Cuối năm, thăm Lê Hiếu Đằng

Hạ Đình Nguyên-Thư gởi anh Lê Hiếu Đằng: Anh lại… “đứng lên”!  

Thụy My-“Khai trừ”Tiến sĩ Phạm Chí Dũng-người đã từ bỏ Đảng

VietTuSaiGon-Khi sức tàn lực kiệt, Cộng sản đã chọn bạo lực

Thông cáo báo chí về việc ông Lê Thăng Long tuyên bố xin ra khỏi phong trào Con Đường Việt Nam  Rfa-Nổ súng khống chế người chống đối: con dao hai lưỡi?

Cuối năm, thăm Lê Hiếu Đằng

Mai Thái Lĩnh

Trưa ngày thứ sáu 20–12–2013, tôi đến thăm anh Lê Hiếu Đằng tại Bệnh viện 115. Lúc này đã gần đến ngày Noël, khí hậu Sài Gòn mát mẻ hơn và đường phố cũng tấp nập hơn mọi khi. Cùng đi với tôi đến thăm anh Đằng là anh Hồ Hiếu – một thân hữu đã gắn bó với chúng tôi từ những ngày chưa có tên gọi “Nhóm Đà Lạt” hay “Nhóm Thân hữu Đà Lạt”.

clip_image002

Hình 1. Từ trái qua phải: Hồ Hiếu, Mai Thái Lĩnh, Lê Hiếu Đằng

Điều đáng mừng là tình trạng sức khỏe của anh Đằng đã có phần khá hơn trước – nhất là so với lúc anh trả lời phỏng vấn chương trình “Cà phê tối” của Truyền thông Chúa Cứu Thế Việt Nam (VRNs).[1] Anh đã có thể ngồi dậy trên ghế và trò chuyện với giọng nói rõ ràng, thái độ điềm tĩnh. Sự minh mẫn của anh cho thấy những gì anh đã phát biểu về việc “tự ý ra khỏi Đảng” là một hành động có suy nghĩ chín chắn chứ không phải là một hành động tự phát, nông nổi, bồng bột nhất thời. Chỉ riêng điều này cũng đủ để đập tan cái luận điệu hồ đồ về Lê Hiếu Đằng của một tác giả nào đó (?) lấy tên là “Hoàng Thu Vân” vừa xuất hiện trên tờ Hà Nội Mới: “Lúc ốm đau bệnh tật, nhất là tuổi đã cao, con người ta không sáng suốt trong suy nghĩ, trong phát ngôn âu cũng là lẽ thường”. [2]

Tôi nói là “hồ đồ”, vì anh Lê Hiếu Đằng tuy đã cao tuổi, nhưng tuổi của anh cũng không hề cao hơn tuổi của ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Và người ốm đau bệnh tật không nhất thiết là người kém sáng suốt hơn một người khỏe mạnh. Chỉ cần so sánh hai câu phát biểu sau đây: “Chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng” (Lê Hiếu Đằng) và “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (Nguyễn Phú Trọng),[3] chúng ta cũng có thể đánh giá ai là người sáng suốt hơn ai?

Cuộc viếng thăm này càng thêm ý nghĩa vì người cùng tôi đến thăm anh Lê Hiếu Đằng là anh Hồ Hiếu. Anh Hồ Hiếu người gốc Huế, xuất thân từ một “gia đình cách mạng”: là con của một cán bộ tập kết – đảng viên cộng sản, anh còn có một người em trai cũng tham gia phong trào học sinh sinh viên từ thập niên 1960 và sau đó trở thành đảng viên. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng gian truân của mình, anh đã nhiều lần ở tù, trải qua nhiều trại giam, chỉ tính riêng hai lần bị giam tại Côn Đảo cũng ngót nghét 7 năm. Mãi đến tháng 4 năm 1975 anh mới thoát khỏi cảnh ngục tù. Điều mỉa mai là sau khi bước ra khỏi các“nhà tù nhỏ” của chế độ Việt Nam Cộng hòa, anh có được một thứ “tự do” nào đó nhưng nhân dân vẫn chưa có được tự do. Dòng máu đấu tranh vẫn còn chảy trong huyết quản, thấy bất công thì không thể lặng im, vào cuối thập niên 1980 anh tham gia Câu lạc bộ những người Kháng chiến cũ do ông Nguyễn Hộ chủ xướng. Khi Đảng Cộng sản quyết định “đập tan” tổ chức đấu tranh đòi dân chủ này, ông Nguyễn Hộ bị quản thúc tại gia cho đến khi chết, còn anh bị bắt giam không xét xử trong gần một năm. Sau khi ra khỏi “nhà tù nhỏ” (lần này là của chế độ cộng sản), anh bị sa thải khỏi cơ quan dân vận và bị khai trừ ra khỏi Đảng vào ngày 27–7–1992. Vào thời đó, “khai trừ đảng” là một hình thức trừng phạt nặng nề: chẳng những bị bao vậy, cô lập về mặt tinh thần mà còn bị phong tỏa về kinh tế. Không thể tìm được việc làm trong các cơ quan Nhà nước (kể cả các trường học), anh bằng lòng với nghề dạy kèm Pháp văn để kiếm sống từ đó đến nay.

Sở dĩ tôi phải nói dông dài là để độc giả (nhất là những người đang sống ở nước ngoài) có thể thông cảm với hoàn cảnh của các đảng viên cộng sản ly khai vì lý do chính trị. Bị Đảng khai trừ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị hoặc tự ý ra khỏi Đảng để bày tỏ chính kiến của mình – trong hoàn cảnh của một chế độ độc tài đảng trị, đều là những việc làm nguy hiểm, dẫn đến những hậu quả bất lợi chẳng những cho bản thân mà cho cả gia đình mình. Đó là cả một quyết định “đổi đời” có thể khiến cho bản thân và gia đình mình rơi vào hoàn cảnh khó khăn, chẳng những mất đi đặc quyền đặc lợi mà còn có thể trở thành đối tượng theo dõi suốt đời của “bộ máy chuyên chính” kiểu Stalin hay Mao Trạch Đông.

Mặc dù chưa từng là đảng viên, tôi có nhiều mối quan hệ với các đảng viên cộng sản – kể cả những người vào Đảng từ thời kháng chiến chống Pháp cho đến những người vào Đảng trong những thập niên 1960-1970. Đặc biệt hơn, do hoàn cảnh lịch sử, tôi có cơ hội gần gũi với khá nhiều đảng viên ly khai (bị Đảng khai trừ hay tự ý ra khỏi Đảng vì bất đồng quan điểm). Chỉ tính riêng trong Nhóm Thân hữu Đà Lạt, ngay từ cuối thập niên 1980 đã có hai người bị Đảng khai trừ (nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự) và hai người tự ý rời bỏ Đảng (hai anh em Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn) – tất cả đều vì lý do chính trị. Tôi cũng đã từng được tiếp xúc, quen biết các đảng viên lão thành về sau trở thành các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như: Nguyễn Hộ, Trần Độ, Lê Hồng Hà,… Vì thế, tôi hoàn toàn thấu hiểu ý nghĩa hành động ly khai của anh Lê Hiếu Đằng – một hành động dũng cảm mà do thiếu thông tin hoặc do thành kiến, ngay cả những người yêu nước, yêu dân chủ cũng không thể thông cảm và đánh giá đúng mức.

Giữa những người như Hồ Hiếu (vì bất đồng quan điểm chính trị mà bị Đảng khai trừ) và những người như Lê Hiếu Đằng (tự ý ra khỏi Đảng để bày tỏ quan điểm chính trị bất đồng), có cả một khoảng cách về thời gian – khoảng hai thập niên. Giữa hai thời điểm đó, Đảng Cộng sản đã có nhiều chủ trương và đối sách khác nhau để dập tắt xu hướng “đổi mới chính trị” trong Đảng: từ chỗ “chống đa nguyên đa đảng”, Đảng đã chuyển sang khẩu hiệu “chống diễn biến hòa bình”, và gần đây là “chống tự diễn biến”, “chống tự chuyển hóa”. Nhưng rõ ràng là khi đưa chữ “tự” vào các cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đảng Cộng sản đã mặc nhiên thừa nhận sự thành công của phương thức đấu tranh bất bạo động nhằm chuyển hóa, thay đổi chế độ chính trị một cách ôn hòa, tiệm tiến.[4] Cuối cùng thì những gì mà các nhà bất đồng chính kiến đã kiên trì vận động suốt hơn hai thập niên vừa qua đã bắt đầu có được những kết quả ban đầu: các giá trị dân chủ, tự do chẳng những đã nảy nở, đơm hoa kết trái trên đất nước Việt Nam mà còn thâm nhập vào bên trong Đảng, khiến cho các nhà lãnh đạo thủ cựu trong Đảng phải giật mình, hốt hoảng.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là quá trình diễn biến hòa bình ngày càng có tác dụng lớn lao đó không phải bắt nguồn từ “phương Tây”, từ “Hoa Kỳ”, từ các “thế lực thù địch”, v.v. và v.v. như giọng điệu tuyên truyền của các nhà lý luận, các nhà tuyên truyền của Đảng. Ngược lại, nguyên nhân thúc đẩy quá trình diễn biến đó chính là những yếu tố khách quan và chủ quan bên trong nước và tác động của các yếu tố đó vào trong lòng Đảng Cộng sản. Các nhà lãnh đạo Đảng càng có thái độ bảo thủ, phản tiến bộ, đi ngược lại “lòng dân” bao nhiêu thì quá trình diễn biến hòa bình càng phát triển mạnh mẽ bấy nhiêu.

clip_image004

Hình 2. Nâng ly chúc mừng Lê Hiếu Đằng nhân buổi họp mặt cuối năm 24–12–2013 của Nhóm THĐL

Trở về Đà Lạt trước Noël, tôi vừa kịp tham gia cuộc họp mặt cuối năm dương lịch của Nhóm Thân hữu Đà Lạt – tổ chức vào ngày 24-12-2013. Có mặt khá đông đủ, chỉ thiếu vài anh như Bảo Cự, Diệp Đình Huyên,… Tôi tường thuật lại cuộc viếng thăm anh Lê Hiếu Đằng, nhấn mạnh hai ý quan trọng mà anh Đằng muốn gửi gắm đến các bạn ở Đà Lạt. Thứ nhất: anh Đằng cho biết đã có dự định lên Đà Lạt một chuyến để gặp gỡ, trao đổi chuyện trò với các bạn Đà Lạt, bất ngờ lại lâm trọng bệnh, phải vào bệnh viện… Và thứ hai là ý tưởng mà anh và các bạn ở Sài Gòn đang ấp ủ; đó là làm thế nào để có được một “Ngày báo chí Việt Nam” – ngày hội của tất cả những người làm báo nước ta. Nói “tất cả”, có nghĩa là bao gồm mọi nhà báo thuộc nhiều xu hướng khác nhau – kể cả tả lẫn hữu, chứ không phải chỉ riêng của phe này, phái nọ. Và tất nhiên, “Ngày báo chí Việt Nam” đó không thể là “Ngày báo chí cách mạng” – một sản phẩm thuần túy mang tính phe phái do Đảng Cộng sản nghĩ ra.

Lại thêm một mùa Giáng sinh, chuẩn bị đón mừng năm mới 2014 sắp đến. Chúng tôi cùng nâng ly rượu chúc mừng nhau, chúc mừng bạn bè thân hữu trong và ngoài nước. Và tất nhiên, quan trọng hơn cả là lời chúc mừng gửi đến anh Lê Hiếu Đằng: Chúc mừng anh vừa vượt qua cơn nguy kịch “thập tử nhất sinh” do bệnh tật! Chúc mừng anh đã vượt qua cơn “sinh tử” về sinh mệnh chính trị, vượt qua cơn dằn vặt về nhận thức để đi đến quyết định từ bỏ Đảng Cộng sản, trở về với Nhân dân!

Đà Lạt, ngày 25-12-2013

M. T. L.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

[1]http://www.ducme.tv – Cà Phê Tối: Ông Lê Hiếu Đằng: Chủ nghĩa Xã hội chỉ là ảo tưởng – 05.12.2013:

http://boxitvn.blogspot.com/2013/12/ong–le–hieu–ang–chu–nghia–xa–hoi–chi–la.html

[2] Hiện tượng Lê Hiếu Đằng và quy luật đào thải, Hà Nội mới Thứ Hai 23/12/2013:

http://hanoimoi.com.vn/Tin–tuc/Suy–ngam/654568/hien–tuong–le–hieu–dang–va–quy–luat–dao–thai

[3]Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng:“Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu”, Tuổi Trẻ 23/10/2013:

http://tuoitre.vn/chinh–tri–xa–hoi/576098/du–thao–chua–vang–vong–nhu–loi–hieu–trieu.html

[4] Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay; Tạp chí Cộng sản 22/3/2013:

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Thong–tin–ly–luan/2013/20698/Phong–chong–tu–dien–bien–tu–chuyen–hoa–trong–can–bo–dang.aspx

http://boxitvn.blogspot.com/2013/12/cuoi-nam-tham-le-hieu-ang.html#more

Thư gởi anh Lê Hiếu Đằng: Anh lại… “đứng lên”!

Hạ Đình Nguyên

Anh đã từng đứng lên, và luôn đứng thẳng. Nhưng đã bốn hôm rồi, anh đứng lên theo nghĩa cụ thể, là đứng lên và bước tới, từng bước một, với chiếc gậy mây trong tay.

Đó là điều đáng ngạc nhiên, và đặc biệt là đối với giới bác sĩ. Ai cũng phải chết, nhưng cái khả năng chẩn đoán chính xác, thì không thể! Nếu giới bác sĩ mà nói đâu cũng trúng, thì e đời sẽ mất đi cái hấp dẫn về bí mật của sự sống, mà các tôn giáo cũng bớt đi một phần kỳ vỹ vinh quang. Tôi mong cho khoa học ngày càng tiến bộ, nhưng cũng mong có cái gì đó trên cả khoa học.

Chúng tôi ngạc nhiên cứ tưởng như anh Đằng bật nắp quan tài mà đứng dậy. Tôi nhận ra một não trạng chung khá kỳ cục rằng, không mong mà vẫn đợi! Không ai mong anh chết cả, thế mà vẫn đợi nó… Cái đợi vì một nghĩa vụ muốn hoàn thành, muốn trọn vẹn trong cuộc tiễn đưa. Không ai muốn lợi dụng sự ra đi của anh để làm cái giống gì, như một số người có thể tưởng tượng. Cũng như nhiều người hiểu rằng cái chủ nghĩa xã hội, đến cuối thế kỷ chưa biết nó có hoàn thiện hay không (hình tượng là ngồi, nằm hay đứng dậy..), nhưng vẫn nên trung thành, và tỏ ra trọn vẹn cho cuộc tiễn đưa, bởi một “đức tin”, hay do tình cảm chẳng hạn.

Sớm muộn, các cuộc đưa tiễn các kiểu cũng sẽ xảy ra.

Vì trời đất là vô thường, chia ly là bất tận từng sát na, nên cung cách tiễn đưa trở nên cực kỳ quan trọng, vì duy nhất đó là điều mà nhân loại có thể làm được.

Thái độ chọn lựa “trọn vẹn” mang nhiều trăn trở ấy về các thể loại tiễn đưa, nhất là sự tiễn đưa hoành tráng và mệt mỏi từ nay đến cuối thế kỷ, có thể đắp đổi được nhiều mâu thuẫn nội tâm, của cuộc đời chứa đầy kịch tính kín đáo mà mà cũng hở hang này.

Và đó là cách ứng xử hợp lệ vẻ bên ngoài của thế gian, nhưng nào ai biết trong thâm cung bí hiểm của tâm trí là gì!

Nó giống hệt bức vẽ con cừu trong hộp kín của nhà văn phi công Saint Exupéry, để làm quà tặng cho Hoàng tử Bé vào cái lần đầu bất ngờ tao ngộ, tại sa mạc Sahara ở thế kỷ trước.

Nghĩ suy cho cùng, ai cũng có con cừu nằm/ ngồi/ đứng thế nào ấy, trong cái hộp kín của mình. Miễn sao bên ngoài cho hoành tráng là được, thí dụ như Đảng ta. Theo lời Tổng Bí thư Trọng, được sử quan nghiêm túc chép lại không sai một lời: “Một Đảng gần dân, liên hệ mật thiết với nhân dân, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Đảng như thế mới là Đảng lãnh đạo chứ!”.

Tôi vẫn luôn yêu thích cái từ “chứ!” cuối câu mà Tổng Bí thư hay dùng. Cái từ ấy rất hay, sang mà độc đáo! Hãy cảm nhận cho tinh tường. Nó đứng từ trên cao, nó phang ra tính tất yếu, nó phản biện theo cách hùng hồn. Không phải ai cũng có đủ tư cách xứng đáng để dùng, dù nó là từ ngữ chung, không ai là chủ sở hửu. Càng nghĩ, tôi càng cảm thấy thú vị bức vẽ trên của bác Tổng Bí thư, bằng hoặc là hay hơn bác phi công tài ba của thế kỷ trước, về chuyện vẽ con cừu cho Hoàng tử Bé. Khi bác phi công vẽ con cừu, con nào cũng bị hoàng tử chê, con này quá mập, con này lại ốm quá, con này nữa, sao lại giống con dê vì có hai cái sừng thế kia?… Cuối cùng, bác phi công vẽ con cừu trong cái hộp kín. Cái hộp kín làm bằng giấy cứng. Kỳ diệu thay, hoàng tử nọ nhìn ngắm, đã hết lòng hoan hỷ, và tha hồ mà ghi nhớ, cảm nhận theo ý tưởng mình. Cái hộp kín của bác Tổng Bí thư thì làm bằng chữ, một số chữ kết thành cái hộp kín, tầng tầng lớp lớp kiên cố (các chữ in nghiêng và đậm ở trên kia). Vẫn kỳ diệu không kém, vì nhiều người, trong số ba triệu người, cũng rất hoan hỷ ngưỡng mộ, tha hồ mà nghĩ tưởng theo ý mình những gì bên trong cái hộp ấy! Bác thêm từ “chứ” là từ khóa để kết thúc sự nghiệp dài hơi, là sự nhấn mạnh tuyệt vời mà vui vẻ, lại bình dân thân ái, về niềm tin, có giá trị hơn một nghìn lần sự khẳng định. Cái niềm tin về con cừu trong cái hộp kín, được chế tạo bằng chữ, không phải bằng giấy cứng. Cái hộp trước được làm vào đầu thế kỷ 20, cái hộp sau chế tạo vào đầu thế kỷ 21, nên có phần tinh xảo hơn. Tuy nhiên, cách nhau gần một trăm năm, ở hai bờ đại lục xa xôi, chỉ có hai bức họa này là thuộc hàng trứ danh nhất.

Trở lại chuyện anh Đằng.

Anh đứng dậy và đi, mà quả thực chẳng đi tới đâu! 20 m là cùng. Có nhiều người mong muốn anh đi xà quần, thế thôi! Mà đó cũng là thực tế. Có ai mong muốn anh đi đâu xa hơn, cũng không thể được. Quá lắm là xe ôm, “thồ” đến quán cà phê, đủ vui rồi!

Có lẽ cái não trạng chiến tranh còn in đậm nét trong hàng hàng lớp lớp dân ta và quan ta, cho nên cứ phải nghĩ đến hành động, và hành động. Rồi từ đó, nó tiến dần lên như là bạo động, rồi gọi trại ra thành bạo lực, lại chính cái từ mà ta đã chán chường! Trong mấy mươi năm nay, bạo lực chỉ do tưởng tượng, tưởng tượng trước, nó sanh sôi nảy nở theo sau. Bây giờ có lẽ nó râm ran đều khắp, nên lại có sự leo thang về loại hình: Nghị định chính phủ vừa ký ban hành, cho phép An ninh được bắn chết… ai đó ở đường phố, nếu…

Nói gọn theo văn chương là vậy.

Chúng ta có thể ngăn ngừa bạo lực từ trong ý thức được chăng? Bằng cách sửa lại cái “não trạng hậu chiến tranh” vốn mang đầy vết tích bạo lực từ người lớn, người trưởng thành, người chưa trưởng thành, và trẻ em, có thể tính từ trong bào thai, của thời kỳ đó kéo dài lê thê thích thú cho đến nay? Một loại “vết hằn trên lưng ngựa hoang” còn bàng bạc trong tâm thức. Cái gì có sẵn thì đều hấp dẫn. Bạo lực cũng thế. Có một câu nói trứ danh mà tôi nhớ mãi: “Chỉ có cái búa trên tay, người ta thấy mọi vật đều có dạng cây đinh”.

Anh Đằng,

Anh cũng ra đi từ chiến tranh, cũng mang những vết hằn trên lưng ngựa hoang. Anh đã từ bỏ trái tim chiến tranh sang trái tim hòa bình. Hành động ư! Cần chi chứ! (Xin lỗi Tổng Bí thư cho mượn dùng tạm chữ này một lần thôi). Chỉ nghĩ ngợi là được rồi. Nghĩ là “hành” rồi, theo nghĩa là “tác ý”. Ông Phật Thích Ca đâu có làm gì, ngài chỉ ngồi không, và ngồi ngay ngắn là đủ. Anh đã tác ý rồi. Anh đã ra khỏi Đảng, nếu không, trước đó, hay vào lúc anh hấp hối, Đảng cũng khai trừ anh thôi, vì trong Đảng không thể có một đảng viên xấu, như con cừu chạy ra khỏi hàng ngũ, dù là hắn sắp chết, nhưng không thể chết trong tư cách đảng viên không tốt. Một đảng viên, dù là chết cũng phải chết với tư cách là đảng viên tốt. Bởi bên kia thế giới, có thể Đảng vẫn tồn tại, dù không chắc ăn lắm. Biết thế, anh khai trừ Đảng, trước khi Đảng khai trừ anh. Anh khai trừ Đảng, chẳng qua là anh tự thủ tiêu tư cách đảng của mình, chứ Đảng một là thực thể đang tồn tại mênh mông sinh động. Cái việc anh từ biệt Đảng – tôi không nói là từ bỏ, rất kém lịch sự nhé – đã gây nên cuộc bàn cãi rằn ri mấy hôm nay về chủ đề này.

Trước hết là vấn đề từ ngữ, sau là cái cách.

Nên nhớ, bác Trọng là người rất giỏi và rất chú ý về ngữ pháp. Bác chỉnh sửa từng câu từng chữ, khi bàn luận về văn bản dự thảo văn kiện quan trọng thứ cấp sau Cương lĩnh Đảng. Bác ấy mong muốn, không quan trọng lắm về thực tế, mà chỉ bằng chữ nghĩa thôi, nó phải vang lên hùng hồn một cách quyến rũ nhân dân, hoặc chỉ cần thu hồn được Quốc hội để thông qua là thành công. Và bác thành công 99,59 % (hay 97,59 % cũng được). Về vụ “ra” Đảng, những từ ngữ không hòa bình lịch sự thì dứt khoát bỏ ra, phải dùng từ ngữ ôn hòa và tử tế, có nét văn chương thì càng hay: từ biệt, từ giã, chia tay, chia ly, ly dị (khắn khít quá thì cũng có thể dùng từ này), rút lui khỏi (Trung Quốc dùng từ thoái đảng, ta không bắt chước, vì phải giữ linh hồn cho độc lập), thoát khỏi (nếu thấy áp lực quá), hoặc ly khai (hơi oai đấy), hay chỉ dùng từ ra đơn thuần, cộc lốc, mà không cần diễn tả lý do, mục đích, cách thức… giống như một đứa con ngang bướng mà đầy cá tính vậy.

Hoặc, quá lắm thì im lặng, tự biến mất, chẳng cần xướng danh sự việc bởi tên gọi bằng từ ngữ nào cả.

Về trường hợp làm đơn như “đồng chí” Phạm Chí Dũng cũng vướng víu. Nó có nguồn gốc vững chắc về lý luận biện chứng: Có đơn xin vào, thì ắt có đơn xin ra. Đã làm đơn thì phải có xem xét, có chấp thuận hay không chấp thuận. Nhưng khi vào Đảng, đã có lời thề rằng sẽ hy sinh suốt đời cho Đảng, đã ký thác trọn đời, bây giờ chưa chết, cớ sao xin ra? Chỉ cái tội bất trung, không giữ đúng lời hứa trọn đời (hay hơi thở…), bất kể lý do gì khác, cũng đáng một tội trước tiên là khai trừ, chưa nói kể từ đây, các chi bộ sẽ đẻ ra rất nhiều cái xấu, tùy hoàn cảnh mà ứng dụng, triển khai ra. May nhờ cái hộp kín mà Tổng Bí thư khẳng định: “Đảng như thế mới là Đảng lãnh đạo chứ!” (tôi vẫn luôn yêu cái từ “chứ của bác Tổng Bí thư mỗi lần nghe thấy).

Nếu không phải Đảng ta là “Đảng như thế”, thì hãy nhìn sang Bắc Triều: 3 súng tiểu liên, cơ chế đạn 30 viên/súng, đồng loạt nhả đạn, với 90 viên bay ra, ghim vào thân thể, một đảng viên xấu lập tức tan thây. May quá, Việt Nam ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, tuy chưa chắc tiến tới cái chỗ ấy, cho đến cuối thế kỷ này!

Tôi không thể kết luận được vụ phức tạp này, nhưng có ý kiến riêng. Khi vào Đảng, chỉ có Đảng và ta biết. Nay ra Đảng, chỉ có ta và Đảng biết, nên lặng lẽ mà rút lui là hay nhất, chẳng ai mất thể diện. Đảng vẫn cứ đường hoàng là Đảng. Đảng vẫn hạnh phúc. Ta thì hân hạnh được làm công dân.

Nhưng cũng nên nhớ, một công dân chưa trưởng thành, vì chưa có quyền ký cái “khế ước công dân” nào để bảo kê cả. Nhớ đấy!

Anh Đằng thân mến,

Tôi nghĩ là anh chẳng nên làm cái gì ráo, chỉ đi loanh quanh thôi, rồi lại ngồi yên, mà đặc biệt nên ngồi ngay ngắn. Ngồi ngay ngắn là cực kỳ quan trọng! Nhưng thay vì thở ra, thở vào, thì hãy nghĩ cái việc “Đảng vào, Đảng ra”, nên chọn sử dụng cái từ nào cho hợp với bản sắc văn hóa dân tộc? Thế thôi! Tôi không có ý kích động, đả kích hay tán dương cái gì cả, chỉ hơi lo toan bao đồng về mặt từ ngữ, nhân dịp xuân sắp về.

Tối mai là lễ Noel. Tôi yêu cái lành lạnh của mùa này, cũng vui vui thấy màu sắc và nét cong mềm mại khó hiểu của những chiếc áo ấm, cũng còn gọi là áo lạnh.

Chúc anh đứng lên, và bước tới, không quên chiếc gậy mây!

Một người bạn.

23/12/13

H. Đ. N.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

http://www.boxitvn.net/bai/22153

« Khai trừ » Tiến sĩ Phạm Chí Dũng – người đã từ bỏ Đảng

Thông thường, người bỏ Đảng ở Việt Nam chỉ cần gửi một thông báo ra đảng cho tổ chức Đảng nơi sinh hoạt. Nhưng với việc Tiến sĩ Phạm Chí Dũng gửi đơn xin ra Đảng như một cử chỉ thể hiện sự tôn trọng và cách hành xử văn hóa, anh đã phải nhận một phản ứng ít văn hóa hơn hẳn là quy trình tổ chức “đấu tố” và khai trừ.
Ngày 25/12/2013, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã được mời đến cơ quan Ủy ban Kiểm tra thuộc Đảng ủy khối Dân Chính Đảng để nghe đọc quyết định khai trừ Đảng đối với anh, một loại “án bỏ túi” được mặc định bởi Đảng ủy khối Dân Chính Đảng – cơ quan được Đảng bộ và Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo
TS Phạm Chí Dũng cho biết, do tự xét thấy mình không hề vi phạm Điều lệ Đảng và các văn bản liên quan nên anh đã không tiếp nhận quyết định khai trừ Đảng trong cuộc họp thi hành kỷ luật đảng viên.
Anh bày tỏ quan điểm là toàn bộ các bài viết và phát ngôn của anh chỉ nhằm phản biện trung thực tình hình, cảnh báo khách quan về thế tồn vong của Đảng. Nếu Đảng vẫn duy trì thực trạng như hiện nay mà không có bất kỳ cải cách đáng kể nào, nhiều khả năng sau bốn năm nữa Đảng sẽ tự tan rã theo đúng cái cách mà tiền nhân Cách mạng tháng Mười Nga Vladimir Ilitch Lenin đã cảnh báo “Không ai có thể tiêu diệt được người cộng sản, chỉ có người cộng sản mới có thể tiêu diệt chính họ”.
Có thể xem đây là một sự kiện kỷ lục về thời gian, khi quyết định khai trừ đã hiện ra chỉ sau ba tuần kể từ khi TS Phạm Chí Dũng công bố bức Tâm thư từ bỏ Đảng và nộp đơn xin ra Đảng. Những năm trước, ông Kha Lương Ngãi – nguyên Phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng – đã phải mất đến hai năm để được thuận tình cho ra Đảng.
Việc khai trừ Đảng TS Phạm Chí Dũng xảy ra sau khi không thành công trong việc vận động anh rút đơn xin ra Đảng, đã ghi dấu một “điểm son” nữa trên gương mặt tổ chức Đảng đương đại: thay vì giải quyết đơn xin ra Đảng một cách bình thường, Thành ủy và Đảng ủy khối Dân Chính Đảng đã vin vào cớ TS Phạm Chí Dũng “truyền bá quan điểm trái với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam”, biến thành cơ sở cho việc ban hành quyết định khai trừ Đảng.
Trước khi xảy ra việc khai trừ Đảng, TS Phạm Chí Dũng đã được yêu cầu làm bản kiểm điểm để chuẩn bị cho một cuộc “đấu tố” trong đảng ủy Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM – nơi anh làm việc và sinh hoạt Đảng – với “gợi ý” về việc anh đã vi phạm điều lệ Đảng và quyết định số 47 của trung ương về 19 điều đảng viên không được làm. Đó là : “Nói, làm trái hoặc không thực hiện cương lĩnh chính trị, điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng”, và “…tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.
Khá trái ngược với sức ép của Thành ủy và Đảng ủy khối cấp trên, cuộc “đấu tố” tại Đảng ủy Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM đã mang lại kết quả 60% đảng viên dự họp không đống ý với hình thức khai trừ Đảng đối với TS Phạm Chí Dũng. Tỉ lệ 40% đồng ý khai trừ nhiều khả năng thuộc về phiếu của giới quan chức Đảng và những người có chức vụ trong chính quyền.
Nhìn lại năm 2009, đại tá, nhà văn Phạm Đình Trọng – người có một số bài viết thể hiện bất đồng quan điểm với Đảng, cũng đã bị khai trừ sau khi cấp ủy Đảng địa phương hoàn toàn thất bại trong việc vận động ông rút đơn xin ra Đảng. Thời gian của tiến trình khai trừ này là 5 tháng. Mục đích chính hành động khai trừ Đảng là người bỏ Đảng luôn phải “vi phạm điều lệ Đảng”, phải bị mất danh dự và đồng thời răn đe các Đảng viên khác không được bỏ Đảng theo.
Thông thường, người bỏ Đảng ở Việt Nam chỉ cần gửi một thông báo ra đảng cho tổ chức đảng nơi sinh hoạt. Nhưng với việc TS Phạm Chí Dũng gửi đơn xin ra đảng như một cử chỉ thể hiện sự tôn trọng và cách hành xử văn hóa, anh đã phải nhận một phản ứng ít văn hóa hơn hẳn là quy trình tổ chức “đấu tố” và khai trừ.
Dư luận sau các tuyên bố bỏ Đảng
Từ tiến trình khai trừ Đảng một cách có hệ thống và rất thiếu thuyết phục như vậy, Thụy My đã có cuộc trao đổi riêng với TS Phạm Chí Dũng về phản ứng của dư luận sau sự kiện ba đảng viên bỏ Đảng, sức ép mà những người bỏ Đảng phải gánh chịu, tâm lý thoái – bỏ Đảng trong giới hưu trí và xu thế thoái – bỏ Đảng đang diễn ra và có thể sẽ tiếp tục diễn biến với quy mô lớn hơn nhiều trong những năm tới. Xin phép được ghi lại ở đây.
Anh có thể cho biết về phản ứng của dư luận sau sự kiện ba đảng viên Lê Hiếu Đằng, Phạm Chí Dũng và Nguyễn Đắc Diên đồng loạt tuyên bố bỏ Đảng vào đầu tháng Chạp năm 2013?
Tất nhiên vấn đề nào cũng có hai mặt, sự việc nào cũng có thể phát sinh hai loại phản ứng trái ngược. Liên quan đến trường hợp có thể xem là hiện tượng mang tính chính trị – xã hội học về bỏ Đảng, dưới góc độ một người làm công tác nghiên cứu, tôi có thể rút ra khá nhiều đánh giá thú vị về vấn đề « xã hội học đảng viên » của năm 2013.
Mọi chuyện bắt đầu từ lời tuyên bố bỏ Đảng của anh Lê Hiếu Đằng. Lời tuyên bố này lại sinh ra trong bối cảnh anh Đằng đang trong tình trạng ung thư giai đoạn cuối tại bệnh viện 115. Điều rõ rệt có thể nhận thấy là sau tuyên bố này, không chỉ những anh em bạn bè thân thiết trong nhóm Phong trào học sinh sinh viên Sài Gòn, hay còn gọi là nhóm Lực lượng thứ ba, đến thăm anh Đằng, mà còn có cả nhiều người không quen biết thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội cũng đến bệnh viện để gặp và chia sẻ với người cựu tử tù chế độ cũ.
Có ít nhất một trường hợp làm tôi xúc động là một phụ nữ làm nghề buôn bán nhỏ, có tên là N.T.M.D. hỏi tôi địa chỉ nơi anh Đằng nằm để vào thăm. Sau đó chị đã viết cho tôi như thế này: “Mấy hôm nay tôi bận quá, nên không đọc tin tức. Giờ giở ra mới hay bác Đằng đang nguy đến tính mạng. Sao vậy ? Hôm tối thứ Năm ngày 10/12 tôi thăm bác vẫn tỉnh táo kia mà. Từ ông Menras André tới ông Hạ Đình Nguyên, thông tin từ ấy làm tôi lo lắng, dẫu biết rằng cái lo ấy là lo thế thôi chứ chẳng có tích sự gì. Tôi buồn quá! Nếu tôi không gặp Bác lần nào nữa chắc là tôi ân hận lắm. Tôi hứa mà chưa đi thăm bác lần thứ hai. Có khi một lần gặp bác trong đời đã làm tôi thức tỉnh? Nhưng có khi quá bé mọn thì làm gì được hở anh?”.
Theo cảm nhận của tôi, chỉ vài dòng ngắn ngủi nho nhỏ như thế đã biểu lộ tình cảm của không ít người dân với tâm tư rời bỏ Đảng của anh Lê Hiếu Đằng. Nhiều người dân đang muốn chứng nhận một sự chuyển đổi và hành động dứt khoát ngay trong nội tại người đảng viên cộng sản để giúp nhân dân có được một chọn lựa xứng đáng hơn nhiều so với thực tế.
Với bác sĩ Nguyễn Đắc Diên cũng vậy, anh ấy nhận được nhiều lời quan tâm và chia sẻ. Theo tôi biết, anh Diên là bác sĩ tư và sinh hoạt Đảng tại địa phương cùng với những đảng viên hưu trí. Anh Diên cũng đã nhận dược những lời động viên và chia sẻ của cả một số đảng viên hưu trí.
Còn phản ứng dư luận đối với Tâm thư từ bỏ đảng và đơn xin ra đảng của anh thì thế nào?
Cá nhân tôi đã nhận được gần 200 lời chia sẻ và ủng hộ trực tiếp. Nếu xem xét vấn đề này dưới góc độ thống kê xã hội học, con số gần 200 người liên hệ với tôi vào lần này gấp ba lần so với số người bày tỏ đồng thuận khi tôi viết một bức tâm thư gửi Quốc hội vào tháng 11/2013 để phản đối Dự thảo Hiến pháp, và gấp 10 lần so với số người chia sẻ với tôi khi tôi nhận quyết định đình chỉ điều tra vào tháng 3/2013.
Sau bức tâm thư từ bỏ Đảng của tôi, đáng chú ý là khá nhiều người đã liên hệ trực tiếp với tôi qua điện thoại để bày tỏ sự ủng hộ, cho dù họ thừa hiểu rằng từ lâu nay máy điện thoại của tôi không còn thuộc về quyền tự do cá nhân. Tỉ lệ người thể hiện chính kiến qua điện thoại như thế chiếm đến 50% những người liên hệ với tôi. Còn trước đây, tỉ lệ chia sẻ với tôi qua phương tiện điện thoại chỉ chiếm khoảng 20-30%, còn lại là qua email và nhắn tin – là những phương tiện có vẻ “an toàn” hơn và cũng dễ dàng “xóa dấu vết” hơn.
Một chi tiết đáng lưu tâm không kém trong phân tích là có đến 80% số người liên hệ với tôi để lại tên họ và địa chỉ rõ ràng, trong khi trước đây tỉ lệ này chỉ khoảng 40%. Sự phân tích cơ cấu này sẽ có ý nghĩa nếu liên hệ với việc trong số gần 200 người liên hệ trực tiếp với tôi, có đến 80% là người trong nước, trong đó có cả một số đảng viên hưu trí, đảng viên đương chức.
Những thống kê sơ bộ mới mẻ này cho thấy ít nhất, không khí dư luận chung đang có chiều hướng thoát dần giới hạn e ngại và sợ sệt. Nếu trường hợp của tôi luôn bị coi là “rất nhạy cảm” thì sự chia sẻ của những người đồng cảm dành cho những người như tôi lại càng đáng quý. So với hồi đầu tháng 11/2013, số người bày tỏ chính kiến với tôi qua điện thoại đã tăng gấp đôi, cho thấy mọi người không còn mấy lo sợ về việc bị ghi âm và bị cho vào “sổ đen”. Gần như trái ngược, trong họ đang phát triển tâm thế muốn chia sẻ và nhu cầu tự do ngôn luận.
Nhưng tất nhiên tôi cũng chờ đợi những phản ứng không đồng tình. Song cho tới nay, tôi thật sự ngạc nhiên là trong gần 200 người liên lạc với tôi, không có bất cứ một cuộc điện thoại hoặc tin nhắn nào mang tính chửi bới hoặc đe dọa, và chỉ có một phản ứng không đồng tình với việc tôi từ bỏ đảng. Tôi có hỏi anh Nguyễn Đắc Diên và được biết anh Diên cũng chỉ nhận duy nhất một cuộc điện thoại nặc danh, la lối và chửi bới hành động bỏ Đảng của anh. Nhưng tất cả phản ứng trái chiều cũng chỉ có thế.
Một phản ứng đặc trưng khác luôn cần được nghiên cứu và phân tích là các chiến dịch công kích, chỉ trích của báo Đảng. Tuy nhiên khác với hơn hai chục bài viết công kích anh Lê Hiếu Đằng vào tháng 8/2013 khi anh Đằng nêu đề xuất thành lập đảng Dân chủ Xã hội, cho tới nay chỉ có hai tờ báo Quân Đội Nhân Dân và Hà Nội Mới đả kích chuyện từ bỏ Đảng.
Hai thể tài phản ứng của báo Đảng và giới dư luận viên về chuyện bỏ Đảng đã gián tiếp cho thấy giới lãnh đạo Đảng đang rất lúng túng, khi tính chính danh của họ đang bị xói mòn nghiêm trọng bởi tình cảnh gần như biến mất của tính chính nghĩa. Mà đã quá thiếu hoặc không còn chính nghĩa thì làm sao có thể phản ứng mạnh mẽ và minh bạch được?
Một cuộc « điều tra xã hội học mini »
Anh có thể cho biết rõ hơn về thành phần xã hội của những người đã chia sẻ với anh và về nội dung của các cuộc trao đổi được không ?
Có nhiều tầng lớp chia sẻ với tôi như trí thức, cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, doanh nhân, tiểu thương, nông dân, dân oan đất đai, nạn nhân môi trường, công nhân, sinh viên và học sinh, người Việt ở nước ngoài, kể cả một số người đang là sĩ quan quân đội, quan chức nhà nước.
Trong đó, đông nhất vẫn là những người thuộc giới trí thức ở khu vực Hà Nội. Tôi cho rằng yếu tố phản hồi theo vùng như vậy cũng hợp lý, vì Hà Nội chính là trung tâm điểm tập trung đông đảo nhất tiềm lực trí thức, trí tuệ và cũng là nơi dễ phát sinh phản ứng đối với tư tưởng, thái độ và hành vi của đảng cầm quyền.
Đa số các phản hồi bày tỏ nỗi trằn trọc và quá đỗi bức xúc trước hiện tình hỗn loạn của đất nước, chỉ trích nặng nề đối với sự bảo thủ của giới lãnh đạo Đảng và năng lực điều hành quá kém của chính quyền. Họ tâm sự với tôi về đủ thứ, từ đạo đức xã hội xuống cấp thê thảm đến mặt bằng đạo đức của giới quan chức chính quyền trung ương và các chính quyền địa phương đã xuống đến vùng đáy, về các nhóm lợi ích và nhóm thân hữu “được Đảng dung dưỡng” đang ăn trên đầu trên cổ người dân không còn chừa thứ gì…
Một nông dân ở Ban Mê Thuột vừa khóc vừa kể cho tôi nghe là gia đình anh ấy đang bị cướp đất đến tán gia bại sản, trong khi một người bà con của anh ấy ở Đắc Lắc bị chết trong đợt xả lũ thủy điện vào tháng 9 vừa qua nhưng chẳng hề có cấp chính quyền và doanh nghiệp nào đoái hoài, thậm chí một đồng bồi thường cho nạn nhân cũng không có.
Và đây chỉ là một ít trong số rất nhiều ý kiến mà tôi nhận được (*):
V.T.T.: Tôi bỗng nhớ đến việc tôi cương quyết từ chối không làm “Đơn xin gia nhập ĐCSVN” năm 1987 và việc chồng tôi đã lặng lẽ cất bộ “Hồ sơ Đảng tịch” để lưu niệm, sau khi nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng ( năm 2001 ) và tôi tự thấy có trách nhiệm gửi cho anh đôi dòng chia sẻ.
T.T.: Tôi la một Việt kiều Úc đã xa quê hương VN hơn 32 năm. Hôm nay tôi đọc bài Tâm thư bỏ Đảng của anh, tôi thật sự rất là ngạc nhiên vì anh đã từng là đảng viên ĐCS và lại đã từng làm việc trong ngành an ninh. Anh đã làm một việc cần thiết và đúng lúc cho đất nước.
D.N.T.M.: Tôi mới đọc thông tin anh từ bỏ Đảng CS, tôi- một phụ nữ bình thường chỉ làm nghề buôn bán – hoan nghênh và ngưỡng mộ tinh thần đấu tranh giành lẽ phải cho 87 (tám mươi bảy) triệu công dân Việt Nam, vì còn lại là 3 (ba) triệu đảng viên, mà trong số 3 triệu này có MỘT BỘ PHẬN KHÔNG NHỎ đảng viên hủ nát- tham lam- ác tâm- vô trách nhiệm với dân tộc- giả nhân giả nghĩa…
D.N.: Tôi tin rằng, rất nhiều và rất nhiều đảng viên cũng bâng khuâng và trăn trở như ông, nhưng còn đang lưỡng lự, hy vọng họ sẽ mạnh dạn và can đảm hơn cùng làm một cuộc cách mạng “từ bỏ Đảng” kịp thời cứu nguy dân tộc.
Sau tất cả những ý kiến như thế, tôi lại tự hỏi đất nước này sẽ đi về đâu? Đi về đâu với một thứ hạng tham nhũng thuộc nhóm đáng lên án nhất thế giới, một nền kinh tế bị tàn phá đến cạn kiệt, một gánh nặng nợ xấu và nợ công sẽ trùm lên đầu lớp con cháu trong ít nhất hai thế hệ tới, một nền đạo lý bị băng hoại đến khó tưởng tượng và còn chưa phải là đáy?
Không ít ý kiến đã chia sẻ với tôi về tư thế độc quyền của Đảng Cộng sản hiện nay chính là tác nhân khủng khiếp gây nên nạn độc quyền kinh tế, tham nhũng và các nhóm lợi ích, khiến cho toàn bộ xã hội điêu đứng. Họ đòi hỏi phải có sự thay đổi, một sự thay đổi lớn lao và có thể gần như là một cuộc “thay máu” trong Đảng để gìn giữ những giá trị còn lại của Tổ quốc. Họ đã trắng xóa hy vọng đối với tầng lớp đảng viên đặc quyền đặc lợi hiện thời.
Nhưng cũng có một ít người vẫn còn đôi chút kỳ vọng là trong Đảng sẽ xuất hiện những nhân tố mới nào đó mà có thể phục hồi phần nào niềm tin của dân chúng, mang lại một sự thay đổi chính trị đủ lớn để sự chuyển đổi ở Việt Nam có thể gần tương tự với trường hợp Myanmar, nghĩa là sẽ êm dịu, dân chủ hơn và không đổ máu – một kịch bản mà ngay cả những nhóm lợi ích tàn nhẫn nhất cũng phải tạm hài lòng khi khó còn sự lựa chọn nào khác, nếu không muốn bị người dân “hồi tố” trong giai đoạn hậu sự.
Lại có người nói như hét vào điện thoại, chỉ trích cực kỳ nặng nề Đảng Cộng sản bằng những từ mà tôi xin không mô tả lại, và đòi phải dùng “bạo lực cách mạng” để lật đổ thể chế thối nát này… Người khác thì còn hỏi thẳng : “Sao các ông 72 (nhóm Kiến nghị 72) không lập luôn đảng mới đi? Bọn tôi sẵn sàng đi theo!”.
Tôi lắng nghe tất cả và cũng ghi nhận tất cả, với tư cách một nhà báo độc lập.
Nhưng với tư cách một công dân và với nhạy cảm riêng, tôi cho rằng không phải ngay bây giờ mà sau ba năm nữa, tôi có thể hy vọng. Nhưng chỉ là hy vọng đôi chút, vào một vài gương mặt mang sắc diện cải cách trong Đảng. Đó sẽ là những đảng viên cao cấp muốn nhắm đến mục tiêu chuyển đổi thể chế chính trị một cách ôn hòa và hợp lòng dân, đồng thời có được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nếu họ có đôi chút thực tâm vì dân tộc, chúng tôi có thể giúp họ.
Tâm trạng khủng hoảng niềm tin của đảng viên có thể dẫn tới những nhận định nào về vấn đề mà anh gọi là « xã hội học đảng viên » ngày nay?
Những ý kiến trao đổi với tôi cũng làm cho tôi có thêm xác nhận về một kết quả sơ bộ trong nghiên cứu gần đây về cơ cấu tư tưởng trong hàng ngũ đảng viên. Hiện thời có khoảng 30% đảng viên là những người không hoặc ít gắn bó với quyền lợi liên quan đến chức vụ, là những người có tư tưởng cải cách và một số là tiến bộ, mong muốn một sự thay đổi đủ mạnh và chấp nhận đa nguyên chính trị để cứu vãn đất nước.
Khoảng 50% số đảng viên khác là những người có gắn bó ở mức độ nào đấy với quyền lực và quyền lợi, theo quan điểm trung dung và phần nào mang tính xu thời. Những người này thường có tư tưởng phản ứng đối với quan điểm giáo điều và bảo thủ trong Đảng và sự yếu kém trong hệ thống điều hành của chính quyền, nhưng vì nhiều lý do đã không thể hiện sự bức xúc của mình và cũng chưa sẵn sàng cho một tiến trình cải cách.
Còn lại là khoảng 20% đảng viên – đa phần là đảng viên giữ chức vụ cao cấp trong Đảng và hệ thống chính quyền, gắn bó mật thiết với quyền lực và quyền lợi – là những người không muốn có bất kỳ một thay đổi nào, thậm chí còn làm nhiều cách để ngăn chặn, ngăn cấm sự thay đổi và các cải cách.
Tâm sự của một số đảng viên hưu trí với tôi cũng cho thấy xu hướng thoái Đảng, không sinh hoạt hoặc bỏ sinh hoạt Đảng ở nhiều địa phương hiện nay là rộng khắp và đang đi vào chiều sâu. Vào năm 2012, đã có một đánh giá của một cơ quan Đảng cho biết có đến 30-40% đảng viên hưu trí không sinh hoạt Đảng, hay nói cách khác là sâu đậm tư tưởng thoái Đảng. Trong thực tế, phản ánh của nhiều người trong giới đảng viên hưu trí cho thấy tỷ lệ thoái Đảng ở giới này còn cao hơn, có thể lên đến 50%. Trong số đó, đã có một số trường hợp làm đơn xin ra Đảng và thực tế đã âm thầm ra khỏi Đảng.
Tuy nhiên, lý do vẫn chưa xuất hiện một phong trào bỏ Đảng trên diện rộng là bởi nhiều đảng viên hưu trí vẫn lo ngại về việc bỏ Đảng sẽ làm ảnh hưởng đến gia đình, con cái của họ, và kể cả đến chế độ sổ hưu của họ. Hơn nữa, do cuộc đời họ đã gắn bó quá lâu và phục vụ cho Đảng, họ luôn bị ám ảnh bởi mặc cảm xấu hổ nếu xin ra Đảng, tức mặc nhiên từ bỏ điều mà họ đã tin hoặc đã từng tin. Ngoài ra, cũng có những người thật lòng muốn chia tay với Đảng, nhưng họ không muốn nằm trong số người ra đảng đầu tiên và càng không muốn bị số đông xem là “lạc loài”.
Nhưng thực ra, thực tế ở Việt Nam cho thấy trừ một số trường hợp bị coi là “nhạy cảm về chính trị” khi tuyên bố ra Đảng, đại đa số còn lại đều là trường hợp bình thường, thậm chí rất bình thường nếu làm đơn xin ra Đảng. Với trường hợp này, tất nhiên chi bộ, cấp ủy nơi họ sinh hoạt Đảng sẽ đặt vấn đề về quan điểm cá nhân họ, cho rằng họ “không còn tha thiết với Đảng” hoặc vì những lý do nào đó như “thiếu kiên định”.
Tuy nhiên đối với đại đa số đảng viên hưu trí, sẽ rất khó có thể xảy ra một làn sóng quy chụp chính trị như đối với những nhân vật bất đồng chính kiến. Một số người hưu trí đã ra Đảng cho tôi biết rằng tuy phải mất đến hàng năm trời để cấp ủy xem xét đơn và cố gắng thuyết phục họ ở lại Đảng, nhưng trước thái độ kiên quyết và rõ ràng của họ, cuối cùng cấp ủy cũng cho họ ra Đảng một cách hết sức lặng lẽ. Sau đó gia đình họ cũng không bị ảnh hưởng gì.
Còn vấn đề sổ hưu lại là một chuyện khác hoàn toàn, liên quan đến chính sách hành pháp chứ không dính dáng gì đến việc có ra đảng hay không, tức là chẳng liên quan gì đến phạm trù “Đảng pháp”. Do vậy sự lo ngại của một số người về hưu hiện thời về chuyện ra Đảng sẽ ảnh hưởng xấu đến chế độ hưu trí hoặc bị mất sổ hưu là hoàn toàn không có cơ sở.
Và nếu như chuyện ra Đảng không liên quan hoặc không liên quan mật thiết đến các quyền lợi kinh tế và gia đình, vấn đề còn lại là những người thực tâm muốn chia tay Đảng có vượt qua được chính giới hạn kìm tỏa trong lòng họ hay không. Tôi cho rằng sớm hay muộn, đến một lúc nào đó họ sẽ phải tự quyết định về câu chuyện này.
Bỏ Đảng : Áp lực và tâm tư
Một câu hỏi tế nhị: việc anh quyết định ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có mâu thuẫn với “lời thề” của anh và khiến anh phải chịu áp lực nào về công việc cá nhân và gia đình ?
Từ lâu nay, tôi đã nói rõ quan điểm cá nhân với gia đình tôi và với các cấp ủy Đảng là một khi Đảng không còn đại diện cho điều được coi là “giai cấp công nhân và nông dân”, không còn chăm lo cho đời sống của nhân dân, và thực tế một bộ phận lớn trong giới đảng viên cao cấp đã phản bội lại quyền lợi của người nghèo, không có lý do gì để chúng tôi phải tiếp tục trung thành với Đảng. Thay vào đó, chúng tôi sẽ tự tìm cho mình lối thoát theo lời thề “trung với nước, hiếu với dân”.
Tất nhiên sự phủ nhận lời thề cũ để chuyển hóa sang lời thề mới cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tôi và gia đình. Ở nơi em gái tôi làm việc là Đài truyền hình TPHCM, trước đây tôi có nghe việc từng có áp lực và sức ép nào đó đối với em gái tôi về quy hoạch cán bộ và công việc – một hành động kém văn hóa mà tôi đã phải phản ứng thẳng thừng. Tôi đã và sẽ nói rõ rằng em gái tôi và tôi là hai thể nhân độc lập, hoàn toàn không liên quan gì với nhau về công việc và quan hệ xã hội. Nếu ai đó muốn gây sức ép tiêu cực đối với em gái tôi vì chuyện của tôi thì đó là hành động hạ đẳng và chắc chắn tôi sẽ xử lý vấn đề này đến cùng.
Còn với tôi, dù tới nay chưa bị đặt yêu cầu về thay đổi công việc hay bị cho nghỉ việc, tôi vẫn nghĩ nếu người ta có thể dùng thủ thuật khai trừ Đảng thay vì giải quyết cho ra Đảng một cách bình thường, sẽ không có gì bảo đảm cho tương lai của bạn khi phải đối mặt với cả một hệ thống tiểu xảo.
Trường hợp đại tá, nhà văn Phạm Đình Trọng trước đây cũng là một đảng viên hưu trí và bị chèn ép bởi các tiểu xảo, như anh nói. Theo anh, tâm tư của giới đảng viên về hưu hiện thời ra sao?
Đáng tiếc là một số đảng viên kỳ cựu vẫn chưa thừa nhận rằng nguồn cơn sâu xa và cũng là nguồn dẫn trực tiếp cho tất cả cái thực trạng hỗn mang như hiện thời chính là sự thoái hóa biến chất của quá nhiều đảng  viên, từ cấp trung ương đến tận cấp cơ sở theo cái cách mà dân gian đã tổng kết “thượng bất chính hạ tắc loạn”. Rõ ràng đã có một sự khác biệt quá xa, không chỉ về thế hệ mà còn cả về cách nhìn nhận thực trạng và lối thoát giữa thế hệ đảng viên kỳ cựu với những người như tôi, và có thể càng xa cách hơn nhiều nếu so với lớp công dân có độ tuổi từ 30 trở xuống.
Một trong những điều tâm sự sâu lắng nhưng cũng dữ dội nhất mà tôi thường bày tỏ với những đảng viên lão thành là “Đảng bây giờ không còn như Đảng ngày trước”. Tôi cho rằng đó cũng là tâm trạng chung của nhiều người như tôi khi cố gắng làm cho lớp đảng viên lão thành cảm thông với khổ nạn mất hoàn toàn lý tưởng của lớp trẻ. Và một khi không còn lý tưởng thì phải làm gì?
Những người như tôi, nếu không thể tìm được xác tín hay cụ thể hơn là niềm tin ở lớp người đi trước, thì chỉ còn biết tự nghĩ ra cách để tự cứu mình. Cứu mình và cũng là giúp đỡ những người xung quanh. Tôi tự hỏi nếu các đảng viên lão thành bị rơi vào hoàn cảnh của những nông dân bị mất đất, bị cướp đất, hay bị nhân viên công lực đối xử thô bạo ngoài đường phố hoặc phải chịu một cái án oan nào đó giữa thanh thiên bạch nhật, hẳn là họ sẽ không thể bằng an mà bàn luận về lý luận chủ nghĩa xã hội hay về “một bộ phận” nào đó đảng viên đang thoái hóa biến chất. Mà họ sẽ có cái nhìn khác hẳn, bởi khi đó những bức xúc tự thân sẽ chi phối và có thể lấn át lý trí.
Chẳng hạn tôi biết một đảng viên cao cấp từng giữ một vị trí cao trong ngành cao su, khi về hưu vẫn thường đi phổ biến nghị quyết Đảng cho các chi bộ. Nhưng khi nhà ông này bị một dự án làm đường của chính quyền địa phương cắt hết một phần ba, ông đã phẫn uất đến nỗi đòi mang xăng đến trước trụ sở Ủy ban Nhân dân thành phố để tự thiêu.
Một làn sóng thoái, bỏ Đảng trong tương lai ?
Hiện tại là như thế… Còn có thể có những thách thức nào đối với giới đảng viên hưu trí trong tương lai?
Ở Việt Nam hiện nay, giới hưu trí với rất nhiều đảng viên đang phải đối mặt với cơn đột biến co thắt túi tiền, mà rất có thể sẽ đồng pha với khả năng từ thắt chặt đến vỡ quỹ lương hưu trong một tương lai không quá xa. Bất chấp việc cho đến nay vẫn chưa có bất cứ hạng mục nào được gỡ bỏ trong số 432 loại phí và lệ phí – được hiểu một cách trung thực như núi thuế trút lên đầu dân chúng, ngân sách quốc gia vẫn ngồn ngộn dấu hiệu cạn kiệt.
Tình thế hiểm trở như vậy càng trở nên hiểm nghèo hơn khi vào năm 2012 đã lần đầu tiên manh nha thông tin về khả năng quỹ lương hưu có thể vỡ vào năm 2030. Nhưng đến nửa cuối năm 2013, dù bị giới tuyên giáo trung ương cố gắng ngăn chặn, thông tin từ những cuộc hội thảo của giới chuyên gia và không ít quan chức có trách nhiệm vẫn cho thấy nguy cơ đó đang đến gần, thậm chí rất gần. Không cần phải chờ đến năm 2030, nếu trong ba, bốn năm tới vấn đề thu ngân sách không được cải thiện – tức tiền thuế thu từ dân không đủ để chi cho các công trình xây dựng cơ bản của nhà nước mà thường lãng phí ít nhất vài chục phần trăm và làm giàu thêm cho các nhóm lợi ích – những người về hưu sẽ phải nhìn nhận một thực tế đớn đau là quỹ lương dành cho họ sẽ bị biến thành một trong những nạn nhân đầu tiên của chế độ thẳng tay cắt xén.
Bài học hậu Liên Xô vẫn còn nguyên giá trị. Trong thời kỳ hỗn loạn nhất về kinh tế cùng vô số nhóm lợi ích thi đua trục lợi, giá trị lương mà giới hưu trí và các công thần của chế độ xô viết nhận được chỉ bằng một nửa, thậm chí 1/3 so với giá trị trước đó. Cũng trong bối cảnh đó, các nhóm lợi ích đã mặc sức tăng giá để khoét sâu hơn nữa nỗi khốn quẫn đau đớn của lớp người nghèo khó. Sau đó và khi đã không còn đủ kiên nhẫn trung thành với chế độ, chính những người về hưu đã phải hàng hàng lớp lớp nắm tay nhau tuần hành phản đối ngay trên Quảng trường Đỏ.
Đó chỉ là một minh họa nhỏ cho thấy sự phân hóa xã hội và bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam đã gần đạt tới vùng cao trào. Tầng lớp cai trị đã quá xa cách và hầu như chẳng còn đếm xỉa đến thực trạng đen tối của giai tầng dân đen. So với thời điểm gần bốn chục năm trước, Đảng hiện nay chỉ còn mang bóng hình và hơi thở của các nhóm lợi ích. Mà như thế thì những đảng viên còn chút lương tâm làm sao có thể gìn giữ một cách mù quáng lời thề trung thành với Đảng?
Và làm sao mà những người về hưu ở Việt Nam vẫn có thể giữ được vẻ bình thản như giờ đây, nếu như sau ba, bốn năm nữa họ chỉ nhận được tiền hưu bằng một nửa hay một phần ba giá trị hiện thời? Họ sẽ làm gì khi đó?
Tôi cho là không còn cách nào khác, nếu họ thấy tất cả những kiến nghị hay khiếu nại đã không còn tác dụng gì nữa đối với tầng lớp quan chức vô cảm, họ sẽ phải hành động. Một trong những hành động sẽ là biểu thị thái độ không chỉ bằng lời nói, mà là ra đường, là xuống đường. Còn cách biểu đạt khác mang tính phẫn nộ không kém là những người về hưu bức xúc nhất sẽ thẳng thừng chia tay Đảng.
Nhưng thực tế cho đến nay số người tuyên bố công khai bỏ Đảng vẫn còn rất ít. Anh có cho rằng làn sóng thoái – bỏ Đảng sẽ tiếp nối và diễn ra một cách bền vững?
Dù ít người công khai nhưng thực tế nhiều năm qua đã có khá nhiều người âm thầm bỏ Đảng.
Còn những năm tới, vấn đề cơm áo gạo tiền sẽ quyết định tất cả tương lai khủng hoảng hay không khủng hoảng nền kinh tế ở Việt Nam, có hay không một cuộc khủng hoảng chính trị. Đơn giản là nếu nền kinh tế được phục hồi dù chỉ 10% so với mặt bằng hiện nay, sẽ không có con sóng bỏ Đảng nào cả. Khi đó, hệ thống tuyên truyền một chiều sẽ đẩy thành tích 10% ấy lên gấp ba lần. Khi đó, người dân và các đảng viên sẽ tiếp tục chấp nhận tồn tại trong một trạng thái mỏi mòn hy vọng, dù biết rõ hy vọng đó có thể chẳng kéo dài được bao lâu.
Thế nhưng với rất nhiều dấu hiệu suy thoái đã và đang mở ra đề dẫn cho khủng hoảng kinh tế, lòng người không thể cầm cự được nữa. Thời điểm cuối năm 2013 đang chứng kiến những tín hiệu suy sụp của khối ngân hàng bởi nợ xấu, xu hướng thoái vốn khỏi ngân hàng và cuộc tranh luận quá căng thẳng về thông tư 02 của Ngân hàng Nhà nước liên quan đến trích lập dự phòng rủi ro. Suy sụp lại dễ dẫn đến đổ nát và do vậy sẽ ảnh hưởng hầu như trực tiếp đến quỹ lương hưu.
Không ít đảng viên am hiểu đang đặc biệt lo ngại về cái tương lai không hề xán lạn ấy. Một số người đã nói công khai với tôi về ý định bỏ Đảng của họ, bởi thời gian qua họ đã thoái Đảng.
Chỉ vài ngày sau sự kiện ba đảng viên bỏ Đảng vào tháng 12/2013, một người quen trong giới nghiên cứu cho tôi biết là một giáo viên chính trị có thâm niên và có học vị tiến sĩ cũng muốn công khai bỏ Đảng. Còn một người dân kể cho tôi là người bạn của anh ta đang muốn vào đảng nhưng đã dừng lại nguyện vọng miễn cưỡng ấy.
Chưa kể đến số phản hồi ủng hộ và chia sẻ trên các trang mạng mà bạn bè cho tôi biết, tôi cho rằng chỉ với mối tương tác trực tiếp mà tôi đã nhận được, có thể đánh giá rằng không ít người đang mang tâm tư thoái Đảng và bỏ Đảng, và có thể lấy ngày 4/12/2013 khi anh Lê Hiếu Đằng tuyên bố rời Đảng là một dấu mốc cho một làn sóng thoái Đảng và bỏ Đảng trong những năm tới.
Một khi cơm áo gạo tiền trở thành vấn đề sống còn của con người thì không một kỷ luật hoặc sự đe dọa nào của tổ chức Đảng còn có thể níu giữ hoặc ràng buộc được các đảng viên, đặc biệt đối với khối đông đảo đảng viên không dính dáng đến đặc quyền đặc lợi.
Với câu chuyện ba đảng viên bỏ Đảng vào tháng 12/2013, tôi không cho rằng sự việc này sẽ gây ra một tác động trực tiếp đối với số đảng viên hiện thời. Nhưng đang và sẽ là một tác động tâm lý tiềm ẩn và có chiều sâu hơn. Tác động đó cần có độ trễ, sau khi đã có tiền lệ. Độ trễ như vậy thường mất từ sáu tháng đến một năm.
Vì vậy tôi cho rằng khả năng vào nửa cuối năm 2014, khi những dấu hiệu bất ổn và tan vỡ của nền kinh tế trở nên rõ rệt hơn hiện thời, một bộ phận lớn trong giới đảng viên hưu trí và kéo theo cả một số trong giới đảng viên đương chức sẽ thấy cần phải chọn lựa điều gì là đỡ xấu hơn trong một hoàn cảnh ngày càng tồi tệ. Hoặc nếu chưa thể chọn lựa cái tốt hơn, họ sẽ có thể bày tỏ thái độ chính trị dứt khoát hơn. Khi đó họ sẽ quyết định, và làn sóng bỏ Đảng sẽ có thể khởi động một cách mạnh mẽ hơn, có thể tiến đến cao trào vào hai năm 2017 và 2018.
Đó cũng là hai năm mà có thể xảy ra một biến động chính trị đủ mạnh và có ý nghĩa lớn lao.
Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.
(*) Thụy My xin phép viết tắt tên, bỏ dấu tiếng Việt và sửa một ít lỗi chính tả trong nguyên văn các góp ý.
Được đăng bởi vào lúc 19:23

Khi sức tàn lực kiệt, Cộng sản đã chọn bạo lực

Tue, 12/24/2013 – 16:03 — VietTuSaiGon

Khi con thú trở nên yếu đuối, hành động nó chọn thường nhật là tấn công bất kì con vật nào đến gần, vì làm như thế, nó sẽ thấy an toàn, tính mạng bớt bị đe dọa… Còn con người, mà nói xa hơn một chút là chế độ chính trị do con người thiết lập ra, suy cho cùng, nó cũng có sinh mệnh tập thể của nó, và một khi tự thấy mình trở nên yếu đuối, què quặt, lựa chọn của nó cũng đầy tính bản năng. Ở những thể chế độc tài, lựa chọn hành động của chúng có khi còn tệ hơn cả cầm thú.

Theo tin một số báo trong và ngoài nước: Việt Nam vừa ra nghị định, nói rằng, từ ngày 1 tháng Hai năm 2014, người thi hành công vụ có quyền bắn người chống đối cán bộ làm nhiệm vụ. Nghị định này là kết quả của luật đã được ban hành trước đây, nay có vẻ được thúc đẩy thi hành.

Nghị định có nội dung rằng, người thi hành công vụ được sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ để phòng vệ, khống chế, bắt giữ người chống đối. Biện pháp đặc biệt được áp dụng là cho phép nổ súng.

Một pháp lệnh của Quốc Hội CSVN ban hành hồi năm 2011 quy định “quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ”, nêu ra các điều kiện và trường hợp để “người thi hành công vụ” được phép “sử dụng công cụ hỗ trợ khi ngăn chặn người đang có hành vi đe doạ trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, bắt giữ người theo quy định của pháp luật, thực hiện phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật”.

Đến tháng ba năm nay, người ta thấy Bộ Công an loan báo “đề xuất, nếu thấy hành vi chống đối sẽ gây hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho mình hoặc người khác, cán bộ thi hành công vụ thì “được nổ súng trực tiếp vào người và phương tiện vi phạm…”

Bây giờ, nhà cầm quyền Hà Nội vừa ra nghị định mang số 208/2013/CP-NĐ ban hành ngày 17/12/2013 cho quyền các loại lực lượng võ trang của chế độ, đặc biệt là Công an Cảnh sát bắn người dân. Tuy nói rằng họ chỉ được phép nổ súng trong các trường hợp “cần thiết”, “cấp bách” và căn cứ “tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và từng trường hợp cụ thể”.

Từng có nhiều tranh luận sôi nổi trên báo chí ở Việt Nam về các lệnh nói trên của nhà cầm quyền, đặc biệt là những âu lo về những kẻ “bảo vệ pháp luật” nhưng lạm dụng võ khí để bắn người bừa bãi mà không bị truy cứu trách nhiệm giết người.
Đã có rất nhiều vụ công an lạm dụng quyền hạn đã bắn người bừa bãi dù người ta không có hành vi đe dọa tính mạng hay nguy hiểm gì cho ai.

Nghị định này gây nên nhiều quan ngại. Trong thời gian qua, công an Việt Nam liên tục bị tai tiếng trong nhiều vụ vô cớ bắt người, đánh người, trong nhiều trường hợp dẫn đến tử vong.

Từ đầu năm 2013 đến nay, ít nhất đã có 10 người chết trong đồn công an sau khi họ bị bắt giữ và bị tra tấn. Nạn nhân mới nhất là Y beo Ksor đã chết dọc đường khi được đưa từ nhà giam của Công an tỉnh Đắc Lắc đến bệnh viện đa khoa của tỉnh ngày 14/12/2013 vừa qua.

Và cái nghị định đầy sát khí, mỗi con chữ của nó đều tanh tưởi mùi máu này nói lên điều gì? Nó cho thấy nhà nước Cộng sản Việt nam đã thật sự sợ hãi! Vì sao nói rằng nhà nước Cộng sản Việt Nam sợ hãi? Và vì sao để giải quyết sợ hãi, phải nổ súng?
Ở phần câu hỏi vì sao nói rằng nhà nước Cộng sản Việt Nam sợ hãi, có lẽ không cần phân tích gì nhiều cũng dễ dàng nhận ra nguyên nhân sợ hãi của họ. Bởi lẽ, xét về cục diện chung của thế giới, họ đã quá lạc hậu, kiểu hành xử man rợ về an ninh xã hội, tham lam, tàn ác về mặt kinh tế và bầy hầy về mặt văn hóa của tập hợp quyền lực độc tài này đã làm cho người dân hoàn toàn thất vọng, mất hẳn niềm tin vào họ.
Đặc biệt, kiểu quản lý chèn ép theo qui luật cá lớn nuốt cá bé để cướp trắng tài sản, đất đai của nhân dân cộng với hàng hàng lớp lớp quan chức Cộng sản đè đầu cưỡi cổ, sống phè phỡn trên nỗi thống khổ của nhân dân đã vô hình trung tạo ra nhiều thế hệ dân oan Việt Nam. Và với kiểu giáo dục nhồi sọ chính trị, tẩy não trí thức của họ đã làm cho phần đông trí thức phản tỉnh, suy tư về vấn đề dân chủ, về con đường và tương lai của dân tộc… Tất cả những biểu hiện và hiện tượng trong nhân dân đều cho ra một hệ quả khó tránh: Nhà nước ộng sản Việt Nam phải sụp đổ trong một ngày rất gần!

Và một khi thấy trước nguy cơ sụp đổ nhưng không thể cứu vãn được tình thế, máu côn đồ, máu độc tài sẽ trổi dậy để duy trì quyền lực, quyền lợi phe nhóm. Những biểu hiện trong mười năm trở lại đây từ việc bắt người vô cớ rồi đánh chết trong quá trình tạm giam, nhân viên dân phòng hành hung người lao động không ngoại trừ phụ nữ và trẻ em, các nhóm công an tấn công người biểu tình ôn hòa chống bành trướng Trung Cộng, bắt nhốt các blogger, các cây bút dân chủ, bắt nhốt những nhà đấu tranh nhân quyền…

Tất cả các hành vi này đều xuất phát từ động cơ sợ hãi, mà nỗi sợ hãi lớn nhất có tính phổ quát, chi phối toàn bộ hành vi của họ chính là: Sợ dân chủ, sợ văn minh!
Và, vì sao sợ dân chủ, sợ văn minh, người ta phải sử dụng đến súng và bạo lực? Câu hỏi này mới nghe tưởng là thừa và ngớ ngẩn, đó là qui luật, cần gì bàn thêm! Nhưng không phải thế, có cả ngàn lẻ một phương thức để điều chỉnh bộ máy quản lý cho thích hợp/thích nghi với điều kiện tiến bộ xã hội mà không tốn bất kì viên đạn nào, không tốn bất kì giọt máu nào của nhân dân cũng như không tổn hại đến bất kì sự tín nhiệm nào (nếu có!)… Ở đây, nhà nước Cộng sản Việt Nam đã không chọn các phương thức tối ưu, họ đã chọn ngay phương pháp bạo hành và man rợ. Vì sao?

Vì ngay từ những ngày đầu thành lập, họ đã chọn con đường bạo động và cướp bóc. Cuộc nổi dậy đầu tiên của đảng Cộng sản là một cuộc cướp chính quyền, sau đó là những thủ đoạn thanh trừng, giết hại hàng loạt các đảng phái khác để đi đến độc quyền lãnh đạo miền Bắc. Rồi sau đó là hàng loạt các cuộc thanh trừng giữa nội bộ trung ương đảng Cộng sản, mãi đến những năm sau 30 tháng Tư 1975, mức độ và thủ đoạn trong thanh trừng càng tàn ác gấp bội lần bởi nó hàm chứa cả yếu tố trả thù và sự mặc cảm về văn hóa.

Bởi ngay từ đầu, sự nghiệp của đảng Cộng sản Việt Nam được đặt trên nền tảng bạo lực nên càng về sau, tính bạo lực cũng như tập khí của họ càng phát triển theo chiều hướng này. Và bạo lực cũng là sở trường, là kim chỉ nam trong hành động lãnh đạo đất nước của họ.

Chính vì những yêu cầu lãnh đạo hàm chứa yếu tố bạo lực quá cao đã dẫn đến một hệ thống “công bộc” hoạt động dựa trên nguyên tắc bạo lực, không cần biết phải trái, đúng sai, pháp luật chỉ là cái vỏ bọc chứa bên trong những hành vi khát máu… Khi hữu sự, người Cộng sản dùng ngay đến sở trường (mà cũng là bản chất) của họ.

Thử đặt lại vấn đề, nếu không cho phép sử dụng bạo lực, không cho phép đụng chạm đến phẩm hạnh của công dân và hàng loạt các chế tài được đặt ra nhằm hạn chế vấn đề bạo lực, lúc này, công an sẽ làm được trò trống gì? Và đặc biệt, nếu tuân thủ và hành động đúng pháp luật, các lực lượng dân phòng tồn tại có ý nghĩa gì nữa hay không?

Câu trả lời là không, lực lượng dân phòng sẽ không làm được bất kì việc gì, ngay cả việc hiểu về pháp luật họ cũng không làm được nốt. Bởi vì với kiến thức nền của họ đã hỏng tận gốc, rất khó để đào tạo, và nếu có đào tạo tốt chăng nữa thì cũng rất khó để mở mang trí tuệ cho họ, khả năng tiếp thu họ đã bị chai lì vì bản năng bạo lực, cây gậy, nắm đấm đi trước, suy nghĩ (nếu có) đến sau. Với lực lượng công an cũng vậy, chỉ có bạo lực thì họ mới hoạt động trôi chảy, mới là công an Cộng sản!

Lần này, đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn đúng sở trường, bản chất của họ, đó là trao cho công an quyền phát huy đến tận gốc bạo lực: Bắn!

Nhưng đó là lựa chọn của đảng Cộng sản. Còn lựa chọn của nhân dân thì như thế nào? Cũng không lâu nữa đâu, chính nhân dân sẽ trả lời cho nhà nước Cộng sản biết rằng lựa chọn của họ là đúng hay là sai lầm!

http://www.rfavietnam.com/node/1899

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: