Tội bẻ cong luật pháp

-Nguyễn Trung-Sự lựa chọn của tôi: Cải cách(HQ3)

-Góc nhìn Alan-Gạch nối giữa giáo dục và tự doNhà xuất bản Dân khí ra cuốn sách đầu tiên(xhds)- 19/3 xử Blogger – Nhà văn Phạm Viết Đào: liệu có “được” mức án thấp nhất như Trương Duy Nhất?/Theo Chép Sử Việt –Tại sao?/Thơ Võ Trung Hiếu  10 điều dối trá từ cuộc họp báo của Putin/Lê Diễn Đức dịch/Theo RFA

Ngôn ngữ của lưỡi cây/Nguyễn Văn Tuấn/ Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

“Trong một nước với 90 triệu dân, mà chỉ có 34 ngàn lượt đọc bài viết của ông Trương Duy Nhất, tức là trong 10 ngàn người chưa đầy 4 người đọc được bài viết của ông. Vậy mà người ta nói là gây hoang mang và làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng (90 triệu người)! Cách khái quát hóa (generalization) của họ phải nói là quán quân tầm cỡ quốc tế về sự hồ đồ và làm cho các nhà xã hội học chuyên về survey phải … khóc.”

Tội bẻ cong luật pháp

Phạm Thị Hoài/Tháng 3, 6, 2014

…”Thật khó hình dung, mười, hai mươi năm, ba mươi năm hay năm mươi năm nữa chúng ta sẽ làm gì với di sản của nền tư pháp Việt Nam hiện tại. Những thẩm phán, đại diện Viện Kiểm sát và các nhân viên tư pháp tham gia các vụ xét xử những người bất đồng chính kiến, mới hôm kia là blogger Trương Duy Nhất, bằng những bản án bỏ túi rồi sẽ phải chịu trách nhiệm gì? Chúng ta hay tự an ủi rằng họ sẽ phải đứng trước tòa án của lương tâm và tòa án của lịch sử. Song lương tâm thường phán quyết có lợi cho chủ của nó. Còn đợi lịch sử xếp xong lịch xét xử thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết từ lâu.”

Ngày 18/11/1976, học giả Robert Havemann, nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất ở CHDC Đức, người được coi là cha đẻ tinh thần của cuộc cách mạng hòa bình năm 1989, viết một bức thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Erich Honecker về việc bạn ông, cũng một nhà bất đồng chính kiến lừng danh, nghệ sĩ Wolf Biermann, bị cấm về nước sau chuyến lưu diễn tại Tây Đức. Havemann từng là bạn tù của Honecker thời Quốc xã, từng viết thư thỉnh cầu Honecker thả một người bất đồng chính kiến khác và được chấp thuận, từng được Honecker che chắn ở một số vụ, và dù đã bị khai trừ khỏi Đảng, cấm giảng dạy, sa thải khỏi trường đại học và Viện Hàn lâm Khoa học, tước mọi chức vụ trong đó có chức đại biểu Quốc hội, ông vẫn coi mình là một người cộng sản.

Bốn ngày sau, 22/11/1976/, tuần tin Spiegel (Tây Đức) đăng bức thư đó. Trong thư, Havemann kêu gọi Honecker cho phép Wolf Biermann được về nước, “trước hết để tránh nhục nhã và thiệt hại cho tất cả chúng ta và uy tín của đất nước ta“, bởi lẽ – nguyên văn: “tất cả những cáo buộc và nghi ngờ rằng Wolf Biermann thù địch với CHDC Đức đều hoàn toàn vô lối. Wolf Biermann đã phê phán, phê phán mạnh mẽ và sắc nhọn. Nhưng những đồng chí ưu tú nhất của chúng ta cũng đã sử dụng vũ khí phê phán mạnh mẽ không khoan nhượng, nhất là khi cần vạch ra những khuyết điểm và nhầm lẫn của chính chúng ta, chẳng phải luôn luôn là như vậy hay sao? Wolf Biermann đã phê phán theo cách đó, phê phán trong tinh thần của người cộng sản. Ai không chịu nổi những lời phê phán ấy là thừa nhận rằng mình không có gì để đáp lại ngoài bạo lực.” Ông phân tích tiếp, với chiến dịch khai trừ Wolf Biermann “các đồng chí đã biến anh ấy thành hình ảnh lí tưởng trong mắt hàng triệu thanh niên Đông Đức. Giờ đây anh ấy là hiện thân của một thứ hi vọng lớn cuối cùng về một chủ nghĩa xã hội mà những thanh niên ấy đã thôi không còn mơ ước.”

Bốn ngày sau, 26/11/1976, Tòa án huyện Fürstenwalde ra lệnh quản thúc Havemann tại gia, vì tội “hoạt động đe dọa đến an ninh và trật tự công cộng“. Nơi ở và toàn bộ gia đình ông bị 200 nhân viên An ninh Quốc gia (Stasi) thay nhau canh gác suốt ngày đêm. Ông bị cấm liên lạc với phóng viên, nhân viên ngoại giao nước ngoài và 70 công dân Đông Đức “có vấn đề” khác. Năm 1979, tòa ra tiếp lệnh khám nhà, tịch thu nhiều tài liệu và đồ đạc, phạt ông một khoản tiền lớn, 10.000 Mark Đông Đức, với tội danh vi phạm Luật Ngoại tệ, vì ông đã cho xuất bản nhiều tác phẩm ở nước ngoài. Đơn kháng án của ông bị bác. Luật sư của ông bị tước quyền hành nghề. Ba năm sau, 1982, Havemann qua đời.

So với ước chừng tổng cộng 250.000 tù nhân chính trị trong vòng 40 năm ở CHDC Đức, những người thậm chí bị tống giam chỉ vì buông một lời nói kháy chính quyền hay Anh Cả Liên Xô, ông Havemann, “kẻ thù số 1 của nhà nước”, với ba năm quản thúc và một khoản tiền phạt có thể coi là còn được luật pháp của đất nước chuyên chính vô sản này nương nhẹ. Song gần hai mươi năm sau khi ông qua đời, 7 thẩm phán và công tố viên của nhà nước Đông Đức đã tham gia vào hai vụ án kết tội ông, đến lượt họ, lại phải ra tòa vì tội Rechtsbeugung: lợi dụng luật pháp, cưỡng đoạt luật pháp, lũng đoạn luật pháp, tha hóa luật pháp, nắn bóp và co giãn luật pháp… để cản trở công lí, nói nôm na là bẻ cong luật pháp.

Một trong những điểm then chốt trong hiệp thương thống nhất giữa hai nhà nước Đức sau Chiến tranh Lạnh là nguyên tắc hòa giải. Không được dùng luật pháp của Tây Đức để phán xử thực tiễn xã hội Đông Đức. Chỉ có thể dùng chính luật pháp của Đông Đức để khôi phục công lí cho những gì đã diễn ra tại đó. Thực tế áp dụng nguyên tắc hòa giải này, sau một phần tư thế kỉ, là một quá trình vô cùng gian nan, đầy tranh cãi, với những câu hỏi còn lại không thể trả lời, những nguyện vọng không thể đáp ứng, những vấn đề khó lòng giải quyết thỏa đáng. Song nó tránh cho nước Đức thống nhất, sau gần nửa thế kỉ chia cắt dân tộc, cảnh hận thù và chia rẽ của “bên thắng cuộc” và kẻ bại trận.

Vụ án xử 7 cán bộ của ngành tư pháp Đông Đức nói trên cho thấy sự phức tạp ấy và là một bài học đáng nghiền ngẫm về tư pháp chính trị. Nó kéo dài gần ba năm, từ 1997 đến 2000. Đầu tiên, Tòa án Tiểu bang Frankfurt/Oder xử cho cả 7 bị cáo trắng án, Viện Công tố kháng nghị. Tiếp theo, Tòa án Tối cao Liên bang ra quyết định hủy bản án, chuyển vụ án về một tòa án tiểu bang khác để xét xử lại. Cuối cùng, Tòa án Tiểu bang Neuruppin, sau 26 phiên tòa, đã kết án 2 trong số 7 người nói trên về tội bẻ cong luật pháp, kết hợp với tội tước đoạt tự do của người khác, liên quan tới lệnh quản thúc Havemann.

Theo kết luận của tòa, hai cán bộ tư pháp của nhà nước Đông Đức này đã biết rõ rằng việc truy tố nhà bất đồng chính kiến Havemann không phải là để thực thi một công lí trên cơ sở xác định sự thật bằng những công cụ của luật pháp, mà trước hết và chủ yếu là để vô hiệu hóa hay triệt tiêu một đối thủ chính trị. Họ đã tham dự với đầy đủ ý thức vào một kịch bản soạn sẵn, được thỏa thuận trước với những cơ quan và cá nhân đứng ngoài ngoài hệ thống tư pháp, với bản án đã định trước ngay từ đầu. Với những bản án bỏ túi và phiên tòa trình diễn đó, họ đã vi phạm chính luật pháp của Đông Đức, nơi nguyên tắc “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cũng được long trọng ghi trên mặt giấy.

*

Khi nhận lệnh quản thúc, ông Havemann tuyên bố: “Tôi đâu có ý định rời khỏi CHDC Đức, vì mỗi bước đi ở đây là một bước ta có thể chứng kiến chế độ đã và đang đánh mất toàn bộ uy tín, chỉ cần vài sự kiện và cú huých từ bên ngoài là đủ để vứt Bộ Chính trị vào sọt rác.” Mười ba năm sau, Bộ Chính trị Đảng SED quả nhiên biến mất. Cựu Tổng Bí thư Honecker cùng vợ tháo chạy khỏi đất nước, trốn vào Đại sứ quán Chile tại Moskva xin tị nạn chính trị.

Nước Đức mất gần 2 thập niên để giải quyết di sản của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Đông Đức. 374 vụ bẻ cong luật pháp với 618 bị cáo được đưa ra xét xử, trong đó 5 người bị phạt tiền, 176 người bị kết án tù, trong đó có 63 thẩm phán, 56 công tố viên, 5 thẩm phán và công tố viên thuộc tòa án quân sự và 41 nhân viên tư pháp khác. 8 trong số này chịu án tù từ 5 đến 10 năm.

Thật khó hình dung, mười, hai mươi năm, ba mươi năm hay năm mươi năm nữa chúng ta sẽ làm gì với di sản của nền tư pháp Việt Nam hiện tại. Những thẩm phán, đại diện Viện Kiểm sát và các nhân viên tư pháp tham gia các vụ xét xử những người bất đồng chính kiến, mới hôm kia là blogger Trương Duy Nhất, bằng những bản án bỏ túi rồi sẽ phải chịu trách nhiệm gì? Chúng ta hay tự an ủi rằng họ sẽ phải đứng trước tòa án của lương tâm và tòa án của lịch sử. Song lương tâm thường phán quyết có lợi cho chủ của nó. Còn đợi lịch sử xếp xong lịch xét xử thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết từ lâu.

© 2014 pro&contra

http://www.procontra.asia/?p=4032

Ngôn ngữ của lưỡi cây

Nguyễn Văn Tuấn
Lưỡi cây ở đây có nghĩa là “lưỡi gỗ”. Gỗ là thứ vô tri vô giác (?). Ngôn ngữ của cái lưỡi cây là thứ ngôn ngữ vô tri và phi nhân tính. Đọc cái tựa đề “Xử 2 năm tù với đối tượng xâm phạm lợi ích của Nhà nước” tôi liên tưởng đến thứ ngôn ngữ của lưỡi cây. (Dù không dám nói là rành tiếng Việt, nhưng tôi đã thấy “xử 2 năm tù” là có vấn đề về cú pháp tiếng Việt).

Tôi có vấn đề với hai chữ “đối tượng”. Theo tôi hiểu thì hai chữ này có nguồn gốc từ loại ngôn ngữ chính trị của Tàu theo chủ nghĩa Mao. “Đối tượng” dịch sang tiếng Anh có nghĩa là “object”, có nghĩa là một thực thể có thể nhìn và sờ. Thấy trong wiki tiếng Việt, người ta định nghĩa tương tự: đối tượng là “cái gì đó hữu hình có thể cảm giác được.” Nhưng chẳng hiểu sao ngày nay “đối tượng” được dùng để chỉ một con người! Có thể nói rằng ngôn ngữ thời nay đã trở thành một thứ ngôn ngữ hành chính hóa (ví dụ như kiểu “người tham gia giaothông”!) Hành chính hóa ngôn ngữ là một cách làm cho xã hội trở nên vô cảm hơn, vô lương tri hơn và phi nhân tính hơn.
Người ta có tên có họ (trong trường hợp này là Trương Duy Nhất), tại sao không gọi người ta bằng tên họ? Rất có thể người ta dùng “đối tượng” để hạ thấp nhân phẩm và hạ nhục người ta? Hạ thấp nhân phẩm bằng cách xem người đó như là một vật thể. Nếu giả thuyết đó đúng thì cách nói như lưỡi cây như thế phản ảnh sự kém văn minh của người viết.
Xin nói ngoài lề một chút về cách dùng từ ngữ cho văn minh và thích hợp. Ngày xưa, trong y khoa người ta hay dùng chữ subject để chỉ người tham gia nghiên cứu, male/female để chỉ giới tính của bệnh nhân. Nhưng có người chỉ ra rằng chữ subject là vô tri, thiếu tôn trọng người tham gia nghiên cứu, còn hai chữ male/female là chỉ giống đực/ giống cái của động vật (thường là chuột), và không thích hợp cho người. Do đó, sau này người ta hay dùng participant hay patient (thay cho subject), và người am hiểu dùng men/women thay cho male/female.
Đọc những thông tin mà tòa dùng để kết án ông Trương Duy Nhất tôi thấy… buồn cười. Ví dụ như đoạn nói rằng ông ấy đăng 11 bài viết và có 34186 lượt truy cập và 483 ý kiến bình luận. Tôi phải hỏi “rồi sao?” Có sao đâu. Mấy con số đó chẳng nói lên điều gì cả. Hay là phía Nhà nước ganh tị vì bài trên web của ông có nhiều người đọc?
Còn đoạn “Các bài viết này có nội dung không đúng sự thật, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước; đưa ra cái nhìn bi quan một chiều gây hoang mang lo lắng, làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước” thì càng … vui hơn nữa. Người viết câu đó nghĩ sao khi ngài Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rằng tham nhũng làm người dân mất niềm tin và đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Nhiều lãnh đạo cao cấp của đảng và Nhà nước hay dùng chữ “tồn vong” và “mất niềm tin”, thậm chí còn nhiều chữ nặng nề hơn nữa (1). Những phát biểu này có gây hoang mang trong quần chúng không? Một ông Trương Duy Nhất nói thì có bao nhiêu người nghe; các lãnh đạo nói mới có hàng chục triệu người nghe.
Nếu ông Trương Duy Nhất viết không đúng sự thật, thì báo chí Nhà nước có nhiệm vụ phản biện lại những gì ông ấy viết, chứ sao lại bỏ tù người ta. Hơn 700 tờ báo mà thua một trang web cá nhân ư? Nhưng ông Trương Duy Nhất tuyên bố trước tòa rằng “Với tư cách nhà báo tự do tôi góp phần cho không khí dân chủ ở Việt Nam, góp phần giúp các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận thức được những vấn đề của đất nước, những suy nghĩ của người dân.” Thật ra, ông Trương Duy Nhất tuyên bố thêm một câu còn hay hơn nữa: “Có những loại tù mà người ta cảm thấy ân hận hay xấu hổ, nhưng trường hợp của tôi thì tôi thấy tự hào.” Đúng quá!
Đọc lại câu đó mới thấy một kiểu suy luận vừa nực cười vừa hồ đồ. Trong một nước với 90 triệu dân, mà chỉ có 34 ngàn lượt đọc bài viết của ông Trương Duy Nhất, tức là trong 10 ngàn người chưa đầy 4 người đọc được bài viết của ông. Vậy mà người ta nói là gây hoang mang và làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng (90 triệu người)! Cách khái quát hóa (generalization) của họ phải nói là quán quân tầm cỡ quốc tế về sự hồ đồ và làm cho các nhà xã hội học chuyên về survey phải … khóc. Khóc cho sự thảm hại của logic. Nếu muốn gán ghép thì cũng cố làm cho thông minh một chút, chứ gán ghép như thế thì phải nói là thấp kém quá.
________________________
(1) Ví dụ như trong bài “Mất dân là mất Đảng, mất chế độ” (Vietnamnet), ông Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam viết: “Nhìn thẳng vào sự thật để thấy thực tế đau lòng là tình trạng xa dân, vô cảm với dân… đang dần trở thành phổ biến. Thực trạng này giảm lòng tin vào Đảng. Đây là điều không được phép xem thường vì mất lòng tin của dân là mất dân; mất dân là mất Đảng, mất chế độ”.
Chủ tịch Trương Tấn Sang nói: “Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ đang bị suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nhưng tôi tin, nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng nếu Đảng kịp thời chỉnh đốn”, và “Mỗi một cán bộ, chức càng cao, quyền càng to thì trách nhiệm trước sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng càng lớn” (báo Người Lao Động 2013)

Share this:

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: