành ra lệ thuộc. Cái gì giới cầm quyền Trung Quốc đề xuất vì lợi ích của họ đều phải chấp nhận, cái gì Trung Quốc không muốn đều không dám làm. Thế thì tinh thần độc lập tự chủ ở đâu? Tại sao không làm được như Miến Điện?

Ta đã đề ra chính sách ngoại giao “Đa dạng hóa, đa phương hóa, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau” là rất đúng. Vậy cần phát triển quan hệ thân thiện, bình đẳng, cân bằng với các nước lớn, Mỹ cũng như Trung Quốc, không ngả theo bên nào. Đối với những vấn đề thuộc lợi ích quốc gia của ta, ta cứ hành xử theo tình thần độc lập tự chủ, không việc gì phải e ngại ai./.

N. T. V.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

http://boxitvn.blogspot.com/2013/11/oi-moi-tu-duy-cho-at-nuoc-tien-len.html

DÂN CHỦ KHÔNG THỂ LÀ “CÁI BÁNH VẼ”

Đôi lời: Mới thấy cái tựa bài, chắc không ít độc giả sẽ tưởng như đó là lời nhắc nhở nghiêm khắc ban lãnh đạo Đảng CSVN, hiện đang nắm quyền lực tuyệt đối. Nhưng không phải!

Theo tác giả “Cách mạng nước ta đã có Đảng lãnh đạo theo đường lối dân chủ từ 82 năm qua. Và nhân dân ta cũng được thụ hưởng các quyền tự do dân chủ kể từ ngày 2-9-1945. Hiến pháp cũng đã quy định quyền tự do dân chủ”, thế nhưng “nhiều khi người dân cũng tự mình chưa biết thực thi dân chủ và thụ hưởng quyền dân chủ, chưa mạnh dạn và biết cách đấu tranh và giúp nhau cùng đồng tâm hiệp lực bảo vệ quyền dân chủ chính đáng của mình.” 

Tác giả còn trích dẫn những “lời Bác dặn” liên quan dân chủ, lại cả dẫn chứng Thủ tướng đã trực tiếp chỉ đạo làm nhanh”, trong vụ Tiên Lãng, và còn có “Quy chế dân chủ cơ sở xã” trong một nghị định của Chính phủ nữa, rồi kể ra nhiều chuyện mất dân chủ thời nay, cho rằng chính quyền các cấp và nhân dân đã không thực hiện đường lối của đảng, “lời Bác dặn”, “chỉ đạo” của Thủ tướng. Đặc biệt trong đó có lời can gián, với dân chủ chớ có “quăng quật đi cầu sự trợ giúp bên ngoài”, coi đó “là sai lầm cả về chiến lược và sách lược dựng nước, giữ nước”.

“Bác Hồ đã dạy rất chân tình, giản dị và dễ hiểu: ‘Dân chủ là hãy để cho người dân mở miệng’”, thế nhưng được “mở” bao nhiêu, “mở” theo kiểu gì, để nói ra lời gì, hay việc chính “Bác” có chịu “mở miệng”, có trị bọn bịt miệng dân hay không v.v.., hay những lời vàng ngọc đó có phải chính là một thứ “bánh vẽ”, là quái thai của thứ “đức trị” phong kiến cổ hủ cùng cộng sản trại lính hay không, thì không phải là điều quan trọng trong bài này. 

Và còn rất nhiều phân tích, trích dẫn trong bài cho thấy thứ dân chủ mà đảng, chính phủ, “Bác Hồ” đem lại, rồi cả “Hiến pháp” mà “Đảng Bác” nặn ra (qua các phiên bản khác nhau) cho tới hôm nay, không phải là thứ “bánh vẽ”, như đánh giá của “các thế lực thù địch”, trong những kiến nghị, lời kêu gọi, tuyên bố gần đây, mà là “bánh thật”, chỉ có điều “các cấp các ngành” và nhân dân đã không biết thưởng thức nó, nên đã biến nó thành “bánh vẽ” mà thôi.

BT

—-

Bùi Văn Bồng

 Trong các nghị quyết của Đảng đều nêu rõ mục tiêu phấn đấu là “xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Vậy ta đã xây dựng như thế nào, hiệu quả thực sự đến đâu?

Nói về dân chủ, trước hết là nói về quyền thực thi dân chủ, quyền được thụ hưởng nền dân chủ của người dân trong một thể chế chính trị-xã hội. 

Không thể cứ liên tục gân cổ gào lên hai từ dân chủ là coi như có dân chủ đích thực. Dân chủ luôn luôn là ước vọng của con người trong mọi thời đại, mọi dân tộc. Nó cần như cơm ăn, áo mặc, nước uống hằng ngày. Dân chủ là thước đo chất lượng cuộc sống văn minh xã hội và năng lực quản lý của một nhà nước. Dân chủ không phải tự nhiên mà có. Lịch sử đất nước ta đã chứng minh, muốn có một xã hội thực sự dân chủ, thực sự văn minh, lành mạnh phải đấu tranh, thậm chí phải hy sinh biết bao xương máu. Dân chủ và cuộc đấu tranh vì dân chủ hay dân chủ hóa, cũng như hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển, là một xu thế lớn của thời đại. Cuộc đấu tranh vì dân chủ, cũng như vì hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển mặc dù còn gặp nhiều khó khăn và thử thách, nhưng đã và đang có những bước tiến mới. Hơn thế, dân chủ và dân chủ hóa còn ngày càng trở thành mục tiêu và động lực, nội dung và phương thức của phát triển xã hội theo hướng phát triển hướng tới công bằng, văn minh và thực sự bền vững.

Mất dân chủ là tự triệt tiêu đi nguồn sức mạnh nội lực của đất nước, của cả dân tộc. Coi thường hoặc thậm chí đánh mất dân chủ, nhưng lại quăng quật đi cầu sự trợ giúp bên ngoài là sai lầm cả về chiến lược và sách lược dựng nước, giữ nước.

Ở nước ta hiện nay, dân chủ trở thành mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới. Vấn đề dân chủ và dân chủ hóa ngày càng có tầm quan trọng to lớn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Những thành tựu của quá trình dân chủ hóa đang góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, toàn Đảng toàn dân ta cũng đang nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức trong quá trình dân chủ hóa, văn minh hóa một xã hội đang phấn đấu vươn tới hiện đại hóa. Nhận thức về vấn đề dân chủ đã khó khăn và phức tạp, nhưng nhận thức về dân chủ hóa hay quá trình hiện thực hóa những mơ ước, những giá trị dân chủ trong đời sống còn khó khăn và phức tạp hơn nhiều. Những vấn đề về mục tiêu, động lực, nội dung, hình thức và phương pháp; nguyên nhân, kinh nghiệm, nguyên tắc, phương châm và bước đi của dân chủ hóa luôn là những vấn đề khó khăn và mới mẻ đòi hỏi phải giải quyết một cách đồng bộ, cần sự hợp lực rộng lớn để chuyển biến, thay đổi từ tư duy, nếp nghĩ, thói quen , lối sống đến những hành động tổ chức thực thi.

Cách mạng nước ta đã có Đảng lãnh đạo theo đường lối dân chủ từ 82 năm qua. Và nhân dân ta cũng được thụ hưởng các quyền tự do dân chủ kể từ ngày 2-9-1945. Hiến pháp cũng đã quy định quyền tự do dân chủ của mỗi người dân Việt. Ấy vậy, mà cho đến nay, nhiều khi người dân cũng tự mình chưa biết thực thi dân chủ và thụ hưởng quyền dân chủ, chưa mạnh dạn và biết cách đấu tranh và giúp nhau cùng đồng tâm hiệp lực bảo vệ quyền dân chủ chính đáng của mình. 

Vụ oan án mới đây còn nóng hổi về chuyện ông Nguyễn Thanh Chấn qua 10 năm ngồi tù với án chung thân là thể hiện sự cố tình bức cung mất dân chủ và vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn.

Nhìn lại các vụ cưỡng chế thu hồi đất “rầm trời” đầu năm 2012, thấy rõ: Dân chủ cần được hiểu là dân chủ trong Đảng và dân chủ toàn xã hội, dân chủ ngay trong các cộng đồng dân cư, dân chủ trong môi trường sống, lao động, học tập, sinh hoạt xã hội. Thế nhưng, một thực tế phải ghi nhận là từ cán bộ, đảng viên đến quần chúng lao động đều chưa thực sự biết sử dụng và phát huy quyền dân chủ của mình. Và người ta thấy do sự thiếu gắn kết Dân với Đảng, do những cách thức làm việc và sự áp đặt của chính quyền, dân chủ nhiều khi chỉ là hình thức. Người dân không được thấu đáo là dân chủ thì mình được hưởng quyền đó như thế nào? Và mình được thực hiện quyền dân chủ ra sao. Các vụ xảy ra với hành động điều công an bất chấp pháp luật trấn áp dân thẳng tay như Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, lình sình kéo dài như Dương Nội, rồi biết bao vụ người dân có đất, thậm chí ông bà để lại cả chục nghìn m2 đất, nhưng nay rơi vào cảnh bị trắng tay, oan ức, thiệt thòi đi kiện chán đành về cam chịu cảnh không đất, không nhà, đi làm thuê, đi ở cho nhà giàu để kiếm sống, vậy nền dân chủ xã hội mang tiếng là tốt đẹp nay ở đâu?

Chính quyền làm sai Luật Đất đai rành rành, Thủ tướng đã trực tiếp chỉ đạo làm nhanh, vậy mà mấy tháng nay thành phố Hải Phòng giải quyết lựa chiều như giải pháp tình thế, từng bước đối phó, vụ việc bị câu dầm, và đi vào quên lãng. Sự vi phạm dân chủ trắng trợn vẫn coi như “không có gì xảy ra”(!?).

Theo Luật đất đai 2003, và theo các chính sách khuyến nông, khuyến ngư của Nhà nước, lẽ ra trường hợp từ tay trắng, phải vay vốn ngân hàng cả mấy tỉ đồng,  mà khai hoang nên vùng đầm ven biển như gia đình ông Vươn phải được biểu dương tấm gương tự xóa đói giảm nghèo, tự vươn lên trong sản xuất, là nông dân-cựu chiến binh làm ăn giỏi, nhưng nay lại bị cưỡng chế thu đất, thu đầm thủy sản, trong khi chủ nhân đứng ra thuê đất đang có nhu cầu sử dụng để tiếp tục mở rộng sản xuất, như thế thi dân chủ ở đâu?  Cũng theo Luật Đất đai 2003, đất bãi bồi thuộc đất nông nghiệp nhưng có đặc trưng riêng là quyền được phép khai hoang, thuê đất, sử dụng đất theo hợp đồng không bị phụ thuộc nhiều vào “hạn điền”. Định ra “hạn điền” cho người làm nông nghiệp, sao không định ra “giới hạn đất”, “giới hạn nhà, biệt thự, vườn sinh thái, xe cộ, mức tiêu xài”… cho các quan? Trong mục 2, điều 80 của Luật này cũng ghi rõ: “Nhà nước khuyến khích tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đầu tư đưa đất bãi bồi ven sông, ven biển vào sử dụng”. Ông Vươn có đề xuất nguyện vọng tiếp tục sử dụng đất để sản xuất mở rộng. Đúng ra, những vùng đất bãi bồi hoang hóa như thế này, khi người dân khai hoang và sản xuất có hiệu quả, nên chuyển từ thuê đất sang mô hình trang trại. Thế mà cách làm trong vụ này của chính quyền huyện Tiên Lãng vẫn ngang nhiên trái luật, vi phạm dân chủ nghiêm trọng.

Trong vụ thực hiện lệnh cưỡng chế để giải quyết đất đai quá mạnh tay và liều lĩnh, vi phạm dân chủ nghiêm trọng ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng (Hải Phòng), cả việc thực thi dân chủ và sử dụng quyền dân chủ đều đặt ra những vấn đề cần xem lại. Thử đặt vấn đề: Nếu như một mình ông Lê Văn Hiền, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, và nếu thêm một vài cán bộ chức quyền nào đó có làm được chuyện cưỡng chế “quá nặng tay” gây tai tiếng này hay không? Trước hết, những sĩ quan công an và quân đội chấp hành lệnh cưỡng chế này có cả đảng viên. Lại thêm Đảng ủy xã Vinh Quang có bao nhiêu đảng viên? Chẳng lẽ ai cũng đồng tình với việc làm sai trái của huyện hay sao? Trong vụ này, Hội đồng nhân dân huyện và xã, một loại hình hệ thống do dân bầu cử, cơ quan đại diện cho quyền lợi của người dân đã  thực hiện chức năng, nhiệm vụ, vai trò đến đâu? Rồi các đoàn thể quần chúng như đoàn thanh niên cộng sản, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ…tai sao không ai lên tiếng, tại sao không ai phản đối? Đã có quyền dân chủ, được Hiến pháp thừa nhận, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, người ta tự đánh mất quyền dân chủ. Có khi phê bình nhau lại sợ “đụng chạm”. Cấp dưới phê bình, đấu tranh với cái sai của cấp trên sợ bị trù dập, bị đì, sợ mất chức vụ, mất ghế, sợ không được cất nhắc, lên lương, lên cấp chức. Sự “dĩ hòa vi quý” đó là vì cá nhân bản thân họ, không vì dân chủ, không vì cộng đồng, “cái tôi” quá lớn đã che lấp hết. Lối an phận thủ thường vô hình trung đã thủ tiêu công lý, đánh tráo khái niệm đúng-sai, phải-trái, trắng-đen.

Nhận thức của các cán bộ, đảng viên cấp thừa hành và tại cơ sở về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thế nào? Tại sao một mệnh lệnh sai trái, một hành động sai pháp luật rành rành mà không ai lên tiếng? Vũ khí đấu tranh để bảo vệ công bằng, lẽ phải, bảo vệ chân lý ở đâu? Thừa hành mệnh lệnh mà gây ác, hoặc lờ đi trước tội ác cũng là tiếp tay cho tội ác. Những đảng viên là sĩ quan công an, quân đội, những chỉ huy dân quân là đảng viên, trước hết phải tự xem xét cái chất đảng, bản lĩnh người đảng viên thế nào, có còn xứng đáng hay không? Nhiệm vụ thứ 3 của người đảng viên là: “Luôn luôn thắt chặt mối liên hệ với quần chúng, phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng, hết lòng, hết sức phục vụ quần chúng, đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân… Phải tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng, chăm lo đời sống của quần chúng… Phải thường xuyên làm công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền, xa rời thực tế, xa rời quần chúng”.

Vụ ở Tiên Lãng, riêng cá nhân ông Chủ tịch huyện có quyền và đủ toàn quyền ra chủ trương được không? Mà khi chủ trương, mệnh lệnh sai, có hại cho người dân, thì các đảng viên thừa hành nhiệm vụ xử trí thế nào? Trong vụ này, Ban Thường vụ Huyện ủy có trách nhiệm gì không? Đã có ai dám phản ứng khi chủ trương, mênh lệnh sai, vi phạm pháp luật và dân chủ một cách nghiêm trọng? Có một nghịch lý, bất công rõ ràng mà vẫn tồn tại mọi lúc, mọi nơi: Nếu như ” quan” lợi dụng chức quyền làm sai,  vi phạm pháp luật thì hầu như chẳng sao cả, nhưng dân thì không khéo hở một chút bị quy là “lợi dụng quyền dân chủ” chống này, phá nọ (!?). Thế nhưng, rốt cục vẫn cảnh bất công, chứa chất đầy ngang trái: “Quan xử theo lễ, dân xử theo hình”, rất tỉnh bơ  bất cần soi đến Hiến pháp, pháp luật và nhất là chân lý và dân luận! Cái đà này, cho hay rằng, với cơ chế và hệ thóng bọ máy quyền lực trong xã hội như hiện nya, cho dù Hiến pháp sửa đổi có thông qua cũng chỉ nằm trên giấy mà thôi.

Lời Bác dặn còn đó: “Cái gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, cái gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Giữa ban ngày mà tung lực lượng, cả máy ủi, máy xúc đập phá nhà dân, giữa ban ngày mà công khai kéo hàng chục tấn cá trong hồ của dân, thế mà cũng gọi là “thi hành công vụ” ư? Người nào đó đọc lại câu ca dao chống xâm lược, chống phong kiến: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, liệu có đúng với hiện trạng vụ việc này không?

Có một lý giải xem ra cũng đúng với thực tế trong xã hội, hình như dân ta đã quá khổ vì các tầng áp bức của nhiều chế độ xã hội cũ, cho nên, được sống trong xã hội có dân chủ, được quyền dân chủ, nhưng vẫn còn tâm lý sợ chính quyền, sợ công an, thấy bắt bớ, giam cầm là sợ. Cho dù khi biết người đại diện cho chính quyền, mấy anh công an làm sai trật lấc, không đúng đường lối, ngược chính sách của Đảng, không đúng pháp luật, nhưng lại ít có bản lĩnh, không biết hợp sức bà con đồng lòng đoàn kết lại để đấu tranh bảo vệ quyền dân chủ của mình, cứ im lặng ngó qua cho xong chuyện, thậm chí căn răng mà chịu và tự khuyên nhau: “Họ có quyền, có thế, là người Nhà nước, dân mình thấp cổ bé họng, làm sao cho lại?”. Những cán bộ, đảng viên cấp dưới thuộc quyền thì như “thiên lôi”, chỉ đâu đánh đấy, thậm chí còn hành động như muốn lập công với cấp trên, thể hiện cái gọi là “ý thức phục tùng”. Sự nhu nhược, thiếu bản lĩnh ấy đã dẫn tới tạo điều kiện buông cho cái sai được dịp sai nặng hơn, cái ác thêm lộng hành, cửa quyền càng phát sinh. Rồi cuối cùng, người dân bị tước quyền dân chủ một cách trắng trợn.

Dư luận xã hội đã rất phổ biến một thực trạng là: “Hiện nay, it có ai quan tâm đến việc phát huy quyền dân chủ, mà chỉ nặng về thủ (giữ) cho cá nhân”. Chữ “thủ” ở đây là giữ cho riêng mình, có lợi cho riêng bản thân mình. Cá nhân chủ nghĩa thể hiện trong lối “thủ” này rất rõ nét. Cán bộ có chức có quyền do động cơ, lối sống “thủ cá nhân” mà thẳng tay vi phạm dân chủ, dọa nạt, ức hiếp, trù dập, trả thù những người dân dùng quyền dân chủ để tố cáo sai phạm. Những người này rất sợ, rất ái ngại dân chủ, tìm cách né tránh dân chủ. Bới vì, theo đường lối dân chủ thì họ không dễ dàng qua mặt quần chúng để “thủ lợi” cho cá nhân và nhóm lợi ích. Nói về dân chủ, Bác Hồ đã dạy rất chân tình, giản dị và dễ hiểu: “Dân chủ là hãy để cho người dân mở miệng”, nhưng các vị đương chức đương quyền đã “suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống” chỉ lo tìm cách bịt miệng dân, dối trên lừa dưới. Thế là thủ tiêu dân chủ. Thực tế trong các thể chế chính trị đã có nhiều bài học đau xót do mất dân chủ, đàn áp dân chủ, độ chênh lệch về công bằng xã hội tạo sự phân hóa lớn.

Còn trong các tầng lớp quần chúng cũng có những người chỉ chăm chắm lo “thủ” cho cái tôi bé nhỏ, sinh ra co lại, trùm chăn an phận, sống theo kiểu “mũ ni che tai, đèn nhà ai nhà ấy rạng”, “chuyện ai kệ ai, mặc gai trước mắt”, từ đó sinh ra hiện tượng lối sống vô cảm. Do đó, sức manh đoàn kết cộng đồng bị dần dần yếu đi, thậm chí như bị triệt tiêu. Một số vụ thấy người hành xóm, người trong cơ quan, đơn vị bị ức hiếp quá đáng, nhưng không ai ra mặt can thiệp, chuyện ai người ấy gánh, phận ai người đó chịu, đấu tranh-tránh đâu, nói có ăn nhằm gì. Hoặc không ít người quan niệm: “Họ mất chất cộng sản rồi đấy, nhưng dây vào họ làm gì, chỉ sinh phiền toái, chẳng phải đầu cũng phải tai”.

Tâm lý sợ bị trù dập, sợ trả thù, hoặc tâm lý tự ti là dân không quyền hành nên không dám lên tiếng là rất phổ biến và tai hại. Có những cán bộ, đảng viên biết là nói sai, nói và làm sẽ có hại cho dân, sẽ ảnh hưởng uy tín Đảng, nhưng ỉ vào cấp trên, nịnh cấp trên, muốn cái lợi trước mắt gì đó, mà vẫn cố tình nói liều, nói ẩu, làm sai, bao che cho cái sai. Thực hiện quyền dân chủ, đấu tranh vì nền dân chủ thực sự nhiều khi rất cần bản lĩnh, dũng khí, chính kiến rõ ràng. Những biểu hiện đó, suy cho cùng là chính mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cũng chưa phát huy quyền dân chủ của mình. Mặc kệ những đau khổ, thiệt thòi, oan khốc của người khác; mặc kệ cho sự  vi phạm dân chủ một cách trắng trợn, tưởng như được an toàn cho bản thân, gia đình, nhưng đến lúc nào đó cái nạn đến với chính mình, rồi cũng đành phải cam lòng gánh chịu.

Nếu như mọi cán bộ, đảng viên và người dân biết hưởng quyền dân chủ đã được Hiến pháp cho phép và bảo vệ, biết và dám sử dụng quyền dân chủ, có bản lĩnh, ý chí đấu tranh chống mọi sự bất công thì sẽ tạo sức mạnh tổng hợp toàn xã hội để vươn tới xây dựng được một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Có như vậy mới tránh được nguy cơ sụp đổ của chính quyền và những trở ngại khác đối với một cuộc sống công bằng và đoàn kết với cơ hội sống an khang, thịnh vượng cho tất cả mọi người. Chỉ có sự tham gia công bằng, tự do và dân chủ vào đời sống chính trị- xã hội và kinh tế của một nhà nước hay một cộng đồng mới có thể tăng cường an ninh cho cuộc sống và mỗi con người. Chỉ có đảm bảo đầy đủ các quyền con người, tôn trọng dân chủ, quản lý nhà nước có sự tham gia của người dân thì mới có an ninh cho mỗi cá nhân và cộng đồng, mới đi tới phát triển xã hội thực sự “dan chủ, công bằng, văn minh”.

Chương trình nghị sự an ninh con người tập trung vào việc giành tự do không bị đe dọa xâm lăng tới cuộc sống hay mưu sinh của con người, đó là chính trị-xã hội là kinh tế, văn hóa. Khái niệm tôn trọng quyền con người và tự do dân chủ cũng như trao quyền cho việc phát triển con người là điều không thể thiếu trong việc bảo vệ và tăng cường an ninh con người. Quá trình thúc đẩy quyền con người, phát triển con người và an ninh con người – ba khái niệm có liên quan mật thiết với nhau như là tầm nhìn cơ bản của một trật tự thế giới mới – có thể bắt nguồn từ những xã hội trong đó các giá trị dân chủ không chỉ được truyền bá mà còn được thực hiện chuẩn mực và chất lượng. Chỉ trong một nền dân chủ thì việc tôn trọng quyền con người thể hiện ở tự do thoát khỏi sợ hãi và các mối đe dọa đối với sự tồn tại cơ bản của một người; phát triển con người đặt ra yêu cầu về nguồn lực và tự do mà một người cần để phát triển tối đa tiềm năng của mình; an ninh con người đề cập đến tự do thoát khỏi nạn đói, chiến tranh, thảm họa sinh thái, những bất công, cũng như những hành động xâm phạm đến con người do chính con người đưa đến với nhau.

Tất nhiên tình hình hiện nay đã khác xưa rất nhiều. Người dân đã ý thức hơn về quyền dân chủ và thực thi quyền dân chủ của mình. Nhưng, để thực hiện được quyền dân chủ như lời Bác Hồ đã nói, để “làm cho nhân dân biết thụ hưởng quyền làm chủ, biết dùng quyền làm chủ của mình, dám nói, dám làm” thì trước mắt còn rất nhiều việc phải làm. Dân chủ thường được hiểu là quyền lực của nhân dân, nhưng quyền lực đó phải được pháp luật bảo vệ mọi lúc mọi nơi thì mới phát huy được hiệu quả, nếu không thì số đông cũng bị một vài cá nhân quyền lực trấn áp một cách vô lý và oan ức. Cho nên, khi người dân không được giáo dục, tạo điều kiện để nâng cao nhận thức “biết thụ hưởng quyền làm chủ” hợp pháp thì quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc vẫn rất khó đến được với họ.

Có một thực tế là các “quan tham” và “quan dốt” né tránh dân chủ, sợ mở rộng dân chủ sẽ nhiều bất lợi cho mình, nhất là những việc làm sai trái khó che đậy và vô cùng khó lý giải trước dân. Đó là cái mầm tư tưởng sinh ra co lại “phòng thủ” với dân chủ, dẫn tới độc đoán, chuyên quyền.

Trình độ dân trí càng thấp thì sự thiệt thòi của họ càng thêm gia tăng, cái xấu, cái ác nghiễm nhiên tự tại. Nhưng về bản chất, dân chủ liên quan chặt chẽ tới các nguyên tắc quyền con người, do đó không thể thực hiện dân chủ đầy đủ và rộng rãi nếu như không đảm bảo đầy đủ việc tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người. Ngoài quyền tham gia và quyền đại diện, dân chủ  còn có tính bao hàm, tức là quyền này có đầy đủ trong cuộc sống của công dân ở một cộng đồng, một khu vực hay một nhà nước. Cách thức để mỗi công dân đều có thể thực hiện đầy đủ quyền được tham gia là ở quyền được tự do sống theo Hiến pháp, pháp luật mà không bị thói cường quyền xâm phạm. Chỉ những người có hiểu biết cơ bản về cách thức vận hành của hệ thống và có kiến thức về các cơ chế và các tổ chức trong một xã hội dân chủ thì mới có thể đóng góp và giúp ích cho xã hội. Suy cho cùng, quyền dân chủ bị vi phạm quá nặng thì cần xem lại những lỗi hệ thống tổ chức, điều hành, quán lý xã hội.

Quá trình thực hiện cải cách hành chính gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đang được tiến hành đồng bộ, rộng rãi. Quy chế dân chủ cơ sở nhằm đảm bảo cho người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trực tiếp ở cơ sở nơi cư trú và cơ quan, đơn vị công tác. Tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng về mở rộng dân chủ, dân chủ trực tiếp được cụ thể hoá và đưa vào khá nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản của các tổ chức chính trị – xã hội. Quá trình thực hiện cải cách hành chính gắn với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đang được tiến hành đồng bộ, rộng rãi. Đặc biệt  là từ khi Chính phủ ban hành Quy chế dân chủ cơ sở xã  kèm theo nghi định 79/2003/NĐ -CP.

Dân chủ cần được thực thi đúng quan điểm, nghiêm túc, chuẩn mực, thường xuyên và có trách nhiệm, không thể chỉ bày ra như ‘cái bánh vẽ’. Dù trong bấtt cứ nội tình vụ việc, bối ảnh, diễn biến nào, đàn áp dân chủ đều thể hiện sự bất lực, kém cỏi, độc tài, tàn bạo và tồi tệ nhất của một thể chế quyền lực trong xã hội. Mọi hình thức đàn áp dân chủ hoặc dân chủ hình thức đều là sản phẩm cực kỳ nguy hại của chế độ chuyên chế toàn trị. 

Để “Quy chế dân chủ cơ sở” được phát huy rộng rãi, thực sự đi vào cuộc sống, trước hết cần thường xuyên tăng cường giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên có quan điểm tư tưởng, có lập trường cộng sản kiên định, nhận thức thật đúng đắn và sâu sắc về mối quan hệ Đảng lãnh đạo với thực thi dân chủ. Cần phát hiện và xử lý kỷ luật kịp thời và nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm dân chủ. Muốn thực hiện dân chủ xã hội rộng rãi, trước hết phải thực sự dân chủ trong Đảng. Nếu như ngay trong nội bộ Đảng cũng bị mất dân chủ, thì chẳng thể mong thực hiện dân chủ toàn xã hội. Dân chủ trong Đảng phải gắn chặt với thực hiện nguyên tắc, điều lệ Đảng, gắn với tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về dân chủ. Đối với người dân, các cấp bộ đảng, chính quyền cần khắc phục quan niệm phổ biến pháp luật qua quýt, lấy cớ, hình thức, sợ dân hiểu sâu, nắm chắc pháp luật, khó bề lách luật, lướt luật.

Cần có chính sách giáo dục nâng cao dân trí, làm cho mọi người dân đều hiểu biết sâu rộng các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ những người dân bị cán bộ đảng, chính quyền lợi dụng chức vụ, quyền hạn trù dập do đã mạnh dạn đấu tranh thực hành quyền dân chủ vì mục đích chung; đồng thời cần quan tâm khuyến khích người dân khi thu hưởng quyền dân chủ phải có trách nhiệm đấu tranh và vận động nhau xây dựng tốt đời sống văn hóa ở khu dân cư, sẵn sàng và trực diện đấu tranh với mọi hành vi sai trái, vi phạm dân chủ. Dân chủ xã hội càng đi vào lòng người thì đó là nguồn sức mạnh vô biên để xây dựng ngày càng vững chắc thể chế chính trị do Đảng lãnh đạo, cũng là thiết thực nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu, uy tín và độ bèn vững của một Đảng cầm quyền.

BVB

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/11/24/dan-chu-khong-the-la-cai-banh-ve/

Đâu là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân” vi phạm quyền dân chủ của nhân dân?

Vấn đề có lẽ không cần phải bàn vì trong một chế độ xã hội độc tài, toàn trị thì xã hội làm gì có dân chủ. Nhưng để tìm hiểu xem “rễ” nó ở đâu; “gốc” của nó như thế nào và đâu là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân” tạo nên sự mất dân chủ, nhân quyền của công dân trong xã hội tôi nghĩ cũng là chuyện cần thiết. Về vấn đề “dân chủ” đã có rất nhiều bài viết, nghiên cứu rất toàn diện, nhất là dân chủ của xã hội ta “dân chủ triệu lần hơn” chế độ tư bản chủ nghĩa. Chúng tôi chỉ góp phần làm rõ thêm một chút về cái “rễ gộc” của nó!

1. Về “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, đọc lại các văn bản Hiến Pháp Việt Nam, từ Hiến Pháp nước Việt Nam dân chủ công hòa cho đên nay, qua quá trình sửa đổi, “đổi mới”, chúng tôi thấy quyền ấy đã bị đẩy lùi dần(!). Chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ, bảo vệ “tổ quốc XHCN”, vai trò Đảng CSVN, các lực lượng giai cấp xã hội làm nền tảng quyền lực nhà nước…được đặt lên trên. Hiến pháp năm 1946, Chương “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được đặt ở chương II. Hiến Pháp năm 1959, lùi xuống chương III; Hiến pháp 1980, 1992 những quyền ấy lại lùi xuống đến chương V ! Ai là “người chủ” của xã hội? “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân ..” (Điều 2. HP). Người chủ của một xã hội như ông chủ trong một ngôi nhà nhưng  khi khách bước vào nhà ta chỉ thấy những người giúp việc còn ông chủ thì lấp ló ở phía sau. Mọi việc có những người “đầy tớ trung thành” đại diện cho ông chủ lo. Quyền của Ông chủ – người công dân xã hội chỉ có trên giấy như để làm ngoại giao với thế giới, còn trong nhà thì ông chủ ấy được “bảo vệ”, “nâng niu”, “chăm sóc, giáo dục” như đứa trẻ con. Đầy tớ bảo sao biết vậy. Cho phép làm gì  làm nấy, không được phép cãi, càng không được quyền chống đối. Đầy tớ ngồi chiếu trên; Ông chủ chầu chiếu dưới…. Khi quyền lực độc tài, chuyên chế tăng lên thì quyền công dân ngày càng lùi xuống, mất đi…

2. “Bầu cử và ứng cử” là một trong những quyền cơ bản của người công dân, nó rất quan trọng vì nó trực tiếp xây dựng nên cơ quan quyền lực nhà nước và thể hiện chủ thể quyền lực  thuộc về nhân dân. Để xây dựng cơ quan quyền lực nhà nước, Điều 54 Hiến pháp quy định- “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.”

“Quyền bầu cử, ứng cử” của công dân được Hiến pháp quy định “đàng hoàng” như vậy nhưng thực tế, công dân chỉ có “quyền bầu” chứ có phải đâu là “bầu cử và ứng cử”. Công dân “được quyền bầu” những người do Đảng lựa chọn, bố trí, sắp xếp vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Bầu cũng rất ư là “dân chủ” -“trực tiếp, bỏ phiếu kín”(!). Cũng có Hội đồng bầu cử, ban bầu cử hẳn hoi. Và những “ứng cử viên” ấy rất là “tài đức” nên tỷ lệ phiếu trúng cử thường trên 90% hoặc thậm chí 100%! Đã được dân quá tín nhiệm như vậy rồi nhưng chế độ lại cứ luôn “đấu tranh” với nhân dân. Có lẽ cuộc đấu tranh còn chưa biết “ai thắng ai” nên đảng, nhà nước ta lo sợ đủ thứ, thậm chí sợ cả cái bóng của chính mình. Chế độ nhà nước XHCN ta dân chủ “triệu lần hơn…” vậy mà cứ sợ phong trào ”dân chủ”! Đó thường là tâm lý của những kẻ có tâm địa bất chính, bất trung, bất nghĩa… Nếu xã hội ta đã thật sự dân chủ; nhân dân là người chủ chân chính của xã hội; quyền lực thuộc về nhân dân; nhà nước thực sự là “của dân, do dân, vì dân”…thì ta có gì phải sợ ai!

Ứng cử là một khâu quan trọng thể hiện quyền của người công dân mà Việt Nam ta “hào kiệt thời nào cũng có” – Ai có đủ tài đức thì tự nguyện ra giúp dân, giúp nước. Trong xã hội có dân chủ, người công dân sẽ có quyền tự do ứng cử, bầu cử; có quyền tự do chọn lựa, trao quyền cho những nguời có tài, đức và có đầy đủ quyền và tài trí của mình để giám sát, kiểm tra. Trong thực tế mấy mươi năm qua người công dân xã hội ta có quyền đó hay không? Những “ứng cử viên” luôn được đảng chọn cử trước rồi ” hiệp thương” qua tổ chức có tên là Mặt trận, một tổ chức ai cũng biết đó là của đảng. Gọi là “ứng cử viên” nhưng thật ra phải gọi là “đảng cử viên”. Đó là những đảng viên cộng sản hoặc không phải là đảng viên, nhưng tất cả phải là người đảng tin tưởng, tuyệt đối trung thành với đảng. Họ có phải là những người “tài, đức” vẹn toàn”? Đội ngũ 2 triệu đảng viên ấy có phải là “tài đức”, “tinh hoa” hơn hẳn so với hơn 80 triệu dân hay chỉ “tiền phong” vì quyền lợi của ĐCS và của riêng mình? Cái thiếu của họ là cái tâm. Họ không có cái tâm, không thực lòng, thực dạ  vì nhân dân, dân tộc, đất nước… Chính vì thiếu cái tâm trong sáng nên họ luôn ngụy trang, lấy nhãn hiệu  “nhân dân” ra để che đậy, làm bình phong để chứng minh rằng ta luôn là “của dân, do dân, vì dân”. Qua thực tế việc làm của không ít đội ngũ  đại biểu ”tài đức”, “tinh hoa” ấy trong Quốc Hội -cơ quan quyền lực cao nhất và bộ máy chính quyền các cấp nhân dân có lẽ không ai không thấy và đã “được hưởng” tài, đức của đội ngũ ấy như thế nào rồi. Từ những nguời tuổi thiếu niên cho đến những người già lão; những người ở thế gian, đang sống trong môi trường ô nhiểm, cả mặt đất đến bầu trời và mọi lĩnh vực trong cuộc sống xã hội đến những người đã không còn ở thế gian, kể cả những “liệt sỹ”!

Hiến pháp cũng quy định “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52) nhưng “nền tảng” quyền lực nhà nước lại “là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức” (Điều 2. HP). Vậy còn những tầng lớp “nhân dân” khác trong xã hội có phải là công dân, có quyền “bình đẳng, dân chủ” với nhân dân “nền tảng“ đó hay không”? Công dân trong xã hội chia thành nhiều thành phần, không bình đẳng thì làm sao quyền “bầu cử, ứng cử” của công dân được dân chủ, bình đẳng?

3. Mặt trận và các đoàn thể được gọi là tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị – xã hội dưới sự lãnh đạo của ĐCS. Đó là những tổ chức xã hội nhân dân “quần chúng” của đảng. Nếu trong xã hội dân chủ, những tổ chức ấy thuộc hệ thống xã hội dân sự, nhưng với đặc điểm của xã hội Việt Nam hiện nay nó không phải như vậy, mặt trận lại càng không phải vì trong mặt trận còn có đảng CS vừa thành viên vừa là hạt nhân lãnh đạo và quân đội nhân dân Việt Nam cũng là thành viên

Các tổ chức đòan thể: công đoàn, thanh niên, phụ nữ, nông dân và các hội, đoàn thể khác đều chịu sự lãnh đạo trực tiếp (như Đoàn TNCS), gián tiếp (đối với các tổ chức khác) – thông qua một “đảng đoàn” của ĐCS, ”là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (điều 4 HP) và cấp ủy đảng từng cấp… thì như vậy các tổ chức ấy có quyền “tự chủ” của mình hay không? Các quyền của người đoàn viên, hội viên có được bình đẳng, dân chủ như quy định trong điều lệ của từng tổ chức? Các quyền “ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp”; “chất vấn”; “kiến nghị bãi miễn cán bộ sai phạm” được điều lệ các đòan thể quy định (Điều 3. Điều lệ CĐVN ; điều 6.k3 Điều lệ HộI LHPNVN ;Điều 6.k2 Điều lệ Hội Nông Dân VN; Điều 3. K2 Điều lệ Đoàn TNCS) nhưng đoàn viên, hội viên họ có thực hiện được những quyền ấy hay không? Những chức danh “dân cử” vào các cơ quan lãnh đạo đòan thể đều được tiêu chuẩn hóa như phải là đảng viên, trình độ học vấn cao đẳng, đại học. Những tiêu chuẩn ấy đã loại trừ, tước đi các quyền của  đa số đoàn viên, hội viên. Tiêu chuẩn ấy trong thực hiện đã vi phạm điều lệ của tổ chức. Chức danh ở cấp nào cũng đều phải là cấp ủy đảng, là đảng viên, cử nhân, cao cấp chính trị. Uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ cũng đều do các cấp ủy chọn (giới thiệu), cấp ủy từng cấp thông qua trước khi đưa ra Đại hội “bầu”. Uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ của đoàn thể từng cấp, cấp ủy đã lựa chọn rồi thì cũng không được thay đổi và đảng viên trong các đòan thể ấy cũng không được tự ứng cử hoặc đề cử nếu cấp ủy không cho phép! Những sự phạm pháp, vi phạm “luật” của các đòan thể là do  đâu? Có phảI là vì đảng quản lý công tác cán bộ và lãnh đạo của các đòan thể là người của đảng đã đồng lỏa với những vi phạm ấy!?

Ứng cử, đề cử đã không dân chủ; đoàn viên, hội viên của tổ chức không có quyền bình đẳng; quyền “ứng cử, bầu cử” của mình đã bị vi phạm nên trong các Đại hội đoàn viên, hội viên,  đại biểu đại hội ( dù cũng đã lựa chọn trước qua những đại hội cấp dưới) cũng ít quan tâm vì ai cũng biết tất cả đã được “sắp sẳn”, đã vậy rồi, ban tổ chức, chỉ đạo đại hội (thường có cấp ủy kèm theo… để “lãnh đạo” lại tiếp tục “vận động” làm sao để “trúng” như đã “dự kiến”!

” Đại Hội thành công tốt đẹp” khi nhân sự được bầu bán đúng như ý đồ cơ cấu của cấp ủy đảng, nếu không đúng nhân sự, cơ cấu của cấp ủy thì…nơi đó đã có “vấn đề”, “năng lực tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo kém”(!) hoặc có ai đó không “chấp hành chủ trương”, có ý đồ “chống đảng”! Trước đây trong xã hội Miền Nam, như năm 1971, nhân dân đấu tranh chống bầu cử “độc diễn”, “gian lận” của liên danh tổng thống, phó tổng thống NVT, TVH với tỷ lệ phiếu  trúng cử 94,36% – báo chí, nhân dân Miền Nam lúc đó châm biếm gọi là dân chủ 94,36% (!) nhưng “dân chủ hình thức” thì là một sản phẩm  “độc đáo” chỉ có trong chế độ XHCN(!). “Cán bộ” và nhân dân Miền Nam đã rất bất ngờ với “dân chủ triệu lần hơn” ấy trong kỳ bầu cử Quốc Hội đầu tiên sau năm 1975 (QH khóa VI  năm 1976-1981).

Quyền ‘bầu cử”, “ứng cử” của đoàn viên, hội viên đã như vậy thì quyền “chất vấn”, “kiến nghị bãi miễn cán bộ có sai phạm”, ăn cắp, tham nhũng, hối lộ, không đại biểu cho quyền lợi của đoàn viên, hội viên… cũng chỉ là ảo tưởng. Cùng với nguyên tắc “tập trung dân chủ”, trong lề lối làm việc, quyền ấy “tập trung” vào lãnh đạo; “dân chủ” chỉ là hình thức, thậm chí có những lãnh đạo tuyên bố công khai – các ủy viên BCH phải “chịu trách nhiệm” trước Ban thường vụ, chủ tịch, trong khi những chức danh đó lại do BCH bầu ra! (cũng đúng thôi, vì những nguời đó có chức vụ đảng cao hơn mà nếu bỏ nguyên tắc “tập trung” ấy cũng là “tự sát”!). Quyền của người đoàn viên, hội viên các đoàn thể chỉ có …trong điều lệ thôi!

Từ bản chất vấn đề, cán bộ do đảng “cử”, “phân công”, “quản lý”, kể cả cán bộ đoàn thể nên “cán bộ” chỉ sợ người cho mình chức, cho mình quyền; nhân danh là đại diện nhưng tổ chức đoàn thể chỉ là phương tiện, là “bàn đạp” để cho họ nhảy lên những chức vụ cao hơn, nhất là chức vụ đảng, nhà nước. Người đoàn viên, hội viên chỉ là đối tượng bị quản lý, dẫn dắt, thực hiện “nhiệm vụ chính trị” của đảng chứ đoàn viên, hội viên đâu có quyền để “chọn lựa” người thật sự đại diện cho mình để “đại diện, bảo vệ” như chức năng, nhiệm vụ của điều lệ tổ chức ấy quy định!

4.  Xã, Phường là cấp cơ sở, trực tiếp với cuộc sống nhân dân. Năm 2009, người dân ở 500 xã trong cả nước sẽ trực tiếp bầu chủ tịch UBND xã. Đó là chủ trương làm thí điểm của đảng và nhà nước. Nhiều người cho rằng đó là sự tiến bộ trong thực hiện dân chủ. Đúng là “tiến bộ”(!) vì đảng, nhà nước không thể áp chế như trước được nữa nay buộc phải “cải cách dân chủ” nhưng chỉ ở cấp cơ sở. Đó cũng là quá trình đấu tranh dân chủ của nhân dân trong hơn 20 năm qua. Nhưng bầu trực tiếp chủ tịch xã như vậy là có dân chủ? Có khác gì trước đây? Bản chất có dân chủ hay không?

Trước đây, Chủ tịch UBND xã do Hội đồng nhân dân bầu nay dân bầu trực tiếp! Những năm qua, thực hiện pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở xã, các trưởng thôn, khu phố trưởng đã được bầu trực tiếp. Cấp Thôn, Khu phố mang tính chất “tự quản” trong thực hiện các “Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố”, còn các vấn đề khác chỉ “tham gia” và “thực hiện”. Quyền hạn có hạn chế, không có thẩm quyền như cấp xã nhưng đâu có thôn, khu phố nào mà không có chi bộ, cấp ủy đảng lãnh đạo!. Mỗi lần bầu bán là mỗi lần tốn thời gian, tiền bạc, công sức của nhân dân. Quyền dân chủ của nhân dân dù có gọi là “cảI cách” nhưng vẫn chưa thực sự   “dân chủ”; sự “ổn định chính trị “ ở cơ sở chỉ là sự “kiểm soát” và “dàn xếp” như một nhà nghiên cứu nước ngoài, TS David Koh -đã kết luận.

Về thẩm quyền nhà nước cấp xã ngày càng được giao thẩm quyền nhiều hơn. Dưới cấp xã là thôn, bản, khu phố (đã có quy chế thực hiện dân chủ cơ sở…quản rồi). Nếu bầu trực tiếp chủ tịch xã, nhân dân có quyền tự do ứng cử, bầu cử ? Các ứng viên có chương trình hành động, vận động tranh cử và có quyền để thực hiện đuợc “chương trình” ấy hay không? Hay nội dung chương trình “vận động” cũng chỉ là chủ trương, nghị quyết của đảng ủy xã? Dân có quyền đi bầu và không đi bầu nếu “ứng cử viên” ấy dân không tín nhiệm; cuộc bầu cử ấy không công bằng dân chủ? Những công dân không phải là đảng viên CS có quyền được ứng cử hay không? Quyền giám sát của nhân dân được thực hiện như thế nào hay chỉ là hình thức như hiện nay? Xã trưởng có quyền đến đâu? Có bị chi phối của cấp trên và cấp ủy đảng?

Những điều cấm của đảng cũng đã làm mất đi quyền công dân của đảng viên. Những đảng viên dân tin tưởng chưa chắc đã được đảng lựa chọn để giới thiệu, cho phép ứng cử. Với cơ chế giám sát như hiện nay nhân dân sẽ không có quyền và khả năng để có thực hiện dù cũng có nhiều hình thức “thông tin” để “dân biết” như niêm yết, loa đài, thông báo và cả báo chí, thanh tra nhân dân..nhưng công dân chưa có quyền tự do ngôn luận, mà thông tin của báo chí là một công cụ giám sát đa chiều rất là quan trọng, phản ánh, cung cấp thông tin kịp thờI cho dân lựa chọn ứng cử viên, giám sát trong quá trình vận động, bầu cử và thực thi trách nhiệm sau khi đuợc bầu. Thông tin báo chí hiện nay chỉ một chiều theo sự quản lý, lãnh đạo của đảng thì làm sao có thể “phản biện”, thông tin đầy đủ sự việc. Dân đã không biết, không có thông tin lấy gì để thực hiện quyền dân chủ của mình trong bầu cử, giám sát, kiểm tra?!.Cho nên, dù chủ tịch xã có được bầu trực tiếp thì cũng chỉ là “đổi mới hình thức dân chủ cơ sở xã” và nó vẫn là dân chủ hình thức!

Những sự vi phạm, phạm pháp ấy, gốc của vấn đề là hiện nay xã hội ta chưa có xã hội dân sự, nhân dân chưa thật sự có quyền dân chủ. Các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị xã hộI hiện nay không phải là hệ thống xã hội dân sự. Mặt trận càng không phải vì đó là tổ chức” liên minh chính trị”, “cơ sở chính trị của chính quyền”, của đảng, nhà nước; nơi thực hiện các chủ trương chính trị bằng dân chủ hình thức để xây dựng nên những cơ quan quyền lực chưa đại biểu quyền dân chủ của nhân dân. Mặt khác, tất cả quyền của người công dân, quyền của những đoàn viên, hội viên trong từng tổ chức đoàn thể xã hội, xã hội nghề nghiệp, chính trị xã hội cũng chỉ là hình thức và bị vi phạm. Quyền tư do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do nói lên chính kiến của công dân cũng chưa có thì làm sao nhân dân có quyền dân chủ?

“Nguyên nhân của mọi nguyên nhân”  là ở đâu? Đảng rất tự hào đảng là ”nguyên nhân của mọi nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(!?) thì chính đảng cũng là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân“ tạo nên sự vi phạm quyền dân chủ của nhân dân; nhân dân không có quyền lực trong thực tế. “Dân chủ hóa xã hội”, “mở rộng” hoặc “ cải cách” cũng chỉ là sự cho phép, ban ơn của ông chủ quyền lực là đảng. Khi nào đảng “trả lại quyền lực cho nhân dân”; mọi công dân được bình đảng trước pháp luật(chứ không phải có nhiều loạI công dân “nền tảng” và  “không nền tảng”); các quyền tự do dân chủ,  tự do ngôn luận, tự do lập hội được thực hiện; xã hội dân sự được thiết lập, được đảm bảo và tôn trọng lúc đó xã hội Việt Nam mới có dân chủ. Mỗi công dân mới có quyền dân chủ của mình. Mỗi đoàn viên, hội viên mới là chủ thể của đoàn thể.  Nhưng dân chủ đâu phải ngồi chờ sự ban ơn mà có!

© 2008 http://www.danchimviet.com

http://www.danchimviet.info/archives/5866/dau-la-%E2%80%9Cnguyen-nhan-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%8Di-nguyen-nhan%E2%80%9D-vi-ph%E1%BA%A1m-quy%E1%BB%81n-dan-ch%E1%BB%A7-c%E1%BB%A7a-nhan-dan/2008/08

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: