Hoàng Sa: Hiến chương LHQ không cho phép thụ đắc lãnh thổ bằng bạo lực

+Tội Ác của Tư Bản(HQ3)

Ý chí, kiến thức và hành động –Dương Danh Huy  Tại sao VNDCCH im lặng khi Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa ?/Tuần Việt Nam/ Vietnamnet/ -Biển Đông: Việt Nam được mất gì nếu kiện Trung Quốc?/Tùng Đinh- Văn Việt thực hiện

Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban biên giới Chính phủ nói về thuận lợi và khó khăn của Việt Nam nếu kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.

Thạc sỹ Hoàng Việt-Từ Hoàng Sa nghĩ về tương lai Biển Đông

Lê Phan – Gây sự quá sớm (DĐTK)- Tokyo dọa dùng võ lực chặn tàu Trung Quốc tại Senkaku/Điếu Ngư  (RFI). Giải mã căng thẳng Nhật-Trung  (RFI). – Đến lượt Nhật Bản lên án Trung Quốc cấm tàu cá nước ngoài vào Biển Đông (RFI). – Nhật Bản dọa dùng võ lực ngăn chặn tàu Trung Quốc xâm nhập lãnh hải (LĐ).  – Nhật Bản thề bảo vệ lãnh thổ trước các vụ xâm phạm (TTXVN).  – Nhật Bản lên án quy định mới về đánh cá của Trung Quốc.(anhbasam)

Hoàng Sa: Hiến chương LHQ không cho phép thụ đắc lãnh thổ bằng bạo lực- thuymyrfi

Bài đăng : Thứ hai 13 Tháng Giêng 2014 – Sửa đổi lần cuối Thứ hai 13 Tháng Giêng 2014 
Gần đến ngày kỷ niệm 40 năm Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 19/01/1974, đã có nhiều hoạt động của các giới trong và ngoài nước nhân sự kiện này. Chẳng hạn chương trình “Nhịp cầu Hoàng Sa” quyên góp cho thân nhân các tử sĩ trong trận hải chiến oai hùng, chương trình “Minh triết làm chủ Biển Đông” nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, truyền thông về biển đảo. Và gần đây nhất có thể kể lá thư gởi Liên Hiệp Quốc do Quỹ Nghiên cứu Biển Đông và nhóm Biển Đông tại Pháp.
Tuy chỉ mới đưa lên mạng vào tối thứ Bảy 11/1, đến 5 giờ chiều nay theo giờ Việt Nam sau hai ngày đã thu thập được khoảng ba ngàn chữ ký, với chữ ký của các nhân vật tên tuổi như giáo sư Ngô Bảo Châu, tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà văn Nguyên Ngọc, Vũ Thư Hiên…
Tiến sĩ Lê Trung Tĩnh tại Paris
13/01/2014

Lá thư muốn nhắc lại sự kiện lịch sử bi thương ngày 19 và 20/01/1974, quân Trung Quốc đã tấn công và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa sau trận hải chiến ác liệt với Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Đồng thời cũng khẳng định tầm quan trọng của việc thượng tôn luật pháp quốc tế, tố cáo hành động xâm lược của Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình.

Thư kêu gọi: “Hãy cùng chúng tôi làm tất cả cho một thế giới hòa bình, ổn định, công bằng, và chúng ta chỉ có thể xây dựng một thế giới như vậy khi mỗi quốc gia tôn trọng luật pháp quốc tế”.

Trong thông cáo báo chí, nhóm khởi xướng thiết tha: “Từ 40 năm, Việt Nam bị cướp một phần lãnh thổ, Việt Nam đổ một phần máu thịt. Tuy nhiên theo luật quốc tế, chủ quyền Hoàng Sa vẫn thuộc Việt Nam. Hiến chương Liên Hiệp Quốc không cho phép thụ đắc lãnh thổ bằng bạo lực. Với điều kiện người Việt Nam phải luôn nhắc với thế giới hành vi cưỡng đoạt của Trung Quốc, luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Và tìm mọi cách yêu cầu Trung Quốc đưa tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án Công lý Quốc tế”. Đồng thời nhấn mạnh: “Một tiếng nói có thể nhỏ, nhưng một triệu âm thanh sẽ làm thay đổi thế giới”.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với tiến sĩ sĩ Lê Trung Tĩnh, trường đại học Cầu Đường quốc gia Pháp ở Paris, là một trong những người chủ xướng sự kiện này.

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20140113-van-de-hoang-sa-hien-chuong-lien-hiep-quoc-khong-cho-phep-thu-dac-lanh-tho-bang-bao-

Ý chí, kiến thức và hành động

“… Mặc dù việc giành lại Hoàng Sa là rất khó khăn, hiện nay người duy nhất có thể làm cho chúng ta mất chủ quyền là chính chúng ta”. Tiếp tục chuyên đề 40 năm Hải chiến Hoàng Sa, Thanh Niên Online xin giới thiệu bài viết của tiến sĩ Dương Danh Huy, một nhà nghiên cứu Biển Đông sống tại Anh.

Chuyên đề 40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Ý chí, kiến thức và hành động
Bãi Xà Cừ (phải) trong nhóm Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa – Ảnh Google Maps

Chuyên đề: 40 năm hải chiến Hoàng Sa

Cần loại bỏ những quan niệm lệch lạc và hão huyền

Cho tới nay Trung Quốc đã chiếm đóng nhóm An Vĩnh thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 60 năm, và đã đánh chiếm nhóm Lưỡi Liềm (còn gọi Nguyệt Thiềm), tức là đã xâm lăng toàn bộ Hoàng Sa, 40 năm.

Có quan niệm cho rằng bị một nước mạnh hơn chiếm đoạt lãnh thổ, nhất là sau bấy nhiêu năm, thì coi như là đã mất chủ quyền, chúng ta hãy chấp nhận và quên đi. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà một trong những niềm tự hào đáng kể nhất chúng ta có là tinh thần quật cường chống ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ, thì quan niệm đó có sai sót. Nếu so sánh với các dân tộc khác thì cũng khó tự hào về quan niệm đó. Thí dụ, người Tây Ban Nha sau nhiều thế kỷ vẫn đòi chủ quyền đối với Gibraltar, người Argentina sau vài thế kỷ vẫn khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Falklands/Malvinas. Không những thế, quan niệm đó là không phù hợp với thế giới hiện đại hay với việc Hiến chương Liên Hiệp Quốc không cho phép thụ đắc chủ quyền lãnh thổ bằng bạo lực. Mặc dù Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa bằng bạo lực, theo luật quốc tế thì chủ quyền vẫn thuộc về Việt Nam trừ phi chúng ta bị cho là đã bỏ rơi chủ quyền đó.

Ngược lại, cũng có quan niệm cho rằng tới ngày nào Trung Quốc bị loạn lạc thì chúng ta sẽ đánh chiếm lại Hoàng Sa. Thứ nhất, quan niệm đó là hoang tưởng. Không biết tới ngày nào thì Trung Quốc mới loạn lạc đủ để cho chúng ta có thể chiếm lại và giữ Hoàng Sa. Thứ nhì, tư duy “chờ sung rụng” đó chỉ làm cho chúng ta thụ động thêm, với hệ quả là Hoàng Sa ngày càng xa thêm.

Chúng ta cũng phải biết rõ về những khó khăn thực tế trong việc giành lại Hoàng Sa. Giải pháp quân sự là không thể, giả sử như nếu có thể thì chắc chắn sẽ là rất đắt, và đó là chưa nói đến trên nguyên tắc thì sẽ không phù hợp với thế giới văn minh. Trong tương lai có thể thấy được, giải pháp ngoại giao song phương với Trung Quốc cho Hoàng Sa chỉ là hy vọng hão huyền.

Dựa vào chính mình

Giải pháp ngoại giao đa phương cho Hoàng Sa cũng vô cùng khó khăn. Trong khi thế giới có thể phê phán Trung Quốc về chủ trương hiện thực hóa đường chữ U trên Biển Đông, và trong khi một số nước trong khu vực có thể phản đối các động thái của Trung Quốc trong khu vực Trường Sa, thì đối với Hoàng Sa chủ yếu là Việt Nam sẽ đơn độc trong cuộc đối kháng với Trung Quốc. Trong tranh chấp đảo, các nước bên thứ ba thường không quan tâm về lý lẽ chủ quyền của các bên trong tranh chấp, và thường chọn vị trí trung lập. Vì vậy, không có nước bên thứ ba nào lên án việc Trung Quốc đang chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực. Trung Quốc cũng không bị nước bên thứ ba nào lên án khi họ tăng cường đàn áp ngư dân Việt Nam từ năm 2009 nhằm đẩy các ngư dân này ra khỏi vùng biển Hoàng Sa. Trong tương lai, khi Trung Quốc xây cất thêm trên đảo và khai thác khoáng sản trong vùng biển Hoàng Sa, khả năng là Việt Nam sẽ đơn độc trong phản đối. Không những thế, không loại bỏ được khả năng trong tương lai các nước ASEAN khác sẽ gây áp lực đòi Việt Nam rút vấn đề Hoàng Sa xuống khỏi bàn nghị sự, để cho ASEAN có thể đi đến thỏa thuận nào đó với Trung Quốc về những tranh chấp khác.

Vì Trung Quốc không chấp nhận để cho bất cứ tòa án quốc tế nào phân xử tranh chấp Hoàng Sa, hiện nay cũng không có điều kiện cho giải pháp pháp lý.

Tóm lại, chúng ta không thể nào dựa vào niềm tin Trung Quốc sẽ đàm phán về Hoàng Sa và sẽ có nhượng bộ, và cũng không thể dựa vào niềm tin các nước khác sẽ hỗ trợ chúng ta nhiều. Điều chúng ta cần phải nhìn nhận là trong vấn đề Hoàng Sa chúng ta phải dựa vào chính mình hơn cả so với trong những tranh chấp biển đảo khác.

Dựa vào chính mình không thể là dựa vào ngư dân kiên trì bám biển Hoàng Sa. Ngư dân và gia đình của họ là những con người bằng da bằng thịt. Dù dũng cảm đến bao nhiêu, họ khó có thể chịu đựng mãi tình trạng tàu thép và đạn đồng Trung Quốc đè người. Có thể một ngày nào đó họ sẽ không còn bám biển Hoàng Sa nổi nữa.

Dựa vào chính mình là mỗi người chúng ta, từ cá nhân đến nhân viên nhà nước và lãnh đạo cao nhất, phải làm điều đúng và đúng với nghĩa vụ của mình để làm cho đất nước tốt hơn. Đất nước càng tốt thì khả năng đấu tranh cho Hoàng Sa càng cao. Chúng ta không quên rằng việc Trung Quốc chiếm nhóm An Vĩnh, Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa, cũng như một số đảo của quần đảo Trường Sa, đã xảy ra trong những ngày tháng khó khăn của Việt Nam.

Dựa vào chính mình cũng là nhà nước và người dân quan tâm phải làm những gì cần thiết và có thể trong những gì liên quan trực tiếp đến Hoàng Sa.

Ý chí và kiến thức

Điều cần thiết để chúng ta bảo vệ chủ quyền Việt Nam, cần thiết cho danh dự của mỗi người chúng ta, cũng như cho nghĩa vụ vủa chúng ta với các thế hệ trong tương lai, là ý chí, kiến thức và những hành động cần thiết.

Về ý chí, chúng ta phải giữ vững ý chí của mình, và phải giáo dục cho thế hệ sau giữ vững ý chí của họ. Chúng ta cần phải xây dựng một ý chí quốc gia về Hoàng Sa. Thế nhưng có lẽ trong 40 năm qua Hoàng Sa vẫn chưa có vị trí xứng đáng trong nền giáo dục, tâm thức của chúng ta. Nếu chúng ta quan niệm rằng 40, 60 hay 100 năm là quá lâu thì chúng ta có thể noi gương những dân tộc khác vẫn giữ vững ý chí của họ về đòi lại lãnh thổ, dù là sau hàng trăm năm.

Kiến thức về lịch sử và địa lý Hoàng Sa sẽ làm cho Hoàng Sa gần gũi với chúng ta hơn, và sẽ giúp cho chúng ta giữ vững ý chí. Chúng ta sẽ thấy Hoàng Sa không phải là những đảo xa vô nghĩa mà là những kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp, với xương máu của tổ tiên và thế hệ cha, anh.

Kiến thức pháp lý sẽ là cần thiết để chúng ta tranh biện về Hoàng Sa trên các diễn đàn học thuật, chuyên gia và truyền thông quốc tế, và hy vọng một ngày nào đó sẽ là trước một tòa án quốc tế. Chúng ta không nên chủ quan rằng thế giới sẽ thấy một cách dễ ràng rằng chính nghĩa là thuộc về ta, mà chúng ta phải xây dựng khả năng tranh biện ở mức cao nhất, và phải bỏ công sức ra để tranh thủ dư luận. Đặc biệt, chúng ta phải xử lý một cách triệt để những nghi vấn phía đối phương có thể đặt ra cho lập luận của chúng ta. Như một thí dụ, việc Pháp tạm im lặng một thời gian khi tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn phái Lý Chuẩn đem pháo thuyền đến Hoàng Sa tuyên bố chủ quyền năm 1909 có ảnh hưởng gì đến chủ quyền Việt Nam hay không? Hay là, khi Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại thì chính thể đó có phải là một chủ thể trong luật quốc tế có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền lãnh thổ, và bao gồm cả đối với Hoàng Sa, hay không?

Làm đúng với nhiệm vụ và biến sự quan tâm thành công việc

Về mặt đối nội thì nhà nước cần có chính sách để xây dựng ý chí, kiến thức và khả năng tranh biện, tranh thủ dư luận quốc tế. Về mặt đối ngoại thì nhà nước cần có chính sách hiệu nghiệm để duy trì chủ quyền và giữ cho thế giới không quên rằng Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền, để cho thế giới không ứng xử như thể Hoàng Sa là của Trung Quốc.

Tuy Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ các đảo 40 năm, họ chỉ mới bắt đầu tiến hành siết chặt sự kiểm soát trong vùng biển lân cận từ năm 2009. Trong những năm tới, họ sẽ tiếp tục siết chặt thêm sự kiểm soát và mở rộng vùng họ kiểm soát như vết dầu loang. Điều đó có nghĩa nhiệm vụ của chúng ta đối với Hoàng Sa không chỉ là duy trì chủ quyền để một này nào đó có thể giành lại sự quản lý đã mất trên đảo, mà còn là đấu tranh để chống lại nỗ lực của Trung Quốc để siết chặt và bành trướng sự kiểm soát trên biển.

Dựa vào chính mình cũng là dùng những phương tiện mình có. Như một thí dụ, vì Trung Quốc hoàn toàn không đếm xỉa đến các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam liên quan đến chủ quyền đối với Hoàng Sa, Việt Nam nên công khai yêu cầu Trung Quốc ra tòa. Mặc dù chắc chắn Trung Quốc sẽ không chấp nhận ra tòa, việc đó cũng làm cho thế giới thấy họ sợ lẽ phải và dựa vào bạo lực. Nếu Trung Quốc thật sự tin rằng không tồn tại tranh chấp Hoàng Sa, họ cần dũng cảm để cho tòa xét có tồn tại tranh chấp hay không.

Đối với các cá nhân thì người quan tâm nên vừa đặt vấn đề nhà nước có thể làm gì cho Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông, vừa đặt vấn đề bản thân mình có thể làm gì. Nhà nước thi hành đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Hoàng Sa là cần thiết, nhưng không đủ. Sự quan tâm của người dân là cần thiết, nhưng không đủ. Nói cho nhau nghe Hoàng Sa là của Việt Nam là cần thiết nhưng không đủ. Phải có đủ người quan tâm biến sự quan tâm của mình thành sự sáng tạo, công sức, hành động, hay thành những đóng góp khác cho tranh chấp Hoàng Sa, nhất là trên trường quốc tế.

Mặc dù Trung Quốc đã xâm chiếm một phần của Hoàng Sa khoảng 60 năm, và phần còn lại 40 năm, mặc dù việc giành lại Hoàng Sa là rất khó khăn, hiện nay người duy nhất có thể làm cho chúng ta mất chủ quyền là chính chúng ta. Và chúng ta phải giữ vững ý chí và duy trì chủ quyền đó bằng kiến thức và hành động, bằng cách làm đúng với nhiệm vụ của mình, và bằng cách biến sự quan tâm thành đóng góp thiết thực.

Trong trận hải chiến Trafalgar, khi hạm đội Anh đối đầu với hạm đội phối hợp Pháp – Tây Ban Nha mạnh hơn, đô đốc Anh Horatio Nelson đã giăng lên soái hạm một khẩu hiệu không lời hay chữ đẹp, chỉ với câu “Nước Anh mong đợi mỗi người sẽ làm nhiệm vụ của mình”. Trong bối cảnh tranh chấp Hoàng Sa nói riêng, và bối cảnh của đất nước nói chung, Việt Nam cần mỗi người chúng ta làm đúng với nhiệm vụ và sự quan tâm của mình để cho đất nước tốt hơn, cũng như về những gì liên quan trực tiếp đến tranh chấp biển đảo.

Dương Danh Huy

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

>> Tài liệu Trung Quốc về Hải chiến Hoàng Sa: Tưởng Giới Thạch không hợp tác với đại lục?
>> Tài liệu Trung Quốc về Hải chiến Hoàng Sa: Lần đầu hé lộ về vũ khí
>> Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân (kỳ 4)
>> Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân (kỳ 3)
>> Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân (kỳ 2)
>> Hải chiến Hoàng Sa qua hồi ức một cựu quân nhân (kỳ 1)
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 6: Không quân Việt Nam Cộng Hòa lên kế hoạch giành lại Hoàng Sa
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 5: Bỏ mình vì nước
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 4: Nổ súng chống giặc
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 3: Tương quan lực lượng
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 2: Hành quân giữ đảo
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140112/y-chi-kien-thuc-va-hanh-dong.aspx

Tại sao VNDCCH im lặng khi Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa ?

Dân Luận: Trong đợt kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc tấn công chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, nhiều sự thật lịch sử đã được báo chí chính thống của Nhà nước Việt Nam đưa ra ánh sáng, kể cả những vấn đề xưa nay không được nói tới như “Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958″.

Hôm nay VNN, tờ báo mạng lớn nhất Việt Nam đã đăng phỏng vấn ông Dương Danh Dy, nguyên Tỗng lãnh sự VN tại Nam Ninh, một nhà nghiên cứu lâu năm về Trung Quốc về đề tài Hoàng Sa. Ông Dy đã nêu rõ quan điểm của đảng và chính phủ VNDCCH trong vụ Trung Quốc tấn công chiếm đóng HS tháng 1-1974.
Cách đặt câu hỏi của Phóng viên và các câu trả lời của ông Dương Danh Dy đều gợi cho độc giả nhiều suy nghĩ đau xót về một giai đoạn lịch sử của dân tộc
(Đề bài do Dân Luận đặt)
.

Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa“Tôi có thể khẳng định rằng các thế hệ đàm phán của Việt Nam đều không bao giờ cắt đất cho Trung Quốc cả. Nhưng cũng còn những chuyện khác do hoàn cảnh lịch sử…”

LTS: Nhân kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa, 19.1.1974, có một băn khoăn của nhiều người là tại sao lúc đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại không lên tiếng.

Có phải chăng như sử gia Nguyễn Đình Đầu đã nghĩ rằng tình đồng chí giữa những người Cộng sản lúc đó còn lớn hơn lãnh thổ?

Tuanvietnam có cuộc phỏng vấn với nhà nghiên cứu Trung Quốc lão thành Dương Danh Dy – người có may mắn biết được nội tình câu chuyện.

Có một câu hỏi mà nhiều người thắc mắc là, hồi Trung Quốc đánh Hoàng Sa đầu năm 1974, tại sao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại không lên tiếng phản đối? Và, đối với một số người, thậm chí còn đặt vấn đề nặng hơn là Việt Nam lúc đó đã nể, sợ Trung Quốc. Thậm chí không ít người còn chỉ trích Ban Lãnh đạo Việt Nam lúc đó còn đặt tình đồng chí cao hơn lãnh thổ quốc gia?

Tôi xin nói rằng đó chính là câu hỏi mà tôi cũng thắc mắc cách đây 40 năm, khi còn là một tổ trưởng theo dõi quan hệ Việt – Trung. Tất nhiên, tôi phàn nàn với mấy anh bạn đồng nghiệp thôi. Nhưng không hiểu sao, ông Nguyễn Cơ Thạch, lúc đó là Thứ trưởng Ngoại giao, nghe được, và cho gọi tôi lên gặp ông.

Ông Thạch, vốn rất quý tôi vì biết rõ tính ngay thẳng của tôi, đã nói luôn:

“Dy ơi, sao cậu dại thế! Đất nước đã thống nhất chưa? Thống nhất đất nước so với việc Trung Quốc chiếm nửa Hoàng Sa thì cái nào lớn hơn?

Cậu có biết rằng viện trợ của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu dành cho chúng ta chủ yếu đi qua đường nào? Rồi cậu chắc biết hơn những người khác rằng Trung Quốc viện trợ cho chúng ta như thế nào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ…

Thế mà bây giờ, vì cái chuyện Hoàng Sa, mà đằng nào họ cũng chiếm của Việt Nam rồi, chúng ta lên tiếng, đã không làm được gì còn ảnh hưởng tới sự nghiệp lớn hơn.”

Lúc đó, ông Thạch chỉ nói cho tôi đến thế thôi, và tôi cũng thông.
Ảnh vệ tinh đảo Quang Hòa (Duncan) – nơi bắt đầu trận hải chiến Hoàng Sa 1974Đến tháng 4.1975, khi chúng ta giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta đã đồng thời giải phóng luôn những hòn đảo ở Trường Sa, tôi mới ngã ngửa người ra rằng Ban lãnh đạo Đảng ta quả thật là tài tình, và quá hiểu Trung Quốc.

Vì sao? Việc không nói để không ảnh hưởng tới sự nghiệp thống nhất đất nước thì rõ rồi. Nhưng việc không nói còn làm cho Ban Lãnh đạo Trung Quốc chủ quan, nghĩ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi nhẹ vấn đề biển đảo mà không tìm cách đánh chiếm luôn quần đảo Trường Sa nữa.

Tôi có đọc được một tài liệu của Trung Quốc nói rằng họ tiếc tại sao trong đầu năm 1979, khi tấn công Việt Nam, lại không chiếm luôn những hòn đảo mà Việt Nam chiếm giữ thuộc Trường Sa đi.

– Tức là theo ông, nếu chúng ta lên tiếng khi họ đánh quân Việt Nam Cộng hòa năm 1974, họ sẽ cảnh giác hơn và có khi chiếm luôn Trường Sa từ Việt Nam Cộng hòa?

Tôi nghĩ vậy. Trong lúc chúng ta tập trung quân trên bộ trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung Quốc sẽ thừa cơ chiếm các đảo.

Hơn nữa, có khi chuyện này còn ảnh hưởng tới sự nghiệp thống nhất đất nước ấy chứ. Chắc anh còn nhớ vụ Pháp, thông qua Tùy viên Quân sự – Tướng Vanusseme, định can thiệp với Đại tướng Dương Văn Minh – Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cuối Tháng Tư năm 1975, về khả năng đưa quân Trung Quốc vào Việt Nam, chứ?

– Vâng.Nhưng tôi muốn hỏi thêm rằng lúc đó ý niệm về biển đảo của chúng ta có rõ ràng như hiện nay không, hay vẫn mơ hồ?

Ý thức rằng Hoàng Sa là một phần lãnh thổ Việt Nam là bất di bất dịch. Ngay cả thời gian trước khi Trung Quốc đánh Hoàng Sa, trên bản đồ của họ đã vẽ rành rành cái đường lưỡi bò, và chúng tôi bên ngoại giao có phản ứng lại họ, hỏi tại sao trên bản đồ của Trung Quốc lại vẽ đường lưỡi bò. Họ mới giải thích, đấy là của bọn Quốc Dân Đảng vẽ thôi, chứ Đảng Cộng sản Trung không cho chuyện đó là nghiêm túc, nhưng có điều họ dứt khoát không bỏ cái đường lưỡi bò đi.

– Đường lưỡi bò có trên bản đồ của họ từ lúc đó?

Từ năm 1947, thời Quốc Dân Đảng, đường lưỡi bò bắt đầu xuất hiện trên bản đồ chính thức của Trung Quốc. Khi chính quyền cộng sản lên nắm quyền vào 1950, đường lưỡi bò vẫn tiếp tục tồn tại trên bản đồ cho đến nay.

Nhân chuyện Hoàng Sa, tôi muốn hỏi ông về mối nghi ngờ đây đó trong dân chúng rằng, khi đàm phán biên giới trên bộ, Việt Nam đã chịu mất đất. Với tư cách là người nghiên cứu kỹ Trung Quốc và quan hệ Việt – Trung, ông có thể trả lời được không?

Tôi có thể khẳng định các thế hệ đàm phán của Việt Nam đều không bao giờ cắt đất cho Trung Quốc. Nhưng cũng còn những chuyện khác do hoàn cảnh lịch sử…

Ví dụ, có một thời gian để viện trợ cho Việt Nam đánh Mỹ, mỗi đêm Trung Quốc có 500 chiếc ô tô để chở vũ khí, hàng hóa hay lương thực, nhu yếu phẩm cho Việt Nam, và những xe này phải về ngay trong đêm để không ảnh hưởng đến chuyện khác.

Muốn vậy, phải làm đường cho tốt, và chỗ biên giới giáp nhau nếu làm theo đúng biên giới Trung Quốc thì đường phải đi vòng, hoặc qua đèo lội suối, nhưng để làm việc đó chúng ta đã để cho Trung Quốc được thuận tiện làm đường cho ngắn nhất, đơn giản nhất. Đến lúc sau này khi đàm phán với Trung Quốc, họ bảo đường của họ đến đâu thì đất của họ ở đấy.(!)

Hay, trong thời gian đó, từ năm 1966, Trung Quốc tiến hành Cách mạng Văn hóa, một số người Trung Quốc trốn tránh đấu tranh áp bức của Hồng Vệ Binh truy đuổi, chạy sang Việt Nam, và chúng ta đã cho nương nhờ theo nghĩa “đồng chí”, cấp đất cho họ ở. Từ đó đến nay, làng xóm hình thành, mồ mả có, và khi đàm phán Trung Quốc nói dân của họ ở đâu thì đất Trung Quốc đến đấy.(!!!)

Vấn đề biên giới Trung – Việt chỉ có chuyện từ khi Trung Quốc tiếp đón Nixon năm 1972, và Việt Nam phản ứng dữ dội lại, từ đó Trung Quốc mới dùng vấn đề biên giới tác động. Chứ trước năm 1972, biên giới Trung – Việt cơ bản là biên giới hữu nghị và hòa bình.

Cám ơn ông.

Huỳnh Phan (thực hiện)

http://danluan.org/tin-tuc/20140113/tai-sao-vndcch-dong-y-de-trung-quoc-chiem-quan-dao-hoang-sa

Biển Đông: Việt Nam được mất gì nếu kiện Trung Quốc?

Tùng Đinh- Văn Việt thực hiện

Ảnh bên:Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban biên giới Chính phủ bên cạnh tấm bản đồ Việt Nam và Biển Đông tại nơi làm việc – Ảnh: Tùng ĐinhTiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban biên giới Chính phủ nói về thuận lợi và khó khăn của Việt Nam nếu kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.

Gần đây, dư luận xuất hiện nhiều thông tin về thời điểm thuận lợi để Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế với các vấn đề liên quan đến Biển Đông đã tới.

Phóng viên VTC News phỏng vấn Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ để làm rõ hơn về nhận định này cũng như các thuận lợi và khó khăn nếu Việt Nam bắt đầu vụ kiện.Trả lời VTC News, Tiến sĩ Trục nói: “Việt Nam hoàn toàn có căn cứ để kiện Trung Quốc về việc giải thích và áp dụng sai Công ước về luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc. Chúng ta có căn cứ pháp lý, có sự đồng tình ủng hộ của quốc tế, đặc biệt là các chuyên gia pháp lý quốc tế”.- Thưa Tiến sỹ, ông đánh giá thế nào về việc Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế được nhắc đến trên một số phương tiện truyền thông thời gian gần đây?

Đúng là thời gian vừa qua một số phương tiện thông tin nói rất nhiều đến việc Việt Nam nên kiện Trung Quốc  ra các Cơ quan tài phán quốc tế do đã và đang có những hoạt động vi phạm Luật pháp quốc tế, xâm hại đến lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông.

Theo tôi, có những điểm cần chú ý hiện nay là sự quan tâm và lo ngại của dư luận, trước hết là ở cộng đồng người Việt Nam trong và ngoài nước, về những gì đang diễn ra ở Biển Đông, xâm phạm đến các quyền và lợi ích chính đáng của các nước trong khu vực, có nguy cơ gây nên những xung đột vũ trang.

Những diễn biến này chủ yếu là do Trung Quốc gây nên, bất chấp phản ứng của dư luận, xem thường các nguyên tắc của Luật pháp quốc tế.
Bên cạnh đó là sự đồng tình ủng hộ của dư luận đối với chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình của Nhà nước Việt Nam và việc đưa tranh chấp lên các cơ quan tài phán quốc tế giải quyết là một trong những biện pháp khả dĩ.

Sự đánh giá cao của dư luận về những chứng cứ của Việt Nam trong việc chứng minh và bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam trong Biển Đông cũng là một điểm cần chú ý.

Và cuối cùng là vai trò của các cơ quan tài phán quốc tế, của các tổ chức của Liên Hợp quốc trong việc giải quyết những tranh chấp, xung đột khu vực quốc tế đang được dư luận ghi nhận.

Công chúng đang kỳ vọng vào vai trò của các tổ chức này trong bối cảnh quốc tế phức tạp hiện nay, đặc biệt là tình hình căng thẳng đang xảy ra trong khu vực Biển Đông.

Nếu chấp nhận kiện Trung Quốc, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thuận lợi và khó khăn gì trước tòa án quốc tế thưa ông?
Nếu chấp nhận kiện TQ ra cơ quan tài phán quốc tế, VN sẽ có nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít những khó khăn thách thức.

Về thuận lợi:

Như trình bày ở trên, Việt Nam có chính nghĩa, có các căn cứ, chứng cứ lịch sử và pháp lý để chứng minh và bảo vệ cho các quyền và lợi ích chính đáng của mình  trước thực trạng tranh chấp do Trung Quốc  đã dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Quan điểm pháp lý về quyền thụ đắc lãnh thổ của Việt Nam đã được hầu hết đọng đồng quốc tế ủng hộ, tán đồng.

Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền của mình đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ khi chúng còn là đất vô chủ, ít nhất là từ thế kỷ XVII.Việc chiếm hữu ,thực thi chủ quyền này là thật sự, liên tục, hòa bình, rõ ràng và hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc của Luật pháp và thực tiễn quốc tế.Việt Nam có đầy đủ các chứng cứ lịch sử có giá trị và căn cứ pháp lý để chứng minh và bảo vệ chân lý đó.

Ngoài ra, Việt Nam là thành viên của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Việt Nam là thanh viên có trách nhiệm trong việc chấp hành nghiêm túc các quy định của Công ước này thể hiện bằng những hoạt động thực tế trên các lĩnh vực pháp lý, ngoại giao, khai thác và bảo vệ các nguồn tài nguyên sinh vật, không sinh vật, bảo vệ môi trường, giải quyết các vùng chồng lấn thông qua đàm phán hòa bình với các nước liên quan.

Chính vì vậy, Việt Nam có đủ điều kiện để có thể kiện các thành viên đã cố tình giải thích và áp dụng sai Công ước, xâm phạm đến các quyền và lợi ích chính đáng của mình và các thành viên khác trong khu vực. Chắc chắn chúng ta sẽ nhận được đồng tình ủng hộ của cộng đồng khu vực và thế giới.

Nhưng bên cạnh đó vẫn có những khó khăn:

Trước hết, phải thấy rằng về mặt thủ tục pháp lý, để thưa kiện lên các cơ quan tài phán quốc tế và được các cơ quan tài phán này thụ lý là phải tuân thủ các quy định rất chặt chẽ.

Không phải bất kỳ một vu việc nào đều có thể đơn phương thưa kiện.

Chẳng hạn, nếu kiện về việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, về phân định ranh giới biển, thềm lục địa thì các bên liên quan phải có thỏa thuận bằng văn bản mới đệ trình lên cơ quan tài phán quốc tế và mới được thụ lý.

Và điều này chính là một trở ngại rất lớn cho chúng ta, không phải ta đơn phương muốn là được. Như mọi người đều đã biết, Trung Quốc luôn luôn quay lưng lại với thiện chí này, tìm mọi cách để cản bất kỳ một vụ kiện nào, vì chủ trương của họ là không muốn quốc tế hóa vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Mỗi một khi quyết định thưa kiện, chúng ta cũng còn cần phải chuẩn bị rất kỹ, không những về thủ tục như nói trên mà còn phải chuẩn bị lý lẽ, chứng cứ pháp lý, chuẩn bị điều kiện vật chất, nhân sự, phải tìm hiểu thật kỹ thành phần cơ cấu tổ chức nhân sự của cơ quan tài phán mà mình sẽ đệ đơn kiện.

Điều quan trọng là phải cân nhắc giữa lợi và bất lợi, đặc biệt là hậu quả về mặt pháp lý, chính trị, kinh tế, thậm chí cũng phải sẵn sàng chấp nhận phán quyết bất lợi cho chúng ta.

– Là chuyên gia về biên giới, ông đánh giá thế nào về các căn cứ của Việt Nam nếu tham gia vụ kiện này?

Nếu xét trên phương diện pháp lý và căn cứ vào tính chất của từng vụ việc có thể thưa kiện để được cơ quan tài phán quốc tế thụ lý.

Chẳng hạn như việc kiện về đường biên giới ‘lưỡi bò’ đến nay vẫn bị phía Trung Quốc hợp thức hóa, xuất phát từ việc cố tình giải thích và áp dụng sai công ước của Liên Hợp quốc về biển năm 1982.

Việt Nam có thể kiện Trung Quốc bởi vì, theo quy định của Liên Hợp quốc, việc có thành viên giải thích và áp dụng sai Công ước biển, các bên liên quan không thể đi đến thống nhất sau khi đàm phán thì có quyền đơn phương kiện lên các cơ quan tài phán quốc tế.

Philippines đã làm như vậy trong vụ kiện với Trung Quốc. Nhiều người vẫn nhầm lẫn, Manila kiện Bắc Kinh về tranh chấp chủ quyền các quần đảo, bãi cạn hay đường biên giới trên biển.

Nhưng không phải, họ kiện Trung Quốc giải thích và áp dụng sai Công ước về biển năm 1982.

Việc giải thích và áp dụng sai này được thể hiện ở đường biên giới ‘lưỡi bò’ chiếm 85% diện tích Biển Đông mà Trung Quốc đơn phương vô lý đưa ra. Bắc Kinh liên tục có những động thái để hợp thức hóa đường biên giới vô căn cứ này.

Đầu tiên là đưa ra khái niệm về đường biên giới ‘lưỡi bò’ sau khi Việt Nam và Malaysia nộp hồ sơ lên Tiểu ban thềm lục địa tháng 5/2008 trong một công hàm phản đối và bản đồ gửi Liên Hợp quốc.

Sau này, trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện các hành động về mặt hành chính như đưa các tàu thuyền Hải giám, Ngư chính hay Hải quân tuần tiễu cà thực hiện các hoạt động trong phạm vi của đường ‘lưỡi bò’.

Gần đây nhất là việc tỉnh Hải Nam đưa ra quy định bắt buộc các tàu thuyền đánh cá nước ngoài khi đi vào vùng biển này phải xin phép, chịu các quy định của họ nếu không sẽ bị bắt, bị phạt, tịch thu phương tiện, sản phẩm.

Qua đó có thể thấy được nỗ lực hợp thức hóa đường biên giới vô căn cứ của Trung Quốc. Trong khi đó, các nhà phân tích, các chính khách quốc tế đều lên tiếng phê phán quan điểm này.

Vì vậy Việt Nam hoàn toàn có căn cứ để kiện Trung Quốc về việc giải thích và áp dụng sai Công ước về luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc. Chúng ta có căn cứ pháp lý, có sự đồng tình ủng hộ của quốc tế, đặc biệt là các chuyên gia pháp lý quốc tế.- Trung Quốc gần đây liên tiếp có hành động ngang ngược như đơn yêu cầu tàu cá các nước phải báo cáo khi đi vào khu vực họ vạch ra – chiếm 2/3 Biển Đông, phải chăng sự ngang ngược của Bắc Kinh ngày càng trở nên không thể chấp nhận?Thực ra mà nói, việc các quy định này được đưa ra bắt các bên xin phép hay chịu sự quản lý của Trung Quốc đã xảy ra từ lâu.

Hằng năm họ vẫn ra lệnh cắm bắt cá ở khu vực nào đó, trong một khoảng thời gian nhất định hay việc bắt bớ, thu giữ ngư cụ thậm chí là bắn cháy tàu cá Việt Nam.

Trung Quốc bất chấp phản ứng của dư luận, bất chấp tất cả các tiếng nói chính nghĩa và bất chấp cả những thiện chí của các bên liên quan để đưa ra các quy định vô căn cứ, biến các hoạt động bình thường của các ngư dân trong Biển Đông mà chủ yếu là Việt Nam phải chịu sự quản lý của họ.

Điều này cho thấy Bắc Kinh tiếp tục thực hiện các hoạt động ngày càng nguy hiểm hơn để phục vụ cho chủ trương chiến lược biến thành cường quốc của mình.

Trước khi trở thành siêu cường thế giới, Trung Quốc muốn trở thành cường quốc về biển. Họ muốn dùng Biển Đông làm cửa ngõ tiến ra đại dương và không bao giờ từ bỏ ý định đó.

Trước đây Philippines đã kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế về vấn đề biển, đảo và đã phải chịu trừng phạt về kinh tế như cấm xuất khẩu chuối sang thị trường Trung Quốc, theo ông nguy cơ này đối với Việt Nam sẽ như thế nào nếu vụ kiện được tổ chức?

Như chúng ta đã biết, Trung Quốc không bao giờ chấp nhận đưa vấn đề Biển Đông ra tòa án quốc tế hay đa phương hóa.

Rõ ràng, nếu đưa ra quốc tế Bắc Kinh sẽ gặp phải rất nhiều bất lợi và họ sẽ tìm mọi cách để đem lại lợi thế cho mình, thậm chí là sử dụng những biện pháp không đàng hoàng như chính trị, sức ép kinh tế.

Theo tôi, khi chúng ta kiện đương nhiên sẽ vấp phải sự phản ứng tương tự như với Philippines. Nếu khi đã bắt tay vào việc này, Việt Nam chắc chắn đã lường trước vấn đề này và tính toán các biện pháp để vượt qua được.

Nếu phải chịu các trừng phạt về kinh tế và xuất nhập khẩu vì vụ kiện trên Biển Đông, theo ông Việt Nam sẽ có những phương án nào để đối phó?

Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước chống ngoại xâm và những giai đoạn cực kỳ khó khăn, Việt Nam vẫn có những giải pháp hợp lý.

Nếu có bị gây sức ép về kinh tế hay cấm cản xuất nhập khẩu thì hiện nay Việt Nam không biệt lập trên trường quốc tế.

Chúng ta quan hệ đa phương và có nhiều bạn bè trên thế giới để vượt qua khó khăn nếu vấp phải chứ không chỉ phụ thuộc vào một nước nào đó.
Hơn nữa, chưa chắc việc hạn chế giao lưu kinh tế chỉ gây bất lợi cho Việt Nam mà Trung Quốc không bị ảnh hưởng.

Điều đó cho thấy nếu cấm cản xuất nhập khẩu thì không chỉ chúng ta phải suy nghĩ tìm cách đối phó mà họ cũng vậy.

Một số hãng tin quốc tế nói Bắc Kinh cực kỳ giận dữ và sợ hãi khi bị Manila kiện ra tòa án quốc tế bởi nước này biết rõ rằng họ chẳng có bất cứ cơ sở pháp lý nào về ‘đường lưỡi bò’ do họ tự vẽ ra. Vì thế, Trung Quốc chọn cách không tham gia tại phiên tòa, vụ kiện vì thế cũng không được giải quyết. Theo ông, Bắc Kinh sẽ lựa chọn giải pháp gì nếu bị Việt Nam kiện ra tòa quốc tế?

Nếu chúng ta kiện chắc chắn sẽ nhận lại sự quay lưng của Trung Quốc với những lý do của riêng họ.

Nhưng chúng ta phải nhớ rằng, khi thực hiện đúng các thủ tục pháp lý và có chứng cứ cụ thể giống Philippines thì hội đồng trọng tài sẽ vẫn được thành lập và xem xét.

Sau đó sẽ có phán quyết được đưa ra mang tính chất bắt buộc. Trung Quốc nếu khi đó không chấp hành đương nhiên sẽ nhận lại búa rìu dư luận.

Chúng ta không thể vì lo ngại Trung Quốc không tham gia mà không kiện, chỉ cần đúng quy trình, thủ tục pháp lý quốc tế thì sẽ kiện được.

Có thông tin nói để đến bây giờ Việt Nam mới chuẩn bị sẵn sàng cho vụ kiện là ‘hơi muộn’, ông nghĩ sao về điều này?

Theo tôi, không phải bây giờ Việt Nam mới chuẩn bị cho vụ kiện này, chúng ta đã có công tác chuẩn bị và các phương án được nghiên cứu rất kỹ.

Vấn đề là thời điểm, Việt Nam phải cân nhắc rất nhiều vấn đề, khía cạnh mới có thể quyết định.

Khi chúng ta bước vào vụ kiện này, mọi thứ đều phải sẵn sàng và chuẩn bị chu đáo nhất để đem lại lợi thế cho mình.

Điều đó khiến cho vụ kiện phải có thời điểm, thời cơ thích hợp chứ không thể nói là muộn hay sớm.

Xin cảm ơn ông!

Từ Hoàng Sa nghĩ về tương lai Biển Đông

Thạc sỹ Hoàng Việt

Gửi cho BBCVietnamese.com từ TP HCM

Cập nhật: 05:05 GMT – thứ hai, 13 tháng 1, 2014

Cách đây 40 năm, cũng vào tháng 1, Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa từ tay quân đội Việt Nam cộng hòa (VNCH).

Hoàng Sa là sự kiện khởi đầu cho một chuỗi những hành động quân sự của Trung Quốc đối với các đảo, đá ngoài khơi trên vùng biển Đông. Tiếp sau sự kiện Hoàng Sa năm 1974 đó là sự kiện Trường Sa năm 1988, sự kiện bãi Vành Khăn năm 1995.

Cho đến nay, 40 năm đã trôi qua, bài học về Hoàng Sa là gì? Và khả năng trong tương lai Trung Quốc sẽ lặp lại những sự kiện như Hoàng Sa trên biển Đông và biển Hoa Đông không?

Đây là những vấn đề luôn có những tranh luận khác nhau, bài viết này chỉ nhằm cung cấp với độc giả một cái nhìn.

Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo chính, nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen) nằm ở phía Tây Nam quần đảo, nhóm An Vĩnh (Amphitrite) nằm ở phía Đông Bắc. Năm 1956 nhân khi người Pháp sau khi ký hiệp định Geneve và rút khỏi Đông Dương, quân đội Trung Quốc đã chiếm đảo Phú Lâm (Woody) thuộc nhóm An Vĩnh (Amphitrite).

Trước đó, quân đội Pháp đã chiếm đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc nhóm Trăng Khuyết (Crescen), rồi đến năm 1956, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thay chân Pháp kiểm soát đảo này. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, quân đội Trung Quốc đã tấn công quân đội VNCH và đến ngày 20/1/1974, quân đội Trung Quốc đã thành công trong việc chiếm đoạt toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Sự kiện Hoàng Sa năm 1974 cho thấy Trung Quốc đã tính toán rất kỹ thời điểm để họ ra tay.

Tầm nhìn chiến lược

Trung Quốc đã thấy những lợi ích to lớn của biển và đại dương cả ở góc độ kinh tế lẫn chiến lược. Năm 1958, Hội nghị đầu tiên về Công ước luật biển của Liên Hợp Quốc đã được nhóm họp, và đã cho ra đời bốn công ước về biển.

Lúc này nhiều quốc gia cũng đã giành nhau những khu vực biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa vốn rất giàu tiềm năng kinh tế. Thấy trước các lợi ích đó nên Trung Quốc đã tham gia tích cực trong hội nghị này.

Trận hải chiến Hoàng SaTrong hải chiến Hoàng Sa 1974, 74 hải quân VNCH đã thiệt mạng

Những sự đụng độ giữa Trung Quốc và VNCH trên khu vực nhóm đảo Trăng Khuyết đã diễn ra từ năm 1959. Đầu năm 1959, hải quân của VN cộng hòa bắt đầu thách thức sự có mặt của hải quân Trung Quốc nơi đây. Tháng 2 năm 1959, quân đội VNCH đã bắt giữ 82 ngư dân Trung Quốc trên đảo Quang Hòa (Duncan) và Trung Quốc đã chỉ trích hành động này rất mạnh mẽ.

Tháng 3 năm 1959, các tàu của quân đội VNCH đã xua đuổi ngư dân Trung Quốc khi họ xuất hiện trên đảo Quang Hòa. Tuy nhiên trong suốt khoảng thời gian từ năm 1960 cho đến năm 1973, giữa Trung Quốc và VNCH đã không xảy ra căng thẳng nào, ngoại trừ một lần vào năm 1961.

Hành động “xuống thang” này của Trung Quốc thực ra bởi hai lý do: Thứ nhất, sức mạnh của Hải quân Trung Quốc còn quá yếu; thứ hai, Trung Quốc luôn e ngại sự tham chiến của Hải quân Hoa Kỳ, vốn đang bảo trợ cho đồng minh VNCH.

Sau những lần đụng độ với VNCH trên đảo Quang Hòa năm 1959, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã chỉ thị cho Bộ trưởng quốc phòng Bành Đức Hoài cần phải tăng cường lực lượng tác chiến cho hạm đội Nam Hải.

Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc lúc này vẫn chưa có tàu khu trục nào. Hạm đội này chỉ có 96 tàu tuần tra mà hầu hết là các loại tàu phóng ngư lôi loại nhỏ. Năm 1960, loại tàu lớn nhất trong hạm đội này là loại tàu hộ tống với độ choán nước khoảng 1000 tấn. Đến cuối năm 1973, hải quân Trung Quốc đã điều động tổng cộng 76 tàu tuần tra loại lớn tới khu vực này, hầu hết các tàu này hoạt động tại khu vực nhóm đảo An Vĩnh, nhưng cũng có khi hoạt động sang cả khu vực của nhóm Trăng Khuyết.

Như vậy, sức mạnh tác chiến của hải quân Trung Quốc tại đây đã được cải thiện đáng kể.

Tự bảo đảm an ninh

“Bài học cho sự kiện Hoàng Sa năm 1974 có thể tổng kết ngắn gọn là: thứ nhất, Trung Quốc sẵn sàng ra tay bằng biện pháp vũ lực nếu thời, thế chín muồi đối với họ; thứ hai, Hoa Kỳ có thể “bán rẻ” đồng minh vì lợi ích của chính họ.”

Còn về phía Hoa Kỳ, sau khi tỏ rõ sự thất bại của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, năm 1969, Nixon đã tuyên bố một học thuyết về an ninh, theo đó, các đồng minh của Hoa Kỳ cần phải tự đảm bảo an ninh cho mình. Đến năm 1973, Hoa Kỳ đã tham gia ký kết Hiệp định Paris về chiến tranh Việt Nam, theo đó, Hoa Kỳ sẽ lần lượt rút quân khỏi Việt Nam.

Trước đó, năm 1972, Tổng thống Hoa Kỳ – Nixon đã sang thăm Trung Quốc. Chi tiết về trao đổi giữa các bên không được công bố, thế nhưng dường như phía Trung quốc đã nhận được tín hiệu “mi không động đến ta thì ta không động đến mi” từ phía Hoa Kỳ.

Chính vì vậy, thời điểm năm 1974 là thời điểm chín muồi để Trung Quốc ra tay. Sức mạnh của hải quân Trung Quốc lúc này đã được cải thiện đáng kể, hải quân Hoa Kỳ không còn là mối lo ngại, chưa kể lúc này tinh thần của VNCH đang đi xuống, khi đồng minh quan trọng của VNCH là Hoa Kỳ đang “tháo chạy”. Trung Quốc đã giương ra một cái bẫy, quân đội VNCH không kiềm chế được nên đã rơi vào bẫy mà Trung Quốc đã giăng ra. Và kết cục là Trung Quốc đã thành công.

Bài học cho sự kiện Hoàng Sa năm 1974 có thể tổng kết ngắn gọn là: thứ nhất, Trung Quốc sẵn sàng ra tay bằng biện pháp vũ lực nếu thời, thế chín muồi đối với họ; thứ hai, Hoa Kỳ có thể “bán rẻ” đồng minh vì lợi ích của chính họ.

Người Trung Quốc được Nguyễn Trãi tổng kết là “hiếu đại, hỷ công, cùng binh, độc vũ”. Họ luôn sẵn sàng dùng vũ lực nếu thấy cần thiết. Thấu triệt tư tưởng này của người Trung Quốc chính là Mao Trạch Đông – lãnh tụ sáng lập Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ông đã từng phát biểu “họng súng đẻ ra chính quyền”. Còn các cường quốc, khi vì lợi ích của chính họ, sẵn sàng “bỏ rơi” các đồng minh mà họ từng cam kết bảo vệ. Câu chuyện Hoa Kỳ bỏ rơi VNCH năm 1974, Liên Xô làm ngơ trước sự kiện 1988 đã chứng minh cho điều đó.

Biển Đông hiện nay vẫn như một nước cờ trong ván cờ toàn cầu với hai “tay chơi” chính là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Về mặt toàn cầu, Hoa kỳ vẫn đang là một siêu cường, một cường quốc thế giới, chi phối an ninh toàn cầu. Còn Trung Quốc với vị thế là một cường quốc khu vực, đang “dợm mình” vươn lên để trở thành một siêu cường, cạnh tranh với Hoa Kỳ.

Về mặt ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu thì Trung Quốc chưa thể cạnh tranh với Hoa Kỳ, nhưng tại khu vực Đông Á, rõ ràng Trung Quốc đang tìm cách thách thức vị trí của Hoa Kỳ, nhằm “thay chân” ảnh hưởng của Mỹ tại đây.

Lễ khao tề thế lính Hoàng Sa

Tương lai trên Biển Đông?

Trong một thời gian dài, Hoa Kỳ bận với mối lo khủng bố từ khu vực Trung Đông và khủng hoảng kinh tế của mình, nên đã để cho Trung quốc gần như “múa gậy vườn hoang” tại khu vực Đông Á. Cho tới 2009 khi thấy Trung Quốc quá lấn lướt tại khu vực Đông Á, Hoa Kỳ mới quay trở lại và sau đó tung ra chính sách “xoay trục châu Á”, nhằm duy trì lại và tăng cường ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Thế nhưng, những sự kiện nối tiếp nhau trên biển Đông và biển Hoa Đông từ năm 2007 tới nay, đã cho thấy các hành động “leo thang” có tính toán kỹ lưỡng từ phía Trung Quốc cùng với sự “bất lực” của Hoa Kỳ và các đồng minh trước các sự kiện này.

Các hành động này của Trung Quốc dường như để đạt hai mục tiêu: thứ nhất, đây là những phép thử để Trung Quốc có thể tính toán được mức độ can dự của Hoa Kỳ vào khu vực này; thứ hai, đây là những tín hiệu để cảnh báo các quốc gia Đông Á “Thượng đế ở xa mà Trung Quốc lại ở sát bên cạnh”, chớ có dại mà chạy theo Hoa Kỳ chống lại “Thiên triều”.

Thực tế những hành động mang tính “khiêu khích” trong suốt thời gian qua của Trung Quốc tại biển Đông và biển Hoa Đông đã cho thấy hiệu quả trong chính sách của họ cũng như những giới hạn trong việc can dự vào khu vực này của Hoa Kỳ. Trước những hành động quyết đoán của Trung Quốc, Hoa Kỳ luôn có những phản ứng, nhưng những phản ứng này chỉ dừng lại ở việc “lên tiếng”, khiến cho các đối tác và đồng minh của Hoa Kỳ không thực sự an tâm trước tình thế này.

Các chính khách Hoa Kỳ đã tỏ rõ là chính sách “xoay trục châu Á” của họ không bao gồm các biện pháp quân sự, mà chỉ nhằm thúc đẩy vai trò kinh tế của Hoa Kỳ với các nước châu Á, cũng như các cam kết mang tính chiến lược với các đồng minh và các đối tác liên minh.

“Điều mà Việt Nam và các quốc gia khác vẫn đang lo ngại là liệu Hoa Kỳ có thực tâm giữ vững các cam kết của mình? “

Hiểu rõ giới hạn đó nên Trung Quốc tìm cách gia tăng hành động trên mọi phương diện, lúc sử dụng lực lượng bán quân sự, lúc thì sử dụng biện pháp ngoại giao, kinh tế cùng với các đe dọa quân sự đối với các quốc gia Đông Á. Và cho đến nay, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với khu vực này dường như đang tăng lên, bất chấp các lo ngại về các chính sách di dân, hàng hóa rẻ tiền, và các tham vọng lãnh thổ của họ.

Điều mà Việt Nam và các quốc gia khác vẫn đang lo ngại là liệu Hoa Kỳ có thực tâm giữ vững các cam kết của mình? Và khả năng can dự của Hoa Kỳ sẽ đến đâu nếu xảy ra xung đột? Trong cuộc tranh chấp Scarborough, chiến thuật “cải bắp” của Trung Quốc dường như đã phát huy tác dụng, phản ứng của Hoa Kỳ vẫn chỉ là “lên tiếng” và thực tế, cho đến nay, Philippines đã mất quyền kiểm soát bãi cạn Scaborough.

Và Nhật Bản, một đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ ở Đông Á, trước những hành động “leo thang” căng thẳng của Trung Quốc tại khu vực Senkaku, đã phải tính đến những phương án xấu nhất, khi Trung Quốc lặp lại kịch bản Hoàng Sa đối với Senkaku, và đồng minh Hoa Kỳ sẽ “bỏ rơi” họ như đã từng làm với VNCH. Tuy nhiên, Nhật Bản còn là quốc gia có tiềm lực kinh tế và quân sự ngang ngửa với Trung Quốc, chứ còn Việt Nam hay Philippines thì còn lâu mới so sánh tiềm lực được với Trung Quốc.

Như thế, kịch bản Hoàng Sa năm 1974 luôn có thể diễn ra trong tương lai, nhưng có thể dưới những hình thức khác, khi mà trên bàn cờ quốc tế, các cường quốc như những chú voi, khi “yêu nhau” hay “đánh nhau” thì đám cỏ – những nước nhỏ, luôn bị chúng dẫm nát.

Vì vậy, mỗi quốc gia tranh chấp lãnh thổ biển với Trung Quốc nên cần tự đặt riêng cho mình một chiến lược để đối phó với các tình huống xấu nhất trong tương lai.

Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, nhà nghiên cứu về luật pháp quốc tế và Biển Đông.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/01/140113_biendong_hoangsa.shtml

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: