Phải tưởng niệm, vinh danh chiến sĩ Việt Nam trong cuộc chiến 1979

Tường thuật lễ tưởng niệm 35 năm Chiến tranh Biên giới chống Trung Quốc (DLB)

VĂN TẾ ĐỒNG BÀO VÀ CHIẾN SĨ TỬ TRẬN TRONG CUỘC CHIẾN TRANH VỆ QUỐC THÁNG 2 NĂM 79(HQ3)Chiến tranh Biên giới phía Bắc 1979

Ngô Nhân Dụng – Ðảng tan rã vì xã hội thay đổi  -34 năm cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc  (BVN)  -Quân đội Trung Quốc sợ ai?

– Phỏng vấn TS Nguyễn Quang A: Mộng bá quyền, bành trướng của Trung Quốc không hề thay đổi – Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ khuất phục các thế lực xâm lược và phản quốc (DĐXHDS)Đặng Tiểu Bình trong chiến tranh biên giới Việt Trung 1979/ Trần Trung Đạo/Theo Dân Luận

Phải tưởng niệm, vinh danh chiến sĩ Việt Nam trong cuộc chiến 1979

Thanh Trúc – RFA
2014-02-15VTT021414.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

chinese-pow-2

Tù binh Trung Quốc dưới sự canh giữ của bộ đội nữ Việt Nam

Courtesy of basaminfo.com

Trả lại vị trí xứng đáng cho những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới chống Trung Quốc xâm lược, chủ trương công khai và tổ chức cụ thể để ngày 17 tháng Hai hàng năm ltrở thành ngày tưởng niệm toàn quốc như cách ông cha đã tiến hành giỗ Trận Đống Đa mà quân Nam chiến thắng và dẹp tan 20 chục vạn quân Thanh thế kỷ XVIII.

Bên cạnh đó, yêu cầu nhà nước rà soát lại chính sách và chế độ đối với những chiến sĩ đồng bào đã hy sinh mà bị bỏ quên lâu nay do những thiếu sót và sai lầm dẫn đến những bất công xã hội và bất bình trong nhân dân.

Đó là nội dung tóm lược những điểm chính trong tâm thư có chữ ký của 75 trí thức yêu nước, đăng trên trang web Bauxite Việt Nam ngày 14 tháng Hai vừa qua. Tâm thư qui tụ những cựu viên chức chính phủ, cựu sĩ quan Quân Đội Nhân Dân, cựu tù Côn Đảo trước 1975, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu gia, các vị lãnh đạo tinh thần, các nhà báo và những bloggers chuyên cổ súy tự do dân chủ cho việt Nam.

switching-fighters
Bộ đội Việt Nam thay quân lên chốt ở Cao Bằng – RFA file

Không thể im lìm và nín nhịn mãi được khi nhớ về cuộc chiến biên giới miền Bắc năm 1979, là khẳng định của cựu tù chính trị Côn Đảo Hồ Hiếu, nguyên cán bộ phong trào sinh viên học sinh tranh thủ dân chủ Đà Lạt. Khi cuộc chiến biên giới 1979 nổ ra, ông Hồ Hiếu đang làm chánh văn phòng Quận Ủy quận Một và tiếp đó là chánh văn phòng Ban Dân Vận Thành Ủy TP Hồ Chín Minh. Với ông, tiếng nói của dân là trên hết và tâm thư của hơn bảy mươi trí thức phản ảnh quan điểm đó:

Lúc đó tôi còn nằm trong tổ chức đảng thì tôi nghe được là quân đội của mình đánh Tàu cũng rất ác liệt và dũng cảm. Thay vì Tàu đánh cho Việt Nam một bài học thì Việt Nam cũng cho Tàu lại một bài học và cuối cùng thỉ đã đẫy được quân Tàu ra khỏi biên giới. Dĩ nhiên cũng có những tiêu hao, nhiều người trở thành liệt sĩ. Họ chết vì bảo vệ tổ quốc thì cớ sao nhà nước lại không muốn nhắc đến cũng không dám vinh danh, sợ mất tiếng với Tàu hay sao. Chính sách ngoại giao Việt Câu Tiễn đó không xứng đáng chút nào. Không dám nói thì để cho dân nói, tại sao dân xuống đường thì đảng bắt bỏ tù. Chính tôi cũng đi biểu tình cũng bị xô té chúi nhũi. Thái độ khiếp nhược người ta gọi là ác với dân mà hèn với địch dân Việt Nam không bao giờ cho phép. Anh nói không được để dân nói chứ hèn như vậy làm sao mà dân chúng ủng hộ nhà nước được.

chinese-tanks
Xe tăng Trung Quốc tấn công, 1979 – Courtesy of maithanhhaiblog

Trả lời câu hỏi vì sao lần này nhân sĩ trí thức có vẻ tha thiết mà cũng quyết liệt không kém trong thư yêu cầu nhà nước chính thức nhìn nhận và tổ chức tưởng niệm qui mô cuộc chiến biên giới ngày 17 tháng Hai hàng năm, ông Hạ Đình Nguyên, cựu tù Côn Đảo, nguyên chủ tịch Ủy Ban Hành Động thuộc Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn trước 75, cho rằng đã đến lúc tình thế đòi hỏi như vậy:

Tình thế đòi hỏi dân tộc phải đi đến chỗ hòa giải và đoàn kết để đối phó với áp lực của nước ngoài đối với lãnh thổ và biển. Thực ra chuyện đó lẽ ra là đương nhiên nhưng hoàn cảnh Việt Nam thì chuyện bình thường nó lại bất thường. Người dân có quyền tập họp hay làn một cái lễ như là xã hội dân sự nhưng mà Việt Nam thì chưa có xã hội dân sự. Cho nên những chuyện bình thường đó là nó trở thanh bất thường. Bây giờ từ những chuyện bất thường để trở về bình thường thì không phải là đơn giản.

Theo chỗ ông hiểu, ông Hạ Đình Nguyên nói tiếp, là cái hoàn cảnh đặc biệt giữa Việt Nam với Trung Quốc:

Đối với nhà nước có lẽ họ cũng muốn làm cho nó công khai, nhưng ngại rằng nếu làm cách nào đó thì thế lực nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc, nó cho rằng mình khiêu khích và có thể sinh ra chuyện không tốt. Cho nên nhà nước đang tính toán làm ở mức độ nào mà thể hiện được tinh thần đó và cũng cho thỏa mãn dân chúng mà không để cho gọi là có sự khiêu khích trở thành căng thẳng trong bang giao.

dead-chinese
Quân Trung Quốc khóc đồng đội tử trận năm 1979 – Courtesy of popularairsoft.com

Người ta cũng biết rằng đối với những tờ báo hay những văn thư của Trung Quốc thì vẫn tuyên truyền vẫn đổ tội cho Việt Nam . Họ đánh Việt Nam mà chỉ bảo là tự vệ, trong khi đó Việt Nam mới thực sự là người tự vệ. Cũng là hoàn cảnh yếu đuối trong cái tình thế yếu đuối cho nên mới như vậy.

Cũng là người đã ký vào tâm thư kêu gọi một lễ tưởng niệm chính thức hàng năm cuộc chiến biên giới 17 tháng Hai 1979, bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn trước 1975, đại biểu Quốc Hội khóa VI, ủy viên Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh:

Lúc Trung Quốc xua quân đánh Việt Nam thì tôi ở Hà Nội, trong hàng ngũ Đoàn Thanh Niên Hà Nội. Tôi đã từng nghĩ chắc chắn phải đánh trả thôi, và rõ ràng là cả nước cũng đang chuẩn bị để đánh lại. Trận chiến kéo dài và dẫn tới chỗ là mấy chục ngàn quân đội và nhân dân Việt Nam hy sinh tại đó. Nhưng tôi không hiểu tại sao trong những năm về sau thì thấy bên Trung Quốc họ làm lễ rất lớn, có mít tinh, biểu tình, cho rằng Việt Nam xâm lược Trung Quốc. Điều đó cả thế giới đều biết mà tại sao ở Việt Nam lại không tưởng niệm theo báo chí là 50.000 quân đội và dân chết.

Thế này thì chúng tôi phải lên tiếng chứ, quân đội và dân hy sinh thì mình phải tưởng niệm, chuyện đương nhiên rồi.Nếu mà không tưởng niệm tức là vô ơn. Tại sao lại từ chối việc “Uống Nước Nhớ Nguồn” ? Điều đó phải làm, nếu không làm phải trả lời trước nhân dân trước thanh niên Việt Nam lý do tại sao không làm.

Nghe nói Bộ Chính Trị cũng đã chuẩn bị kỷ niệm cuộc chiến biên giới phía Bắc tức là cũng có ý định vậy, rồi tại sao lại hôm nay, còn hai ngày nữa, là 17 tháng Hai rồi,thì cũng không có động tịnh gì cả, thế là sao? Đoàn Thanh Niên cũng như một số an hem trong Câu Lạc Bộ Kháng Chiến hôm nay họp, Thành Đòan sáng nay họp cũng có ý kiến . Vậy thì tại sao lại im hơi lặng tiếng như vậy, có phải bị áp lực của Trung Quốc hay là sợ Trung Quốc quá.

Từ thanh phố Hồ Chí Minh, nhà báo Nguyễn Quốc Thái, có tên trong danh sách 75 nhân sĩ trí thức ký tên vào tâm thư, cũng khẳng định đã đến lúc phải công khai lên tiếng về một cuộc chiến bảo vệ đất nước mà vì lý do khó hiểu nào đó đã không được đề cập tới trong nhiều chục năm qua:

Không phải riêng vấn đề biên giới phía Bắc hoặc chiến tranh phía Nam mà ngay cả cuộc chiến ở Hoàng Sa cũng nhiều năm bị bỏ quên cho đến khi Câu Lạc Bộ Phao Lô Nguyễn Văn Bình tổ chức buổi tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Gần đây nhất, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có lên tiếng về vụ tưởng niệm Hoàng Sa và Trường Sa, và những người như anh em chúng tôi nhận thấy đã đến lúc cần phải lên tiếng một cách công khai và mạnh mẽ để những người có trách nhiệm điều hành đất nước này nhìn rõ vào sự thật và phải lên tiếng về một cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước mà chúng ta vì lý nào đó rất khó hiểu đã không lên tiếng trong mấy chục năm qua. 

artillery
Một vị trí pháo binh trong trận chiến Việt- Hoa 1979 – Courtesy of content.time.com

Việc lên tiếng dẫu rằng quá chậm, nhà báo Nguyển Quốc Thái nhận định, vẫn còn hơn là sự im lặng:

Chúng tôi đứng với nhau như trước đây đã ký vào văn bản của nhóm 72, chúng tôi đứng với nhau để đòi hỏi một điều: phải lên tiếng công khai và minh bạch về cuộc chiến 1979 tại biên giới phía Bắc mà con em của chúng ta đã bao nhiêu năm không được biết đến, không được tìm hiểu. Lương tâm của con người, lương tâm của công dân không cho phép chúng tôi ngưng lại hay im lặng trước một việc như vậy. như

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/unknown-soldiers-in-1979-war-02152014135156.html

Phim nước ngoài về chiến tranh biên giới và tình hình Đông Dương

http://www.youtube.com/watch?v=Wygoh5xeknk#t=24

Ngô Nhân Dụng – Ðảng tan rã vì xã hội thay đổi

Các đảng Cộng sản ở Nga và Ðông Âu tan rã khi lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan không đường thoát vì những mâu thuẫn nội tại trong đảng và mâu thuẫn giữa đảng và xã hội. Những thay đổi bên ngoài thúc đẩy cho các mâu thuẫn nặng nề hơn. Nắm quyền thống trị trong một thời gian dài, tưởng như không có gì lay chuyển nổi, họ không thích ứng được với những thay đổi bên ngoài, đảng càng ngày càng yếu và xã hội ngày càng mạnh hơn, chế độ sụp đổ.
Hiện tượng này đang diễn ra tại Trung Quốc và Việt Nam. Các đảng cộng sản này đều chiếm được chính quyền khi canh nông vẫn còn là căn bản kinh tế ở hai nước. Trong những xã hội nông nghiệp, người dân vốn quen phục tòng quyền bính, một di sản thời phong kiến, họ chấp nhận một hệ thống đẳng cấp theo hàng dọc. Guồng máy cai trị lại lập ra được một hệ thống kiểm soát dân rất tinh vi hơn thời vua quan. Trong lịch sử chưa có một guồng máy thống trị nào dùng cơ cấu kiểm soát chặt chẽ, toàn diện, đủ mọi mặt đời sống, như các chế độ cộng sản, từ Nga, Trung Quốc, đến Việt Nam. Từ trên ban xuống, họ quy định việc chọn nơi cư trú và di chuyển (hộ khẩu), ban phát thức ăn, quần áo mặc, đồ dùng trong nhà (tem phiếu), nơi học hành, trò giải trí. Ðể kiểm soát cái đầu của người dân không cho phép ai suy nghĩ điều gì khác, họ không những nắm độc quyền các báo, các đài mà còn sử dụng hệ thống giáo dục uốn nắn con người tấm lòng trung thành, tuân phục tuyệt đối, từ lúc sinh ra đến lúc chết, dậy cho dân yêu những gì đảng yêu, ghét những gì đảng ghét.
Xã hội con người chưa bao giờ được thắt chặt vào một khuôn khổ như vậy. Bình thường, khi loài người phát triển ở đâu cũng cần lập ra một bộ máy nhà nước bảo vệ an ninh, trật tự; cần một mạng lưới sản xuất và trao đổi vì nhu cầu kinh tế; và trên hết là một trật tự tinh thần, với các tôn giáo, các hệ thống tư tưởng giải thích tại sao người ta nên sống chung như vậy. Chủ nghĩa cộng sản muốn bao biện cả ba lãnh vực: chính trị, kinh tế, và ý thức hệ. Các nhà xã hội học gọi đó là một chế độ ba chân: Caesaro-Papism-Mammonism (Hoàng đế, Giáo hoàng, và Thần tài). Chế độ ba chân này dễ đem áp dụng ở những xã hội nông nghiệp cổ truyền. Vì ở đó người ta đã quen thấy quyền hành chính trị bao trùm lên cả lãnh vực tín ngưỡng và tư tưởng, các vị hoàng đế cũng đóng vai trò lãnh đạo tinh thần, Max Weber đặt tên là Caesaropapism. Nhiều xứ Hồi Giáo nuôi lý tưởng một đế quốc thuần túy, Umma, thể hiện một chế độ hoàn thiện như vậy. Chủ nghĩa Mác Lê Nin mang tham vọng lớn hơn nữa, đã gom cả sinh hoạt kinh tế dưới một mái nhà, tạo thành chế độ ba chân, thường gọi là độc tài toàn trị.
Nhưng cuộc sống loài người thay đổi, chế độ ba chân toàn trị mất thế thăng bằng. Guồng máy chính trị bao trùm lên tất cả, sẽ tới lúc xã hội tiến hóa và phát triển không còn chịu đựng được nữa, giống như một trái lựu chín, các hạt lựu lớn căng lên, phá vỡ cái vỏ bọc, dù vỏ rất cứng rắn. Nhất là khi chế độ toàn trị phải mở hé cánh cửa cho dân được hưởng phần nào quyền tự do làm ăn để sinh sống. Một trong ba cái chân bắt đầu yếu dần, làm lệch thế cân bằng giữa nhóm thống trị và cả xã hội chung quanh họ. Cán cân sức mạnh tương đối giữa chính quyền và xã hội dần dần thay đổi. Xã hội tự nó lớn lên, không thể sống mãi trong cái vỏ do chính quyền bao bọc.
Chính quyền ngày càng yếu hơn, guồng máy kiểm soát lỏng lẻo hơn và uy tín bị soi mòn dần. Cùng thời gian đó, trong xã hội có những lực lượng mới dấy lên, ngày càng mạnh hơn. Người dân thấy họ có thể sống và suy nghĩ độc lập với guồng máy nhà nước; nhiều người dám kết hợp lại vì những nhu cầu, khát vọng chung; họ thông tin với nhau dễ dàng hơn. Có những thay đổi có thể quan sát được, như khả năng sống độc lập về kinh tế, lợi tức nhiều người lên cao và không phụ thuộc vào “chế độ xin-cho” ban phát của người cầm quyền. Ngoài ra còn những biến động ẩn chìm như những dòng nước ngầm nằm dưới đấy sâu, tới ngày sẽ làm vỡ các bờ đê ngăn chặn. Nhiều thành phần độc lập với guồng máy nhà nước càng ngày càng tự tin, đến lúc họ thấy cần sử dụng quyền công dân gây ảnh hưởng trên cuộc sống chung.
Ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, khi đảng cộng sản bỏ giáo điều Mao chủ tịch, cho dân được tự do làm ăn, một tầng lớp trung lưu thành hình, ngày càng đông và lên tiếng mạnh bạo hơn. Các quốc gia bắt đầu chuyển sang thể chế dân chủ khi lợi tức theo đầu người lên mức khoảng 4,000 Mỹ kim một năm (tính theo mãi lực tương ứng, purchasing power parity viết tắt là PPP, không tính theo hối suất). Nhiều nước mặc dù lợi tức theo đầu người (percapita income) lên cao vẫn theo chế độ độc tài, vì tài nguyên do thiên nhiên ưu đãi đặc biệt chứ không phải do sức làm việc của con người tạo ra. Hiện nay trên thế giới có 24 nước với lợi tức theo đầu người cao hơn Trung Quốc mà vẫn chưa được dân chủ hóa. Trong số đó 21 nước chỉ giầu lên nhờ mỏ dầu khí. Giới quyền quý ở các nước đó giầu sang, người dân bình thường vẫn nghèo nhưng họ được chính quyền “hối lộ” bằng những chính sách trợ cấp để giữ không cho xã hội thay đổi.
Nhưng lợi tức lên cao chỉ là một trong nhiều biến chuyển dẫn đến khát vọng dân chủ. Tác động mạnh nhất trong xã hội hiện đại là kỹ thuật thông tin nhanh chóng, dễ dàng, và phổ cập. Tốc độ biến chuyển trong lãnh vực này tăng nhanh hơn và phổ cập rộng rãi trong số người càng ngày càng đông hơn. Trước năm 1979, pháp sư Hồi Giáo Ruhollah Khomeini phát động phong trào chống Sa hoàng Pahlavi bằng cách gửi những cuốn băng cát sét từ Pháp về cho các tín đồ ở Iran nghe. Từ đầu thập niên 1980, một tỷ phú gốc Hungary và sinh ở Mỹ là ông George Soros đã tặng cho các trường trung học ở Hungary những máy sao chụp (photocopy). Ông tin rằng ở đâu có phương tiện truyền thông dễ dàng thì ở đó xã hội sẽ thay đổi nhanh. Người dân Ðông Ðức vượt biên hàng loạt trong những năm 1988, 89 vì họ đã lén coi được những chương trình ti vi Tây Ðức. Nhưng sang thế kỷ 21, các khí cụ và phương tiện truyền thông mới có tác dụng mạnh và nhanh gấp trăm, ngàn lần những băng cassette, máy photocopy, và ti vi. Các mạng lưới điện tử ra đời nối kết loài người trong những cộng đồng ảo, không lệ thuộc vào khuôn khổ nơi cư trú. Các đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam chắc chắn đang lo lắng khi chứng kiến số phận các chế độ độc tài ở Tunisie hay Egypt, nơi cuộc cách mạng hoa nhài được phát động qua Internet và các máy điện thoại lưu động.
Vì vậy, họ đều tìm cách kiểm soát Internet. Nhưng kỹ thuật thông tin tiến bước nhanh hơn phản ứng của con người. Ðầu năm 2014, một thanh niên ở Việt Nam bầy ra một trò chơi điện tử thu hút được giới trẻ khắp nơi trong vòng mấy tháng; sau đã tự rút lại khi thấy nhiều trẻ em trên thế giới bắt đầu “ghiền.” Một đặc tính của những biến đổi kỹ thuật trong hệ thống thông tin mạng là những phát minh và sáng kiến rất bất ngờ. Các biện pháp do chính quyền đưa ra để ngăn cản các công dân mạng bao giờ cũng đi một, hai bước sau những sáng kiến cải thiện kỹ thuật “vượt tường lửa” của giới sử dụng Internet. Chính quyền không thể nào kiểm soát được tất cả. Mỗi khi họ ra lệnh “bóc” một hình ảnh, bản tin hay ý kiến trên một mạng thì đã chậm ít nhất một hai giờ. Nhiều công dân mạng đã thấy, đã sao chép để truyền đi rộng hơn. Chính quyền không kiểm soát được tất cả các mạng lưới thông tin, trong khi các công dân mạng luôn luôn tìm ra những kỹ thuật mới. Hành động ngăn cấm chỉ khiến cho các trang mạng được mọi người tin tưởng, uy tín tăng lên. Ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, nhiều bloggers đã nổi tiếng vì những ý kiến tiến bộ, vì lòng can đảm không sợ hãi. Họ được nhiều người kính trọng, lôi kéo quần chúng càng ngày càng đông hơn. Các đảng cộng sản không thể tiếp tục ách cai trị bằng chính sách kiểm soát thông tin, bưng bít sự thật được nữa.

Ðảng Cộng sản bây giờ đã mất quyền kiểm soát nồi cơm và cái bao tử của dân vì phải chấp nhận mở cửa cho kinh tế thị trường. Họ đang mất độc quyền thông tin, tin tức phổ cập nhanh chóng đã trả lại cho dân quyền tự do suy nghĩ; đến chính các đảng viên cộng sản cũng mất hết lòng tin vào chủ nghĩa, chế độ và lãnh tụ. Trong ba chân của chế độ Caesaro-Papism-Mammonism, hai chân đang gẫy. Ðảng Cộng sản bảo vệ cái chân còn lại, cố nắm chắc quyền bính. Nhưng cái chân này cũng sẽ gẫy nốt, do những mâu thuẫn nội tại. Sức chịu đựng của bất cứ bộ máy nào cũng sẽ tới lúc mệt mỏi, rã rời, như một chiếc xe đã cũ. Ðảng còn tan rã vì các biến cố bên ngoài tác động. Một điều chúng ta biết chắc, là một chính quyền tỏ ra sợ sệt trước ngoại bang khiến người dân phải thấy hổ thẹn thì không thể đứng vững được.

http://www.diendantheky.net/2014/02/ngo-nhan-dung-ang-tan-ra-vi-xa-hoi-thay.html

34 năm cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc

17/02/2013 – 11:24

Ngày 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc. Dù quân xâm lược đã phải chịu nhiều tổn thất nặng nề và rút về sau hơn một tháng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân dân ta, nhưng cuộc cuộc chiến đã khai màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới suốt 10 năm sau đó.

Sống Mới xin đăng tải lại bài phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược – Bộ Công an, trên báo Thanh niên nhân dịp kỷ niệm cuộc chiến tranh vệ quốc.

Thiếu tướng Lê Văn Cương.

Hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15… hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của Việt Nam gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Đó còn là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2/1979 và gần 10 năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình, bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này? Có ý kiến rằng nhắc đến những chuyện này có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định nói như vậy là ngụy biện.

Những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của Trung Quốc tung ra trung bình 600-800 tin, bài với những cái tít có nội dung gần như giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam”. Có thông tin cho rằng hiện tại trên 90% người dân Trung Quốc vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội Việt Nam đã vượt biên giới sang tấn công và buộc Trung Quốc phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền Trung Quốc đã nhồi nhét vào đầu người dân rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của Việt Nam.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, ở kênh nhà nước, nhân dân và cả trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần giúp cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất cuộc chiến tranh Việt – Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỷ người Trung Quốc biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân Trung Quốc đã vượt biên giới xâm lược Việt Nam. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là không đúng. Nói ra không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc Trung Quốc tung hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979.

Với độ lùi về thời gian, chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Nhưng đến giờ phút này tôi cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, đây là cuộc chiến chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Vấn đề phải được nhận thức rõ từ cấp cao nhất và được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh từ cấp tiểu học, trung học và cả đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chúng ta chắc chắn sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Quan điểm của tôi là Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ, không thể lờ đi vấn đề lịch sử này được.

Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2/1979.

Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài, họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân xâm lược Trung Quốc năm 1979 không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của Việt Nam. Tôi đã phải chống chế rằng người Việt Nam muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản phản bác tôi bởi “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói: “Chúng tôi biết người Việt Nam rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai, trong thế giới toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không nước nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi,đó là 3 thứ: chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây cần phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn khác với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Người Việt Nam có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người Việt trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những thứ “dĩ bất biến”, những thứ còn lại là “ứng vạn biến”. Chuyện “16 chữ”, “4 tốt” trong quan hệ với Trung Quốc là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến tranh chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này sẽ rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7/2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy một quan điểm bây giờ vẫn đúng: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”.

Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng.

Từ câu chuyện 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề Biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc ?

Tạo lòng tin, sự hữu nghị chân thật là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài, và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng sẽ có được trong vài ba năm tới. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ, điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc chắc chắn không kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử Việt Nam cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước Công nguyên, An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì không thể tránh khỏi mất nước. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến độ chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly. Năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là một ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Nguồn: http://songmoi.vn/van-hoa-lich-su/34-nam-cuoc-chien-bao-ve-quoc

http://www.boxitvn.net/bai/23434

Quân đội Trung Quốc sợ ai?

Dân Làm Báo thân gửi đến bạn đọc trong thôn bài viết của Giáo sư – bác sĩ Thạch Nguyễn là Giám đốc Khoa Tim mạch, Trung tâm Y học St. Mary, Hobart IN., thành viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất trong ban chấp hành trường Tim mạch học Hoa Kỳ (American Cardiology of Cardiology: ACC), là người có thâm niên giảng dạy tại các trường ĐH danh tiếng ở Trung Quốc. Trong bài diễn văn nhận chức Giáo sư danh dự của trường Đại học Y khoa Hà Nội, giáo sư Thạch đã chia sẻ: “Từ năm 1992 đến nay, mỗi năm tôi đều đi dạy học ở Bắc Kinh, Thượng Hải hay Nam Kinh. Năm 1994, có một số bạn Việt Nam thấy tôi đi Trung Quốc nhiều mà không ghé Việt Nam, thì họ thắc mắc tại sao tôi hay đi làm việc ở Trung Quốc mà không hay đi Việt Nam hay những quốc gia khác. 
 
Tôi trả lời là có một thôi thúc mãnh liệt khiến tôi đi làm việc nhiều ở Trung Quốc là vì tôi muốn đảo ngược một hướng lịch sử đã đã kéo dài gần 2.000 năm. Trong suốt gần 2.000 năm qua, cho đến tận thế kỷ 20, các học giả Việt Nam, Hàn Quốc, và Nhật Bản đều phải đến Bắc Kinh Trung Quốc để học hỏi về Khổng giáo hay tham vấn một kỹ thuật và nghệ thuật trị quốc khác. Nay tôi muốn đến Bắc Kinh để dạy lại và đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của ngành tim mạch Trung Quốc.
*
Quân đội Trung Quốc Sợ Ai?
Trong 20 năm qua, do những cơ duyên lịch sử lạ lùng, tôi đã có cơ hội làm việc ở Trung Quốc (TQ) trong mảng dân sự cũng như quân sự. Tôi đã ăn ở nhiều lần tại Điếu Ngư Đài, nhà khách của chính phủ TQ. Tôi đã giảng dạy ở Bệnh viện Trung Ương 301 của Quân đội TQ, và nhiều trường đại học  khác. Trong một chuyến thỉnh giảng theo lời mời của Quân y viện Thẩm Dương, nơi có tổng hành dinh quân sự miền Đông Bắc, tôi được mời đi thăm nhà máy chế tạo máy bay chiến đấu của họ. Thật không dễ dàng cho tôi chút nào khi đi xem những bảo tàng trưng bày những vũ khí mà triều Hán, Nguyên, Minh, Thanh đã sử dụng để xâm lược VN 2000 năm trước. Tôi buồn khi đến mộ Minh Thành Tổ, đại đế Trung Hoa đã ra lệnh xâm lược VN vào năm 1407. Tuy nhiên, việc chứng kiến nhiều sự kiện lạ lùng trong 20 năm gần đây của lịch sử cận đại còn đau đớn hơn nhiều.
Kẻ nội thù đối với nhiều sĩ quan TQ
Cuộc đời của họ cũng nặng nề như những người khác. Họ gia nhập quân ngũ để có một đời sống tiện nghi hơn, làm ít nhưng lương cao và ổn định hơn. Sau đó là tìm một trường tốt cho đứa con một, hầu hết là cậu ấm, và tiếp đến là tìm cho chúng một học bổng du học Mỹ. Đó là giấc mơ của họ. Chuyện chiến đấu không nằm trong kế hoạch tương lai của họ. Tuy nhiên, trong quân đội hay chính quyền, để leo cao trên bậc thang danh vọng, kẻ thù chính không phải là người Mỹ. Không phải người Âu. Không phải người Nhật. Mà là chính người Trung quốc với nhau. Để leo cao, người ta phải đè đầu cưỡi cổ những người khác và nhiều người không ngại dẫm đạp lên đầu trên cổ đồng bào hay gia đình mình để thăng quan tiến chức hay tìm một ghế trong bộ máy cầm quyền Bắc Kinh.
Cuộc tranh đấu của những lớp người trong và ngoài Đảng
Những hành động xấu xa của những kẻ giàu có và quyền lực trong chính quyền và đảng CS không lọt qua nổi con mắt tinh tường của mọi người dân. Tôi đã nghe nhiều chỉ trích về những hành động xấu xa của nhóm 10 người trong Bộ chính trị, trong Ủy ban Nhân Dân, trong Thường Vụ… Họ ăn cắp công quĩ, cướp đất nông dân (như ở Tiên Lãng), mua căn hộ sang trọng cho bồ nhí, thu vén tiền bạc cho gia đình chuyển ra nước ngoài, mua nhà và xin thẻ xanh ở Mỹ. Những người dân thường và đảng viên cấp dưới đã vô cùng oán hận khi phải bợ đỡ, hối lộ, cũng như thỏa mãn những đòi hỏi tình dục của xếp, những đảng viên cấp cao. Họ nhận thức rõ mình chỉ là đám tên nô lệ tân thời, phải quị luỵ, luồn cúi trước bí thư đảng ủy, hay phải đối phó với một gã công an đầu đường chặn xe hay nhân viên thuế vụ mỗi dịp cuối năm.
Người Dân Trung quốc nghĩ gì về Việt Nam? 
Trong một quốc gia lúc nào cũng có nhiều bè phái. Cánh quân sự Trung quốc muốn phiêu lưu xa hơn bằng vũ lực. Nhưng nó đã tạo ra những phản ứng ngược. Đa số người dân Trung quốc muốn được đi trên con đường của thế giới văn minh và hiện đại. Tuy nhiên, họ cần nghe tiếng nói trung thực của người dân Việt Nam. Người Việt cần lên án những hành động hiếu chiến của đám diều hâu trong quân đội TQ đang ngồi chễm chệ ở Văn phòng Tổng đốc Lưỡng Quảng ở Quảng Châu hay tại dinh Thái Thú Đặc Mệnh Toàn Quyền ở Hà Nội.
Đối với đám diều hâu hiếu chiến, đám tướng lãnh chóp bu trong quân đội địa phương thì chẳng khác gì hoạn quan, tốt mã nhưng vô dụng. Các quan to ở triều đình chỉ là những con chó săn (CS) cho thiên triều Bắc Kinh. Đám vô lại này đã đem chủ nghĩa Mác Lê rác rưởi để đầu độc cả một dân tộc như chính sách ngu dân của Trương Phụ khi đốt tất cả các thư tịch cổ của Việt Nam, chỉ chừa lại các sách triết học và tôn giáo. Chủ nghĩa Mác Lê đã hủy diệt bao nhiêu thế hệ thanh niên Việt Nam trong chiến tranh Quốc Cộng để giờ đây, sự hy sinh đó chỉ để vỗ béo đám lãnh đạo và bầu đoàn thê tử. Việc cấm đoán kỷ niệm cuộc chiến 1979 được giải thích là do một cú điện thoại nóng từ Bắc Kinh. Làm gì có cú điện thoại qua đường dây nóng đó. Chỉ có đường dây điện thoại đỏ từ Quảng Châu thôi. Khi giải thích cho những học giả Trung Quốc, trong tiếng Việt, chữ tắt CS là chó săn, họ nghĩ ngay đến việc đổi tên đảng ở VN vì chính họ không muốn dây vào đám khuyển mã. Thái độ quị luỵ, luồn cúi của các quan chức VN khi đi sứ khất nợ chiến tranh làm ô nhục cho tổ quốc VN. Cuối cùng, họ phải bán rẻ đất, biển của cha ông để trả nợ vũ khí trong cuộc chiến tranh Quốc Cộng 1954-1975. Rẻ mạt như khi Pháp bán Louisiana hay Nga bán Alaska cho Mỹ. Có đảng viên CS VN nào dám hãnh diện giơ cao thẻ đảng CS VN ở TQ hay Mỹ không? Tại Mỹ, Nga, Âu châu hay TQ, thẻ đảng là chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp của môn ăn cắp, đục khoét của công, dối trá, lường gạt gia đình, dân tộc và cả lừa mị chính mình nữa. Tôn Dật Tiên đã phải thốt lên: “Người VN cư xử như vậy vì họ đã quen làm nô lệ!” Những hành động của đảng CS VN tại TQ là bằng chứng hùng hồn cho thái độ hèn với giặc, ác với dân. Nhục này biết bao giờ rửa sạch?
Làm sao để biết quốc gia này có thể chận đứng một đoàn quân xâm lược? 
Khi dạy học ở Hàn quốc, tôi không ngạc nhiên khi trao đổi với những trí thức về thái độ hiếu chiến của người Tàu và người Nhật. Tuy nhiên, tôi hỏi những bà cụ già, những người đàn bà làm việc chân tay, một người buôn thúng bán bưng trên đường phố. Khi họ dạy tôi một bài học sắc bén về chủ nghĩa ái quốc bài Hoa, tôi biết TQlà bên thua cuộc trong cuộc xung đột với người Hàn quốc. Việc này cũng xảy ra ở Nhật bản hay Đài loan. Tinh thần chống CS Tàu thấm tận xương tủy mỗi người dân ở mọi tầng lớp, mọi tuổi. Già, trẻ, lớn, bé… họ hợp thành một lực lượng chống TQ mạnh mẽ và hữu hiệu. Tôi học được bài học đầu tiên và căm ghét quân xâm lược qua những lời nhẹ nhàng của một bà mẹ chưa học hết lớp năm. Lời răn ái quốc của các bậc cha mẹ ắt mạnh mẽ gấp vạn lần những thông điệp rỗng tuếch của những ông tổng bí thư của băng đảng phường bán nước.
Hôm nay kỷ niệm ngày TQ tấn công Việt Nam theo lệnh của Đặng Tiểu Bình. Ai sẽ là chiến sĩ mạnh mẽ nhất chống lại mọi đoàn quân xâm lược? Đó là toàn thể nhân dân Việt Nam, già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà, có học nhiều hay học ít… Quân xâm lược sợ ai nhất? Cũng là sợ hãi toàn bộ người dân Việt Nam. Đó là nhưng người can đảm nói lên sự thực. Những người dám đưa những hình ảnh, bằng chứng sống động về sự tàn bạo và bất công của một thể chế bán nước ra trước công luận thế giới. Và đằng sau họ, là một dân tộc 90 triệu người đang phẫn nộ, mặc dù không phải ai cũng cất cao tiếng thét căm giận. Nên hiểu rằng, sự im lặng cũng đồng nghĩa với khinh bỉ.
Một lời nguyện cầu dâng lên các Tiền nhân đất Việt: Trong ngày kỷ niệm đau thương của lịch sử, cúi xin Tổ tiên phù hộ cho dân tộc và đất nước chúng ta được tự do, độc lập và no ấm. Xin các bác, các cụ, các anh chị, các em, các bạn hãy tiếp tục tranh đấu chống bọn hiếu chiến xâm lăng, chống lại những kẻ đã và đang bán nước. Lời nói, hành động của các bạn đã làm ấm lòng và cổ vũ mọi con dân Việt trong và ngoài nước. Các bạn là ngọn đuốc đi đầu, dẫn đường. Tự do của nhân dân, độc lập của dân tộc là trên hết. Khi thời điểm chín mùi, các bạn sẽ là những kẻ đánh bại bọn bán nước, vì sự thực và lẽ phải thuộc về chúng ta, tất cả những người dân VN yêu nước.
Viết từ mùa đông đầy tuyết tại Bắc Kinh, Trung quốc và Laporte IN, USA.
 
danlambaovn.blogspot.com
Tác giả: 
 
GS. BS Thạch Nguyễn, GĐ Khoa Tim mạch, Trung tâm Y học St. Mary, Hobart IN, Member of the Board of Trustees, the (American) Society of Cardiovascular and Interventions, WDC, USA. Member, International Work Group, Interventional Section, Trường Môn Tim Mạch Học Hoa Kỳ. GS Thỉnh giảng ĐH Y khoa Nam Kinh, GS danh dự ĐH Y khoa Hà Nội. GS thỉnh giảng Quân y viện 301 của Giải phóng quân Trung quốc, BV Hữu Nghị, BV Nam Kinh., BV Chao Yang, ĐH YK Thủ Đô GS Viện Tim mạch học Lão Khoa, Trung Quốc. Biên tập viên tạp chí Tim mạch học Can thiệp, NJ, Hoa Kỳ; tạp chí y học Trung quốc và tạp chí tim mạch học lão khoa, Bắc Kinh TQ.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: