TRUNG CỘNG HIỆN NAY CÓ PHẢI LÀ NƯỚC TIÊU BIỂU CHO TRIẾT LÝ, VĂN HÓA, VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG ?-Kịch bản chính trị dành cho Trung Quốc: Xấu hay rất xấu?

TRUNG CỘNG HIỆN NAY CÓ PHẢI LÀ NƯỚC TIÊU BIỂU CHO TRIẾT LÝ, VĂN HÓA, VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG ?-Chu chi Nam –

Mỹ tố cáo hành động « khiêu khích » mới của Trung Quốc ở Biển Đông/Trọng Nghĩa/Theo RFI –Tội ác của Trung Quốc trong trận chiến Gạc MaPhần âm thanh Tải xuống âm thanhNHÂN DÂN KHẮP NƠI TƯỞNG NHỚ 64 LIỆT SĨ GẠC MA ANH HÙNG(tễu)-Đào Tuấn-1.Pháo đài Cô Lin và cây xương rồng Trường Sa  2.Nước mắt nào hào hùng, nước mắt nào đau thương  3.Nước mắt Mẹ

Kịch bản chính trị dành cho Trung Quốc: Xấu hay rất xấu?

Phạm Chí Dũng

Sau vụ thảm sát ở Côn Minh, bầu không khí động loạn không chỉ áp chế xã hội mà cả với thể chế chính trị ở Trung Quốc. Những dấu hiệu ngày càng rõ nét về suy thoái kinh tế càng gợi cảm cho một cuộc khủng hoảng tương lai của đất nước “vĩ đại” này.

“Voi cưỡi xe đạp” – một hình ảnh mà giới quan sát phương Tây dành tặng cho Trung Quốc, xem ra đang mang tính linh ứng. Một lần nữa chúng ta cần phác ra những kịch bản biến động kinh tế – chính trị với độ dài trước mắt đến năm 2015 cho quốc gia vẫn đang say sưa với chủ thuyết “Trung Quốc trỗi dậy”.

* Kịch bản 1: Kinh tế ổn định, chính trị biến động nhẹ

Đây là kịch bản tối ưu mà những người luôn tự tôn với tư tưởng Đại Hán không thể kỳ vọng nhiều hơn cho một tương lai đầy bất trắc.

Ứng với kịch bản này, nền kinh tế duy trì được sự ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 10%, GDP tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 9-9,5%, thị trường bất động sản không bị vỡ bong bóng, phần lớn các chính quyền địa phương thu xếp trả được nợ cho ngân hàng. Sự ổn định của nền kinh tế Trung Quốc cũng được hỗ trợ bởi khả năng nền kinh tế Mỹ và thế giới không bị rơi vào suy thoái kép, ít nhất trong năm 2014.

Hiện tại, điều kiện kinh tế thế giới đang khá thuận lợi cho kinh tế Trung Quốc, và đây chính là một trong những hỗ trợ lớn lao để Trung Quốc còn tạm giữ được thăng bằng trên thế đu dây giữa tăng trưởng nóng quá khứ và nợ xấu hiện tại.

Tuy nhiên một thực tế không thể phủ nhận là khoảng chênh lệch giàu – nghèo và hố phân cách xã hội vẫn hầu như chưa được cải thiện, nếu không muốn nói là vẫn tiếp tục xu thế giãn rộng hơn. Do đó về mặt xã hội, vẫn tiếp tục xảy ra những cuộc khiếu kiện đất đai, đình công, biểu tình quy mô nhỏ như tình trạng hiện nay. Những mâu thuẫn tại các khu tự trị Nội Mông, Tây Tạng và đặc biệt từ Tân Cương vẫn tiềm ẩn và không loại trừ phát sinh xung đột với quy mô nhỏ và trung bình.

Với những điều kiện kinh tế – xã hội trên, không khí chính trị tiếp tục duy trì ở mức độ bất ổn nhẹ (như hiện nay).Trước mắt, Tập Cận Bình vẫn củng cố được quyền lực và thực hiện chiến dịch “diệt cả hổ lẫn ruồi” cùng kế hoạch cải cách trung hạn. Tuy nhiên, không loại trừ những cải cách này sẽ vấp phải sự phản ứng thù địch từ các nhóm lợi ích dày đặc trong giới quan chứccao cấp Trung Quốc, dẫn đến những âm mưu phản nghịch ngấm ngầm.

Đây cũng là trường hợp mà một giáo sư kinh tế chính trị học của Đại học Havard – Dani Rodrik – cho rằng “Kinh tế tốt không phải luôn là chính trị tốt” (Good economics need not always mean good).

* Kịch bản 2: Kinh tế suy thoái, chính trị biến động tương đối mạnh

Kịch bản này đang có một số dấu hiệu xảy ra khi trong hai năm 2012 và 2013, nền kinh tế Trung Quốc không còn duy trì được sự ổn định khi mức tăng GDP giảm xuống còn 6-7%. Trên thực tế theo giới phân tích độc lập, mức tăng GDP của Trung Quốc chỉ là 3-4%.

Thị trường bất động sản tuy vẫn chưa xuất hiện nhiều dấu hiệu vỡ bong bóng, nhưng nghịch lý là mặt bằng giá treo cao song nợ xấu của các chính quyền địa phương đối với ngân hàng cũng tăng lên. Một báo cáo vào cuối năm 2013 của chính Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã phải thừa nhận số nợ xấu của chính quyền địa phương không phải là 1.500 tỷ USD như công bố vào năm 2011, mà đã lên đến 3.000 tỷ USD.

Cùng với hiện tượng tư bản nước ngoài rút vốn khỏi thị trường tài chính, vận động đi ngang của thị trường chứng khoán mà không thể “cất cánh” như kỳ vọng, và nguy cơ vỡ nợ trái phiếu lẫn phá sản cận kề đối với một số tập đoàn và ngân hàng, Có khả năng bắt đầu từ năm 2015, nền kinh tế Trung Quốc sẽ chính thức dặt chân vào giai đoạn suy thoái, dẫn tới suy thoái nặng nề trong một số năm sau đó cùng tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt.

Ứng với những điều kiện kinh tế trên, làn sóng bất mãn xã hội vốn tích tụ nhiều năm nay có thể tăng lên, thậm chí tăng đáng kể. Có khả năng xuất hiện nhiều hơn số lượng các cuộc khiếu kiện đất đai, đình công, cùng biểu tình đòi quyền dân chủ. Nếu các hoạt động mang tính phản ứng xã hội này có mối liên hệ và cộng hưởng vào một thời điểm nào đó thì có thể dẫn đến những cuộc biểu tình phức hợp, tạo thành phong trào phản kháng mạnh mẽ đa thành phần với quy mô lớn, dẫn đến xáo trộn khá mạnh về không khí chính trị và cũng có thể dẫn đến xung đột với hình thức bạo động, bạo loạn với các cơ quan chính quyền và cảnh sát.

Nếu khả năng trên xảy ra, không có nhiều hy vọng để Bắc Kinh sẽ kiềm chế được hoạt động đòi tự trị, dân sinh và dân chủ tại các khu vực Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông. Hoạt động phản kháng này sẽ trở nên phức tạp hơn hẳn và có thể dẫn đến sự xung đột (bạo động, bạo loạn) ở quy mô lớn tại các khu vực này.

Kịch bản trên vẫn có thể xảy ra đối với Trung Quốc ngay cả trong điều kiện nền kinh tế thế giới không bị rơi vào suy thoái kép.

Đây là kịch bản đang có xác suất xảy ra cao nhất đối với Trung Quốc trong những năm tới.Tuổi thọ tối đa của đảng cầm quyền Trung Quốc ứng với kịch bản này sẽ chấm dứt vào những năm 2022-2023.

* Kịch bản 3: Kinh tế suy thoái, chính trị biến động mạnh

Trong trường hợp xấu nhất, nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kép và kinh tế Trung Quốc cũng chịu hệ lụy tương ứng.Thị trường xuất khẩu của Trung Quốc sẽ bị hạn hẹp đáng kể. Đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc cũng giảm mạnh, kéo theo tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh. Khi đó, GDP Trung Quốc có thể giảm xuống còn 4-5% và lạm phát tăng vọt từ15-20%. Tình hình này gần như chắc chắn sẽ làm cho bong bóng bất động sản bùng vỡ, giá bất động sản giảm rất mạnh (trên 50% hoặc hơn) với thanh khoản kém. Mặt khác, chính quyền địa phương gần như mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng, dẫn đến phản ứng dây chuyền về việc phá sản của một số ngân hàng lớn và làm chao đảo hệ thống tài chính quốc dân.

Những điều kiện kinh tế trên cũng là ngòi nổ cho các hoạt động phản ứng và phản kháng xã hội. Khiếu kiện đất đai, đình công và các biểu tình đòi quyền dân sinh, dân chủ sẽ trở thành các phong trào diễn ra liên tục, quy mô tăng dần, lan rộng tại nhiều tỉnh và thành phố, hoàn toàn có thể dẫn đến xung đột mạnh với chính quyền. Không loại trừ sự kết hợp và cộng hưởng giữa các hoạt động phản kháng xã hội có thể dẫn tới yêu sách thay đổi thể chế chính trị, mà về thực chất có thể xem là “cách mạng hoa nhài” như đã từng xảy ra ở Bắc Phi và Trung Đông vào những tháng đầu năm 2011.

Những điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị trên cũng là nhân tố kích thích các phong trào phản kháng rộng lớn ở Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông.Tương ứng với điều kiện đặc thù về lịch sử của các khu vực này, không loại trừ quá trình xung đột bình thường và tự phát có thể dẫn tới những cuộc xung đột vũ trang có tổ chức và gây nguy hiểm cho sự tồn tại của thể chế chính trị ở Trung Quốc.

Tuổi thọ tối đa của đảng cầm quyền Trung Quốc ứng với kịch bản này sẽ chấm dứt vào những năm 2019-2020.

Nhận định

Trong vài năm qua, khả năng tốt nhất (kịch bản 1) đã gần như trôi qua. Một cuộc “cách mạng” về thể chế kinh tế của Tập Cận Bình tại Hội nghị trung ương đảng vào tháng 11/2013 đã không thể làm được những mục tiêu mà ông ta nhắm tới: mở rộng cơ chế sở hữu đất đai, xóa độc quyền và cải cách hệ thống ngân hàng. Sau đó, vị tổng bí thư đảng kiêm chủ tịch nước này đành phải quay lại phương pháp truyền thống: sáng lập một ủy ban an ninh quốc gia và tìm cách bóp nghẹt các hoạt động dân chủ và nhân quyền.

Chỉ còn khả năng cho hai kịch bản sau, ứng với nền kinh tế đang có dấu hiệu suy giảm và luôn tiềm ẩn một cơn nguy biến về nợ xấu bất động sản và bong bóng tín dụng.

Dù chưa biết kịch bản 2 hay kịch bản 3 sẽ chiếm ưu thế, nhưng điều có thể chắc chắn là đảng cầm quyền ở Trung Quốc sẽ không thể hạ cánh mềm trong tương lai không quá xa.

Tương lai đó có thể kéo dài sự tồn tại của đảng cầm quyền Trung Quốc từ 7-10 năm, như một kết quả khảo sát vào năm 2013 của một cơ quan nghiên cứu Anh quốc.

Và tương lai không mấy sáng sủa như thế cũng có thể tác động đến tình hình Việt Nam, nhưng lại theo một khía cạnh mà đại đa số dân chúng và những người yêu chuộng dân chủ nhân quyền nước Việt đặc biệt mong muốn: một Trung Quốc đang chìm nghỉm sẽ khó có thể can thiệp sâu vào đời sống chính trị và nền kinh tế của người dân Việt.

Thậm chí Bắc Kinh cũng không đủ tiền và nhiệt tâm để cung cấp một “gói kích thích” đủ dày nào, ngay cả khi Hà Nội lâm vào khủng hoảng chính trị trong ít năm tới…

P.C.D.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Ghi chú: Mời xem lại bài “Kịch bản nào về những biến động trong lòng Trung Quốc?” đăng trên Bauxite VN ngày 26/7/2011 của cùng tác giả. Đây là bài viết đầu tiên của nhà báo Phạm Chí Dũng ở “Lề trái”, trước khi anh bị bắt khẩn cấp với tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền” đúng một năm sau đó, vào tháng 7/2012.

 ***

Kịch bản nào về những biến động trong lòng Trung Quốc?

TS. Phạm Chí Dũng

Phần 1. Xu thế phản kháng trong lòng xã hội Trung Quốc

Vòng cung Tây – Bắc và cả nội địa

Bản đồ hành chính Trung Quốc

Khoảng một tháng sau vụ 1.000 người lao động nhập cư từ tỉnh Tứ Xuyên đổ ra đường phố thị trấn Tân Đường, tỉnh Quảng Châu phản ứng dữ dội với cảnh sát và các cơ quan công quyền, vào trung tuần tháng 7/2011, tại khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân cương lại một lần nữa xảy ra bạo động. Những người dân tộc thiểu số Duy Ngô Nhĩ đã tấn công vào một đồn cảnh sát người Hán, làm thiệt mạng 2 cảnh sát và 2 con tin.

Dù hãng tin Tân Hoa xã của Trung Quốc tuyên bố vụ việc Tân Cương trên là hành vi của một nhóm khủng bố, nhưng chỉ có những người mơ hồ về chính trị mới không hiểu được những nguyên cớ thâm sâu về lịch sử trong quan hệ của người Hán với vùng tự trị này. Đó không chỉ là mâu thuẫn đơn thuần về địa giới hành chính mà còn liên quan đến nhiều vấn đề khác như sự cách biệt đáng kể về chính sách mà người Hán được hưởng so với các sắc tộc thiểu số, sự lấn át về văn hóa và tôn giáo mà người Hán đã tạo ra đối với người Duy Ngô Nhĩ…

Tương tự như khu tự trị Tân Cương ở Tây Bắc, các khu tự trị Tây Tạng ở Tây Nam và Nội Mông ở phía Bắc đang trở thành những hiểm họa ngấm ngầm đối với tình trạng an ninh của người Hán sống tại những khu vực này và cả với thể chế chính trị mà Bắc Kinh đang cố gắng duy trì đến chừng nào có thể. Từ năm 2008 đến nay, những hiểm họa này đã có chiều hướng bùng phát và trở thành nguy cơ không hề nhỏ đối với một dân tộc có truyền thống tự tôn cực đoan như người Hán, thu hút sự chú ý của toàn thế giới.

“Gây rối trật tự xã hội” là cụm từ mà các cơ quan tư tưởng và ngôn luận của Trung Quốc thường dùng để chỉ những vụ việc xảy ra ở Nội Mông, Tây Tạng và Tân Cương. Đó thường là những vụ phản ứng theo cách đập phá tài sản của cơ quan công quyền, làm rối loạn giao thông, đốt xe cộ… Nhưng đến khi tình hình trở nên căng thẳng hơn với những vụ người dân tấn công cảnh sát và công chức nhà nước, luồng thông tin tuyên truyền chính thống đã chuyển các vụ tấn công sang “hành động khủng bố”.

Nhưng lại có một mâu thuẫn rất lớn nằm trong chính cách tuyên truyền trên. Bởi nếu quy kết cho những người dân của ba khu tự trị thiểu số là khủng bố thì Tân Hoa xã làm sao giải thích được những vụ việc gần như tương tự cũng đã xảy ra ở ngay trong lòng Trung Quốc, do chính người Hán gây ra? Tại thành phố Phúc Châu, tỉnh giang Tây, một người đàn ông 52 tuổi đã cho nổ ba quả bom trước tòa hành chính thành phố. Trước đó, người đàn ông này đã bày tỏ tình trạng tuyệt vọng trên mạng Internet về việc không thể đòi bồi thường khi bị thu hồi đất đai. Tại thị trấn Hoàng Thạch, tỉnh Hồ Nam, một vụ nổ nhắm vào một đồn cảnh sát đã làm cho đồn này bị phá hủy hoàn toàn, với một cảnh sát thiệt mạng và hai người khác bị thương. Cũng một người đàn ông đã cho nổ bom bên ngoài tòa nhà chính quyền địa phương ở thành phố cảng Thiên Tân làm ít nhất hai người bị thương. Tuy Tân Hoa xã nêu ra lý do hung thủ “muốn trả thù xã hội”, nhưng lại càng làm cho dư luận nghi ngờ về tính chất mù mờ trong tuyên truyền. Ở quy mô phản ứng rộng lớn hơn là vụ hàng ngàn công nhân nhập cư ở Triều Châu, tỉnh Quảng Đông đụng độ với cảnh sát địa phương, sau khi một công nhân nhập cư làm việc tại một nhà máy đồ gốm địa phương bị ông chủ đâm do cãi cọ về chuyện tiền lương, đồng thời cha của nạn nhân cũng bị đánh trọng thương.

Chẳng lẽ tất cả những vụ việc trên đều là hành vi khủng bố? Hoặc cứ giả định đó là khủng bố, thì rõ ràng đối tượng khủng bố không chỉ là những nhóm dân thiểu số mà còn bao gồm cả người Hán, hoạt động khủng bố không chỉ nằm ở những vùng xa xôi mà còn nổ ra ngay trong lòng Đại Hán. Vậy vì lẽ gì mà người Hán lại khủng bố chính đồng bào của mình?

Tất cả những vụ việc bị coi là khủng bố, mà thực chất là phản ứng của xã hội với chính quyền và cảnh sát, đã diễn ra khá đồng loạt trong khoảng thời gian tháng 5-6/2011.Đây cũng là thời gian đã diễn ra sự kiện biển Đông.

Chiến dịch đánh lạc hướng dư luận ra Biển Đông

Hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ rõ, khoảng thời gian tháng 5-6/2011 cũng chính là lúc những người mặc chiếc áo Đại Hán tỏ ra rất nhiệt tình trong việc tung ra các hoạt động gây hấn ở khu vực Biển Đông. “Đường lưỡi bò” là một cái cớ được dựng lên để các tàu hải giám Trung Quốc vi phạm chủ quyền biển của Việt Nam và khiêu khích bằng chuyện cắt cáp tàu Việt Nam.

Cũng trong thời gian đó, như một mật lệnh được thông báo từ trước, làn sóng công phá Việt Nam nổi lên từ hoạt động của những nhóm biểu tình Trung Quốc, báo chí Trung Quốc, cũng như một chiến dịch hacker xâm lấn và phá hoại các website Việt Nam đã được tiến hành. Tất cả đều diễn ra một cách tuần tự và bài bản về hành động lẫn lời ăn tiếng nói. Tất cả đều như tuân theo một kịch bản có sẵn. Tất cả đều trở thành một kiểu cách “vừa ăn cướp vừa la làng” đến mức khiến cho công luận và dư luận người Việt phải phẫn uất và trở thành lý do chính đáng để khối người Việt yêu nước liên tục biểu tình phản đối âm mưu của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuộc chiến về dư luận giữa hai quốc gia một lần nữa lại nổi lên.

Một hiện tượng rất đáng chú ý là trong phần lớn thời gian Trung Quốc can thiệp vào chủ quyền biển của Việt Nam và Philippines, số vụ việc “trả thù xã hội” trong lòng quốc gia này đã giảm hẳn. Ngay cả những nhân sĩ tiên phong của phong trào đòi quyền dân chủ như họa sĩ Ngải Vị Vị cũng lắng lại.Cùng với những biện pháp cương – nhu xen kẽ, dường như chính quyền Trung Quốc đã tương đối đạt được mục đích tạm ổn định tình hình chính trị – xã hội của họ.

Hiển nhiên là chiến dịch định hướng công luận và dư luận nhằm chỉ trích, lên án “Việt Nam vi phạm chủ quyền lãnh hải Trung Quốc” đã hướng dư luận trong nước ra Biển Đông, vô hình trung làm dịu bớt làn sóng bất mãn ở các khu tự trị lẫn bất bình từ lớp người có thu nhập thấp và từ giới trí thức tại Trung Hoa đại lục.

Cũng bởi thế, việc Trung Quốc chỉ dùng tàu hải giám để can thiệp vào vùng biển Việt Nam chứ không phải tàu quân sự, cùng những động tác khiêu khích và gây hấn dích dắc luân phiên, rất có thể nhằm mục đích kéo dài thời gian để kéo dư luận trong nước hướng về sự tranh chấp biển đảo, nhưng lại không chủ trương làm căng thẳng quá mức vấn đề tranh chấp. Minh họa điển hình cho chủ trương này là khi Philippines tỏ ra cứng rắn thì ngay lập tức Trung Quốc đã phải đấu dịu.

Từ chiến dịch tuyên truyền về tranh chấp Biển Đông của Trung Quốc, chúng ta có thể rút ra một nhận xét là trong những điều kiện bình thường, khi mối quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc với các nước láng giềng có liên quan đến quyền lợi của Trung Quốc chỉ mang tính va chạm cục bộ và nhỏ lẻ, Trung Quốc thường khá mặn mà với chiêu thức ngụy tạo những nguyên cớ để gây xung đột nửa vời, đồng thời sử dụng cơ quan tư tưởng và giới truyền thông để chuyển hướng dư luận trong nước ra nước ngoài. Trong những năm tới, những chiến dịch như vậy hoàn toàn có thể được lặp đi lặp lại, tất nhiên tùy điều kiện phát sinh mà nội dung và mục tiêu chiến dịch sẽ được thay đổi cho phù hợp hơn.

Cũng từ chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc, chúng ta có thể rút ra một đánh giá cơ bản về tình hình nội tại của quốc gia này. Vào những năm trước, giữa Trung Quốc và những quốc gia có liên quan đến khu vực Biển Đông cũng xảy ra va chạm, thậm chí xung đột, nhưng đã không diễn ra một chiến dịch tuyên truyền lớn như vừa qua của Trung Quốc. Đó cũng là khoảng thời gian mà tình hình chính trị Trung Quốc được xem là khá ổn định, không xảy ra các phong trào đòi quyền dân chủ của các nhân sĩ trí thức bất đồng chính kiến, cũng chỉ lẻ tẻ diễn ra một số phản ứng xã hội của những nhóm người dân khiếu kiện đất đai và hoạt động đình công. Nhýng ðến nay, khi các sắc thái phản ứng xã hội đã trở nên gay gắt và dễ bộc lộ hơn nhiều, việc Trung Quốc phải tổ chức một chiến dịch tuyên truyền công phu cũng cho thấy tình hình chính trị và nhiều vấn đề xã hội của quốc gia này không thật sự tốt đẹp như họ thường tuyên bố.

Nói cách khác, hiện giờ chính quyền Trung Quốc đang phải đối mặt với rất nhiều mối lo nội tại.Vậy đó là những mối lo gì?

Ngay trước mắt, Trung Quốc đang phải đối mặt với ít nhất hai khó khăn rất lớn. Khó khăn thứ nhất thuộc về kinh tế như nạn lạm phát, sự sa sút trong tăng trưởng GDP, bong bóng của thị trường bất động sản. Khó khăn thứ hai là các vấn đề xã hội như tham nhũng, khiếu kiện đất đai và đình công, phân hóa giàu nghèo, kể cả làn sóng người giàu di cư ra nước ngoài.

Những khó khăn kinh tế

Vào quý 2/2011, mặc dù tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc vẫn đạt đến 9,5%, nhưng đà tăng đã bị giảm sút đôi chút so với quý 1/2011 (9,7%). Tình trạng chững lại của GDP đã gây nên sự lo lắng mơ hồ đối với các nhà quản lý kinh tế của Bắc Kinh khi vào giữa năm 2008 – thời kỳ gay gắt của khủng hoảng kinh tế thế giới – Trung Quốc vẫn đạt GDP trên 10%, còn vào năm 2007 tỷ lệ tăng trưởng GDP cao điểm là 13%. Do chính quyền bắt buộc phải liên tục nâng lãi suất cơ bản (từ cuối năm 2010 đến giữa tháng 6/2011 đã 5 lần nâng lãi suất cơ bản) để hạn chế lạm phát, tín dụng cho sản xuất cũng theo đó bị siết chặt, dẫn đến GDP giảm dần.

Trái ngược với đà giảm sút của GDP là đường biểu diễn tăng dần của tỷ lệ lạm phát. Nếu vào tháng 7/2010, tỷ lệ lạm phát ở Trung Quốc chỉ khoảng trên 3%, thì đến giữa năm 2011, lạm phát đã tăng hơn 6%. Lạm phát tăng khiến giá cả hàng hóa tăng theo và chính quyền trung ương buộc phải thắt bầu tín dụng, lại càng làm cho lĩnh vực sản xuất khó khăn hơn.

Một phần không nhỏ – khoảng 2,5-3% trong cơ cấu GDP – được đóng góp từ khu vực bất động sản. Trong giai đoạn 2009 – 2011, khu vực này đã tăng trưởng rất mạnh, tạo nên một mặt bằng giá mới cao hơn hẳn thời điểm sau khủng hoảng kinh tế 2008. Tuy nhiên với tình trạng giá nhà ở Bắc Kinh đã tăng đến hơn 8 lần từ năm 2005 đến nay, bất cứ người dân Trung Quốc nào cũng có thể nhìn rõ là giá nhà đất đã bị các công ty bất động sản đẩy lên quá cao, vượt quá xa sức mua và mặt bằng thu nhập của người dân có thu nhập trung bình và dưới trung bình. Do vậy, một khi giá nhà đất bị kéo xuống theo quy luật điều tiết tự nhiên, nguồn thu về bất động sản của các công ty bất động sản và các chính quyền địa phương tất yếu sẽ giảm mạnh, kéo theo đà giảm sút tiếp nối của GDP.

Riêng đối với chính quyền địa phương, nguồn thu về bất động sản thường chiếm khoảng 60% trong cơ cấu thu của họ, mà các chính quyền này lại đang mang nợ khoảng 2.200 tỷ USD đối với Ngân hàng trung ương Trung Quốc. Do vậy nếu thu không đủ thì có khả năng nhiều chính quyền địa phương sẽ phải đối mặt với tình thế vỡ nợ và làm lây lan đến sự tồn vong của một số ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc.

Sau giai đoạn khủng hoảng năm 2008 với mức tăng GDP có lúc thấp nhất chỉ còn hơn 6%, nền kinh tế Trung Quốc đã có một sự phục hồi khá thần kỳ khi dần lấy lại nhịp tăng trưởng mạnh mẽ vào thời kỳ năm 2006-2007.Khi đó, chỉ có rất ít ý kiến của chuyên gia nước ngoài tỏ ra quan ngại về tình trạng tăng trưởng quá nóng của đất nước này. Một phần khác, do kho dự trữ ngoại hối của Trung Quốc thường xuyên trên dưới 3.000 tỷ USD, đứng thứ hai trên thế giới sau Mỹ, nên khó có mối quan ngại nào có cơ sở. Thậm chí ngay cả khi thị trường bất động sản Trung Quốc tăng trưởng quá nóng, giới chuyên gia cũng chỉ dám đề cập đến bong bóng bất động sản chứ ít khi nói đến bong bóng kinh tế.

Song trong thời gian gần đây, những tổ chức phân tích độc lập của quốc tế như Moody và Fitch đã có cái nhìn khác hơn về kinh tế Trung Quốc.Theo Moody, tuy gần đây Trung Quốc đã phải công bố số nợ của các chính quyền địa phương là 1.650 tỷ USD, nhưng số liệu này còn thấp hơn ít nhất 500 tỷ USD so với con số thực tế.

Sự khác biệt giữa con số thống kê chính thức với thực tế vẫn luôn là một vệt mờ trong tính minh bạch của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế phát triển bình thường và Trung Quốc không phải chịu nhiều áp lực, vệt mờ này có thể chỉ nằm ở một góc nhỏ nào đó trong bức tranh kinh tế tổng thể. Nhưng nếu nền kinh tế bắt đầu xuất hiện những nhược điểm tồi tệ, vệt mờ đó rất có thể sẽ nhanh chóng trở thành một đám mây mờ có thể che lấp cả mặt trời Trung Hoa và góp thêm một yếu tố tiêu cực làm cho nền kinh tế mau chóng bị rơi vào tình trạng mất thăng bằng hơn.

***

Phần 2. Phân cực xã hội: an nguy lớn nhất của Trung Quốc

Trong Phần 1 – “Xu thế phản kháng trong lòng xã hội Trung Quốc”, bài viết đã tóm tắt thực trạng của hiện tượng phản kháng xã hội đang diễn ra trong lòng xã hội Trung Quốc, xuất phát từ các vùng tự trị Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và từ cả một số tỉnh, thành phố trong nội địa. Đó chính là nguyên cớ chủ yếu dẫn đến chiến dịch của Trung Quốc nhằm đánh lạc hướng dư luận trong nước ra khu vực biển Đông thuộc Việt Nam.

Trong Phần 2, bài viết tiếp tục phân tích những an nguy nội tại mà Trung Quốc hiện phải đối mặt.

Ẩn số từ bong bóng bất động sản

Liên quan đến tính minh bạch của nền tài chính Trung Quốc, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody ước tính nợ xấu trong ngành ngân hàng Trung Quốc có thể lên tới 8 đến 12%, trong khi con số công bố chính thức chỉ là 1,2%. Còn nhớ vào đầu năm 2011, Fitch đã ước tính nợ xấu của Trung Quốc có thể chạm tới mức 30%. Với mức độ nợ xấu này, nhóm doanh nghiệp nhỏ – là nhóm mang lại khoảng 80% việc làm cho người Trung Quốc nhưng gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận với tín dụng – sẽ chịu tác động tiêu cực nhất.

Với những khó khăn hiện tại và thiếu minh bạch trong tài chính Trung Quốc, Moody và Fitch đã bắt đầu tính toán đến khả năng nền kinh tế quốc gia này rơi vào tình huống xấu hơn, thậm chí là tồi tệ hơn. Theo cách nhìn của các tổ chức này, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phải chịu sự chấn động khi tốc độ tăng trưởng kinh tế dưới 7% – sẽ xảy ra khi lạm phát quá cao hay thị trường bất động sản bị đảo ngược về tăng trưởng. Nếu kinh tế Trung Quốc bị chấn động, chính phủ Trung Quốc sẽ phải chi tiêu mạnh tay cho các kế hoạch giải cứu, tái cấp vốn. Nhóm chính sách này sẽ tác động không nhỏ đến Đài Loan, Úc và Chilê.

Cách đây không lâu, Roubini, một chuyên gia thượng thặng của Mỹ, người đã từng dự đoán chính xác về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, đã tiên đoán Trung Quốc sẽ phải chịu một sự hạ cánh không an toàn (hay còn gọi là “hạ cánh cứng”) vào năm 2013 khi các khó khăn về lạm phát, sự sụt giảm của GDP, khả năng tan vỡ của bong bóng bất động sản cùng lúc tác động lên nền kinh tế Trung Quốc.

Khá tương đồng với Roubini, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch gần đây cũng đã cảnh báo có đến 60% khả năng Trung Quốc có thể rơi vào một cuộc khủng hoảng ngân hàng từ giữa năm 2013 trở đi. Vậy tác nhân nào có thể tạo nên sự chấn động đối với hệ thống ngân hàng?Chỉ có thể là lĩnh vực đầu tư địa ốc với quá nhiều hình ảnh đầu cơ không giới hạn.

Hiện thời, một lý do khá dễ hiểu cho sự dao động kéo dài tại vùng đỉnh của mặt bằng giá nhà đất Trung Quốc là vẫn có những nhóm lợi ích tiềm tàng không muốn (hoặc chưa muốn) chỉ số giá địa ốc bị sụt giảm mạnh. Đó là các ngân hàng thương mại – nơi giữ cửa các món vay khổng lồ cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, và chính quyền các địa phương – những nơi có không khí tăng giá nhà đất nóng sốt. Tất cả đều liên quan đến nguồn thu thường xuyên, hợp pháp cũng như bất hợp pháp, của các tổ chức và cá nhân. Với lý do đó, điều đương nhiên là sẽ khó có một cuộc đổ vỡ ngay lập tức của bong bóng bất động sản ở Trung Quốc, mặc dù quả bong bóng này đã được định dạng từ lâu nay. Nguồn tín dụng sẽ tiếp tục được chảy vào một số doanh nghiệp bất động sản, dù có khắt khe hơn trước.

Do vậy, thị trường bất động sản Trung Quốc là một ẩn số lớn đối với tương lai nước này. Từ đầu năm 2011 đến nay, kinh tế Trung Quốc đã bị bao phủ bởi nguy cơ lạm phát. Việc chính phủ Trung Quốc thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ dù có hạn chế được tỷ lệ lạm phát nhưng lại dẫn đến giảm sức tăng trưởng – yếu tố vốn đang có xu hướng giảm. Mặt khác, việc thắt chặt tín dụng sẽ đương nhiên làm giảm đi sức cầu tiềm tàng đối với thị trường bất động sản và càng làm cho thị trường này khó tiêu thụ hàng hóa, trong bối cảnh doanh thu tại nhiều thành phố đang bị giảm sút trông thấy. Điều này đương nhiên càng làm cho khả năng trả nợ của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp bất động sản cho ngân hàng trung ương Trung Quốc vô vọng hơn.

Trong trường hợp ngược lại, bong bóng bất động sản trở nên hiện hữu thì hậu quả bùng vỡ của nó có thể làm sụt đến 3% GDP của Trung Quốc và sẽ tác động tức thì hệ thống ngân hàng nước này và dẫn tới những hậu quả xã hội khó lường.

Hố phân cực đã quá lớn

Tại Trung Quốc, hiện thực “hố đen” không chỉ tồn tại trong quan hệ cung – cầu bất động sản mà đã từ lâu tồn tại bởi mức chênh lệch giàu-nghèo lên đến 65 lần giữa 10% dân số có thu nhập cao nhất và 10% công dân có thu nhập thấp nhất tại Trung Quốc.

Trước khi con sóng phục hồi bất động sản hình thành vào giữa năm 2009, đa số người dân nước này đã phải thắt lưng buộc bụng để dành tiền mua nhà. Song khi con sóng ấy bất thần dâng cao, nó thật giống với một cơn đại hồng thủy lừng lững đổ ập xuống đầu người tiêu dùng – tầng lớp thấp cổ bé họng còn chưa kịp hoàn hồn sau cơn địa chấn khủng hoảng kinh tế năm 2008.

Cho đến nay, giới có thu nhập trung bình ở Trung Quốc vẫn không thể mơ tưởng đến một căn hộ dù là giá bình dân, vì sau đợt tăng bất động sản năm 2009-2010, cho đến nay sự thật đơn giản là bong bóng bất động sản Trung Quốc vẫn chưa chịu nổ. Sự xì hơi chậm chạp của nó, được chứng minh bởi chỉ có 9/70 thành phố có giá nhà đất giảm nhẹ trong 6 tháng đầu năm 2011, đã làm dấy lên sự công phẫn từ tầng lớp bình dân đối với giới đại gia địa ốc của nước này.

Cần nhắc lại, vào tháng 10/2009, những người giàu nhất của Trung Quốc đã được thống kê thành nhóm “10”. Trong số 10 đại gia có tài sản trên 4 tỷ USD ấy, có đến 7 người kinh doanh các lĩnh vực tài chính và bất động sản. Chỉ có ba đại gia khác thuộc về các ngành ô tô, linh kiện điện thoại, nhôm.

Vào tháng 8/2010, Tập đoàn tài chính Credit Suisse của Thụy Sỹ đã trở thành tổ chức phân tích độc lập đầu tiên nêu ra thực trạng về “quỹ đen” của giới thượng lưu Trung Hoa. Theo một nghiên cứu kéo dài nhiều năm của tập đoàn tài chính Thụy Sĩ này, các hộ gia đình Trung Quốc đã che giấu khoảng 9.300 tỷ nhân dân tệ (tương đương 1.400 tỷ USD) không được công bố trong báo cáo thu nhập cá nhân. Số tiền khổng lồ này, chủ yếu bất hợp pháp hoặc hợp pháp nửa vời, tương đương với 30% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của toàn đất nước Trung Quốc.

Credit Suisse cũng nhận định rằng hầu hết tài sản ngầm nằm trong túi các gia đình giàu, với nhóm 20% dân số giàu nhất sở hữu tới 81,3% của con số 1.400 tỷ USD. Lần đầu tiên, thế giới được biết đến Trung Quốc bằng vào một sắc mặt khác: tình trạng bất bình đẳng về thu nhập đã được đẩy lên rất cao.

Phản ứng xã hội lại đang đi trước những hậu quả về kinh tế. Các kế hoạch cung cấp nhà cho người có thu nhập thấp ngày càng xa vời trong thực tế. Một phần trong số đối tượng có thu nhập thấp ấy chắc chắn là những người dân có đất đã bị doanh nghiệp kinh doanh bất động sản “lấy cắp” khi chỉ đền bù cho họ 1/10 hay 1/20 cái giá trị mà lẽ ra chính họ phải được hưởng khi thị trường đạt đỉnh.

“Nước nghèo giàu có”!

Hãy khoan bàn đến vấn đề Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông – những khu vực bị người Hán kỳ thị – mà ngay cả nội tình giữa những người Hán với nhau cũng đang diễn ra sự kỳ thị trầm trọng.

Hố phân cách giàu nghèo quá lớn ở Trung Quốc đang dẫn đến thái độ được coi là “thù địch” của người nghèo đối với người giàu. Gần đây đã xuất hiện một khái niệm mới của giới phân tích phương Tây: Trung Quốc là một “nước nghèo giàu có” đầu tiên trên thế giới, được minh chứng bởi tình trạng người dân thì nghèo nhưng tổng khối lượng kinh tế của cả nước thì lại rất giàu.

Credit Suisse đã khẳng định thêm một sự thật khác rằng Trung Quốc là một trong những nước có khoảng cách giàu nghèo lớn nhất thế giới, cao hơn nhiều so với công bố chính thức: nhóm 10% dân số giàu nhất có thu nhập bình quân đầu người 97.000 nhân dân tệ, tương đương 14.280 USD, cao gấp 65 lần so với nhóm 10% nghèo nhất. Trong khi đó, báo cáo từ Cục thống kê Trung Quốc đưa ra tỷ lệ phân cách chỉ 23 lần (năm 2010). Còn trước đó vào năm 2008, cũng Cục thống kê Trung Quốc đã đưa ra tỷ lệ phân cách chỉ có 9 lần, trong khi một cuộc điều tra độc lập của giáo sư Vương Tiểu Lỗ thuộc Quỹ Cải cách Trung Quốc đã cho thấy khoảng cách này lên đến 25 lần.

Thực tế là tại nhiều vùng xa thành thị ở Trung Quốc, mặt bằng thu nhập bình quân của người dân vẫn còn rất thấp, những điều kiện sống và môi trường giáo dục, y tế, đi lại không được đảm bảo so với tất cả những gì tốt nhất mà giới giàu có được hưởng. Theo cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng Trung Quốc, đến cuối năm 2009, hơn 50 địa phương thuộc 3 tỉnh nghèo nhất của Trung Quốc là Tây Tạng, Vân Nam và Tứ Xuyên vẫn chưa có dịch vụ ngân hàng. Điều này có nghĩa rằng người dân những nơi này không hề có các dịch vụ tài chính cơ bản.Chính vì thế, làn sóng người nhập cư vào các thành phố lớn ngày càng mạnh mẽ và tất nhiên cũng gây ra nhiều rắc rối cho chính quyền sở tại.

Hệ số Gini (thước đo mức phân phối thu nhập trong một xã hội) ở các vùng nông thôn đã tăng từ 0,35 lên đến 0,38 trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, cho thấy sự bất bình đẳng ngày càng tăng trong khu vực này. Theo chuẩn quốc tế, hệ số Gini ở mức 0,4 cho thấy sự bất bình đẳng ở mức nguy hiểm.

Những nguồn cơn của hố phân cực

Sự bức xúc và bất mãn của dân chúng cũng căn cứ vào vấn nạn ngày càng nhiều quan chức nhà nước tìm cách tuồn nguồn tiền có được từ tham nhũng ra tài khoản ngân hàng nước ngoài, gửi vợ con ra nước ngoài và đến lượt mình có thể sẽ “biến” ra nước ngoài một khi có điều kiện thuận lợi.

Một điểm trùng hợp cũng cần ghi nhận là tỷ lệ “quỹ đen” của giới nhà giàu Trung Quốc chiếm đến gần 1/3 GDP, lại bằng với giá trị tham nhũng tại quốc gia này – cũng khoảng 1/3 GDP. Nhà nghiên cứu Vương Tiểu Lỗ của Quỹ Cải cách Trung Quốc đã tìm ra con số tham nhũng lên đến 9.600 tỷ NDT (khoảng 1.500 tỷ USD). Với những quan chức nằm trong diện tham nhũng đậm đà như thế, hiển nhiên cách thức an toàn nhất của họ là đi theo xu hướng di cư của giới giàu có ra nước ngoài, vừa có thể rửa tiền bất chính, vừa an toàn hơn hẳn so với việc tiếp tục ở lại trong nước.

Vào tháng 6/2011, một công bố khá bất thường của Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã cho thấy các quan tham Trung Quốc đã gửi ra nước ngoài đến 120 tỷ USD trong giai đoạn 1990-2008. Những địa chỉ được ưa chuộng gửi tiền là Mỹ, Australia, Canada và Hà Lan. Cùng với sự bốc hơi tài chính là sự bốc hơi về con người khi có đến 16.000 – 18.000 quan chức và nhân viên các công ty quốc doanh đã rời khỏi Trung Quốc.

Hiện tượng giàu đột biến ở Trung Quốc cũng kéo theo một hiện tượng xã hội ở quốc gia này: nhiều người nghèo đã công khai chỉ trích lớp người thượng lưu muốn rời khỏi Trung Quốc là “không có lòng yêu nước”.

Việc người giàu Trung Quốc di cư ra nước ngoài đã trở thành một hiện tượng xã hội từ năm 2006-2007.Trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, hiện tượng này tạm lắng đi. Nhưng sang năm 2009 và đến giữa năm 2010, giới giàu có Trung Quốc đã công khai bàn tán chuyện chỉ mất nửa triệu USD để có một tấm thẻ xanh ở Mỹ hay Canada.

Vào tháng 5/2011, một cuộc điều ra của công ty tư vấn Bain đã cho thấy có đến 60% người giàu Trung Quốc mong muốn định cư ở nước ngoài. Đây là số người giàu với tài sản bình quân trên 10 triệu USD.Trong số 2.600 người được điều tra, ít nhất có 10% gần như hoàn tất mọi thủ tục xuất cảnh. Theo Bain, càng giàu họ lại càng muốn ra nước ngoài. Đối với những ai đang có hơn 100 triệu nhân dân tệ, 27% đã rời Trung Quốc, còn 47% đang cân nhắc ra đi. Bến đỗ mới của những người này tập trung vào các quốc gia phương Tây như Mỹ, Canada, Australia hoặc một số nước châu Âu.

***

Phần 3. Ba kịch bản về những biến động trong lòng Trung Quốc

Trong hai phần đầu, – “Xu thế phản kháng trong lòng xã hội Trung Quốc”, và “Phân cực xã hội: an nguy lớn nhất của Trung Quốc” – bài viết đã phân tích xu thế phản kháng xã hội xuất hiện trong lòng xã hội Trung Quốc và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phản kháng, trong đó chủ yếu xuất phát từ hố phân cực giàu nghèo quá lớn. Cùng với vấn đề sắc tộc thiểu số ở vòng cung Tây – Bắc, đó chính là nguồn cơn có thể dẫn đến những biến động chính trị – xã hội trong lòng Trung Quốc trong 2-3 năm tới, được tác giả phân tích và dự báo trong Phần 3 của bài viết này.

Sự oán giận của người dân

Những hậu quả trầm trọng về kinh tế bao giờ cũng kéo theo ảnh hưởng lớn lao về xã hội, hằn đậm trong ý thức của tầng lớp “dưới đáy” một tư tưởng được coi là thù địch với lớp người giàu có – điều luôn có tiền lệ ở Trung Quốc. Rồi khi những hệ quả xã hội vốn không được giải quyết và lại có nguy cơ dẫn đến tình trạng xáo trộn và bùng nổ, khi đó tình thế của nền kinh tế mới thật sự trầm kha.

Trong quốc gia “nước nghèo giàu có”, rất nhiều người dân bị mất đất vào tay các doanh nghiệp bất động sản đã phải chứng kiến đất đai của họ bị thổi giá lên đến hàng chục lần so với giá đền bù. Đó cũng là điều mà Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã phải công khai thừa nhận là “sự oán giận của người dân” (có tác giả dịch là “sự căm phẫn của người dân”). Do đó không có gì ngạc nhiên khi liên tiếp trong những tháng gần đây, tại Trung Quốc đã xảy ra hàng loạt vụ biểu tình của người dân khiếu kiện đất đai, của giới sinh viên ở Nội Mông, của người nhập cư ở Quảng Châu và Quảng Đông, kể cả những vụ đánh bom vào các cơ quan công quyền ở Thiên Tân. Từ sau vụ Thiên An Môn năm 1989, bầu không khí xã hội đã một lần nữa trở nên căng thẳng với màu sắc đối đầu hơn là đối thoại.

Với vùng tự trị Tân Cương, rõ ràng tình hình mấy năm nay đã thoát khỏi tầm chế ngự của không khí đối thoại. Thực chất, đó là một cuộc bạo loạn vừa mang tính tự phát, nhưng cũng manh nha được tổ chức bởi các nhóm sắc tộc Duy Ngô Nhĩ. Gần hai trăm người chết của cả hai phía Duy Ngô Nhĩ và người Hán vào năm 2008 đã cho thấy tính trầm trọng đến thế nào của vụ xung đột này.

Cũng tương tự quá trình tích tụ từ lâu nay đối với người dân tộc thiểu số, hàng loạt vụ đánh bom của người Hán vào cơ quan công quyền và cảnh sát, điều trước đây chưa từng xảy ra, đã khẳng định điều mà Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo thừa nhận là “sự căm phẫn của người dân”, chứ chẳng phải là một cụm từ nào nhẹ nhàng hay né tránh như cơ quan thông tin Tân Hoa xã vẫn thường phát đi.

Trên tất cả, những vụ việc phản ứng của người dân, dù là người dân tộc thiểu số hay người Hán, đều xuất phát từ bất công xã hội được tích tụ theo thời gian và được đẩy lên quá ngưỡng chịu đựng của những nạn nhân bị trắng tay mà không nhìn thấy một tia sáng nào từ công lý.

Trong một số nghiên cứu về tình hình Trung Quốc, đa số các chuyên gia nước ngoài đều thừa nhận quốc gia này có hệ thống chính trị khá vững mạnh, trong đó xương sống của chế độ là sự trung thành của quân đội. Trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989, khi quân đội thi hành lệnh bắn vào sinh viên biểu tình, kể cả dùng xe tăng để nghiến nát người biểu tình, những hình ảnh kinh hoàng và dã man như thế đã được truyền đi khắp thế giới. Thế nhưng điều lạ lùng là sau đó sự kiện này đã được Bắc Kinh xoa dịu, còn mối quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa Trung Quốc với Mỹ và các nước khác lại trở về nhịp sinh hoạt bình thường trước đó.

Tuy nhiên từ năm 1989 đến nay, thời gian đã trôi qua gần một phần tư thế kỷ.Đó là một khoảng thời gian đủ dài để nhiều chuyện thay đổi. Khác hẳn với năm 1989, tình trạng phân hóa giàu nghèo hiện nay ở Trung Quốc đã trở nên quá trầm trọng, sự đan xen hoàn toàn không rõ rệt giữa đường lối “chủ nghĩa xã hội hài hòa theo kiểu Trung Quốc” với quá nhiều bất công kinh tế và xã hội mà chỉ thường diễn ra vào thời kỳ đầu của “chủ nghĩa tư bản dã man” đã dần biến xã hội Trung Quốc thành một thứ nhà kho lộn xộn về ý thức hệ. Trong bối cảnh lộn xộn đó, thật khó có được một đánh giá hoàn hảo về sự trung thành của quân đội, khi phần lớn sĩ quan và binh lính đều có gia đình và người thân liên quan đến sự thất vọng từ các bất công xã hội.

Văn Cầm Hải – một nhà văn và cũng là nhà nghiên cứu lịch sử ở nước ngoài – cho rằng chính sách ngoại giao lòng dân của Trung Quốc đã bị thất bại ở Tây Tạng. Trong một chuyến đến vùng Nội Mông, ông đã viết lại những ghi nhận của mình: “Tôi đã biết về sự nhẫn nhịn của người sa mạc qua một người bạn Mông Cổ mời tôi ăn thịt nướng trong đêm mưa ở Lan Châu – thủ phủ tỉnh Cam Túc. Anh ta khuyên tôi rằng, nếu muốn giết sói, hãy cho nó chạy và hú đến lúc nào nó quỵ xuống vì sức lực mà chúng bỏ ra!…Trung Quốc cần có một sự thay đổi tận gốc quan điểm lịch sử và thời đại về sức mạnh và sự tồn tại hài hòa của mình với thế giới. Nếu không thay đổi, dù có bỏ ra hàng tỷ đô la, dù có hào nhoáng kết nối với chính quyền bản địa bằng những thỏa thuận hay kiềm chế chính trị nhưng không thể nào mua được lòng dân, Trung Quốc sẽ quỵ ngã bởi chính sức mạnh hung hãn của mình, như hình ảnh con sói mà người Mông Cổ từng nói với tôi trong đêm mưa ở Lan Châu”.

Chính trị không phải tự thân vận động, cũng như các nhóm đòi quyền dân chủ ở Trung Quốc sẽ khó có thể đạt được nguyện vọng của họ chỉ đơn thuần bằng những khẩu hiệu có vẻ như hơi trừu tượng và ít liên hệ đến đời sống hàng ngày của tầng lớp bình dân. Nhưng nếu chính trị bị tác động bởi nguyên cớ xác đáng là những bức xúc, bất mãn xã hội thì tự thân chính trị có thể bị thay đổi. Trong trường hợp Trung Quốc, bức xúc xã hội lại bắt nguồn từ đời sống kinh tế và thu nhập – điều quá khó để có thể thay đổi vào lúc này.

Ba kịch bản về những biến động trong lòng Trung Quốc

Vậy với những dấu hiệu và mầm mống đã và đang phát sinh trong lòng mình, liệu trong tương lai có thể xảy ra những kịch bản biến động nào ở quốc gia này?

Với chính thể Bắc Kinh, có lẽ yếu tố tiên quyết họ phải giữ bằng được là sự ổn định về kinh tế và làm dịu bớt những căng thẳng giàu – nghèo. Chẳng hạn vào tháng 7/2011, chính phủ Trung Quốc đã thông báo một kế hoạch đầu tư đến 138 tỷ nhân dân tệ (21 tỷ USD) trong 5 năm tới để tài trợ cho 226 dự án lớn tại Tây Tạng, tập trung vào cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng và bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên nền kinh tế Trung Quốc trong 2-3 năm tới lại phụ thuộc rất lớn vào ba ẩn số là chỉ số lạm phát, mức tăng trưởng GDP và độ bền vững của thị trường bất động sản.Theo cách nhìn của chúng tôi, đối với trường hợp Trung Quốc trong bối cảnh thế giới hiện nay, kinh tế sẽ là yếu tố mang tính quyết định đến chính trị tại quốc gia này.

Thời gian trung hạn từ năm 2011 đến 2013 sẽ quyết định việc nền kinh tế Trung Quốc có vượt qua được thử thách lớn hay không. Trong thời gian đó, sự biến thiên của 3 ẩn số kinh tế lạm phát, GDP và bất động sản sẽ tác động trực tiếp đến phản ứng xã hội và do đó sẽ dẫn dắt dây chuyền sang hệ quả chính trị. Nếu các ẩn số này trở nên xấu hơn, kế hoạch đầu tư của chính quyền trung ương cho các vùng tự trị cũng đương nhiên bị hạn chế nhiều, đồng thời có thể dẫn đến cả sự thay đổi về đường lối và thậm chí là thể chế chính trị.

Tùy vào mức độ biến thiên của ba ẩn số trên, trong khoảng thời gian 2011-2013 và có thể sau đó 1-2 năm, nội tại Trung Quốc có thể xảy ra một số kịch bản biến động được chúng tôi phân tích và dự báo dưới đây:

* Kịch bản 1: Kinh tế ổn định, chính trị biến động nhẹ

Nền kinh tế duy trì được sự ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 10% trong năm 2011-2012, GDP tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 9-9,5%, thị trường bất động sản không bị vỡ bong bóng, phần lớn các chính quyền địa phương thu xếp trả được nợ cho ngân hàng. Sự ổn định của nền kinh tế Trung Quốc cũng được hỗ trợ bởi khả năng nền kinh tế Mỹ và thế giới không bị rơi vào suy thoái kép.

Có một khả năng là ngay cả trường hợp nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kép, kinh tế Trung Quốc, với tiềm lực mạnh mẽ và dự trữ ngoại hối tốt, vẫn có thể giữ được đà tăng trưởng và kềm chế được lạm phát.

Tuy nhiên khoảng chênh lệch giàu – nghèo và hố phân cách xã hội vẫn chưa được cải thiện so với hiện trạng, hoặc còn phải mất nhiều năm nữa mới được cải thiện. Do đó về mặt xã hội, vẫn tiếp tục xảy ra những cuộc khiếu kiện đất đai, đình công, biểu tình quy mô nhỏ như tình trạng hiện nay. Những mâu thuẫn tại các khu tự trị Nội Mông, Tây Tạng và Tân Cương vẫn tiềm ẩn và không loại trừ phát sinh xung đột với quy mô nhỏ.

Với những điều kiện kinh tế – xã hội trên, không khí chính trị tiếp tục duy trì ở mức độ bất ổn nhẹ (như hiện nay). Đây cũng là trường hợp mà một giáo sư kinh tế chính trị học của Đại học Havard – Dani Rodrik – cho rằng “Kinh tế tốt không phải luôn luôn là chính trị tốt” (Good economics need not always mean good).

* Kịch bản 2: Kinh tế suy thoái, chính trị biến động tương đối mạnh

Nền kinh tế Trung Quốc không duy trì được sự ổn định khi mức tăng GDP giảm xuống còn 6-7%, chỉ số lạm phát tăng trên 10% trong năm 2011 và nặng nề hơn trong năm 2012, đồng thời thị trường bất động sản có dấu hiệu vỡ bong bóng, giá bất động sản giảm mạnh (trên 30%) và bắt đầu xuất hiện dấu hiệu tỷ lệ nợ xấu của các chính quyền địa phương đối với ngân hàng tăng lên.

Nền kinh tế thế giới rơi vào trạng thái suy thoái kép hoặc có dấu hiệu bị suy thoái kép.

Ứng với những điều kiện kinh tế trên, làn sóng bất mãn xã hội vốn tích tụ nhiều năm nay sẽ tăng lên đáng kể. Có khả năng xuất hiện nhiều hơn hẳn số lượng các cuộc khiếu kiện đất đai, đình công, cùng biểu tình đòi quyền dân chủ. Nếu các hoạt động mang tính phản ứng xã hội này có mối liên hệ và cộng hưởng vào một thời điểm nào đó thì có thể dẫn đến những cuộc biểu tình phức hợp, tạo thành phong trào phản kháng mạnh mẽ đa thành phần với quy mô lớn, dẫn đến xáo trộn khá mạnh về không khí chính trị và cũng có thể dẫn đến xung đột với hình thức bạo động, bạo loạn với các cơ quan chính quyền và cảnh sát.

Nếu khả năng trên xảy ra, không có nhiều hy vọng để Bắc Kinh sẽ kềm chế được hoạt động đòi tự trị, dân sinh và dân chủ tại các khu vực Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông. Hoạt động phản kháng này sẽ trở nên phức tạp hơn hẳn và có thể dẫn đến sự xung đột (bạo động, bạo loạn) ở quy mô lớn tại các khu vực này.

Kịch bản trên vẫn có thể xảy ra đối với Trung Quốc ngay cả trong điều kiện nền kinh tế thế giới không bị rơi vào suy thoái kép.

* Kịch bản 3: Kinh tế suy thoái, chính trị biến động mạnh

Trong trường hợp xấu nhất, nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kép và kinh tế Trung Quốc cũng chịu hệ lụy tương ứng. Khi đó, GDP Trung Quốc có thể giảm xuống còn 4-5% và lạm phát tăng vọt từ 10-15%, kéo theo tỷ lệ thất nghiệp phi mã. Tình hình này gần như chắc chắn sẽ làm cho bong bóng bất động sản bùng vỡ, giá bất động sản giảm rất mạnh (trên 50% hoặc hơn) với thanh khoản kém. Mặt khác, chính quyền địa phương gần như mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng, dẫn đến phản ứng dây chuyền về việc phá sản của một số ngân hàng lớn và làm chao đảo hệ thống tài chính quốc dân.

Những điều kiện kinh tế trên cũng là ngòi nổ cho các hoạt động phản ứng và phản kháng xã hội. Khiếu kiện đất đai, đình công và các biểu tình đòi quyền dân sinh, dân chủ sẽ trở thành các phong trào diễn ra liên tục, quy mô tăng dần, lan rộng tại nhiều tỉnh và thành phố, hoàn toàn có thể dẫn đến xung đột mạnh với chính quyền. Không loại trừ sự kết hợp và cộng hưởng giữa các hoạt động phản kháng xã hội có thể dẫn tới yêu sách thay đổi thể chế chính trị, mà về thực chất có thể xem là “cách mạng hoa nhài” như đã từng xảy ra ở Bắc Phi và Trung Đông vào những tháng đầu năm 2011.

Cũng cần tham khảo một đánh giá của giáo sư kinh tế và chính trị học Barry Eichengeen của Đại học California về cuộc cách mạng hoa nhài ở Bắc Phi: “Sự bất ổn chính trị đã bắt nguồn từ thất bại của chính quyền trong việc phân chia lợi tức một cách công bằng, đặc biệt đối với những giai cấp bị thiệt thòi trong xã hội là giới trẻ, nông dân và công nhân… Trong kinh tế, sự phân chia lợi tức quốc gia một cách công bằng cũng quan trọng không kém gì sự phát triển lợi tức”.

Những điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị trên cũng là nhân tố kích thích các phong trào khả kháng rộng lớn ở Tân Cương, Tây Tạng và Nội Mông.Tương ứng với điều kiện đặc thù về lịch sử của các khu vực này, không loại trừ quá trình xung đột bình thường và tự phát có thể dẫn tới những cuộc xung đột vũ trang có tổ chức và gây nguy hiểm cho sự tồn tại của thể chế chính trị ở Trung Quốc.

Hiện thời, vẫn còn khá sớm để đánh giá về xác suất có thể xảy ra của từng kịch bản trên, cũng như về sự biến thái của 3 kịch bản trên thành nhiều kịch bản khác. Tuy vậy theo quan điểm phân tích của chúng tôi, 3 kịch bản trên vẫn là những khả năng cốt lõi với sự ảnh hưởng mang tính quyết định của các vấn đề kinh tế đối với vận động chính trị trong lòng xã hội Trung Quốc.

Liên quan đến Việt Nam, trừ kịch bản 3, khi chính quyền Trung Quốc sẽ phải toàn tâm tập trung các nguồn lực để đối phó với biến động trong nước, còn với hai kịch bản 1 và 2, khả năng Trung Quốc sử dụng phương án đánh lạc hướng dư luận ra bên ngoài lãnh thổ bằng cách tạo ra những vụ việc gây hấn, tranh chấp ở khu vực biển Đông và vùng biên giới liên quan với Việt Nam, vẫn có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào họ thấy cần thiết.

Cảnh sát và người dân đối đầu trong vụ biểu tình ở Lichuan ngày 9-6 – Ảnh: AFP

Chiều 12.6, khu ngoại ô Zengcheng [Quảng Châu], cảnh sát chống bạo động phun hơi gas để giải tán đám đông công nhân nhập cư phản đối sự ngược đãi của những nhân viên bảo vệ đối với một phụ nữ trẻ bán hàng rong đang mang thai. Ảnh: Reuters

P.C.D.

http://www.boxitvn.net/bai/24228

TRUNG CỘNG HIỆN NAY CÓ PHẢI LÀ NƯỚC TIÊU BIỂU CHO TRIẾT LÝ, VĂN HÓA, VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG ?

Chu Chi Nam 

Trong một thời gian dài tăng trưởng, với 2 con số, kinh tế Trung cộng hiện nay, nếu tính theo tổng sản lượng, thì đứng thứ nhì trên thế giới, với 8 358,4 tỷ $, chỉ sau Hoa kỳ với 15 684,8 tỷ, trên Nhật 5 959,7 tỷ, trên Đức 3 399,6 tỷ.

Một số người thiên về kinh tế, cho rằng kinh tế là quyết định tất, đã vội đưa ra những dự đoán tương lai: trong một thời gian ngắn, kinh tế Trung cộng sẽ vượt Hoa kỳ về tổng sản lượng. Hơn thế nữa họ cho rằng Trung Cộng sẽ là đệ nhất cường quốc về nhiều mặt và từ đó cho rằng Trung cộng đạt được mức độ phát triển hiện nay là nhờ vào nền triết lý, văn hóa, văn minh Đông phương.

Có phải thế không ?

Xin trình bày sơ qua về triết lý, văn hóa, văn minh, để có một khái niệm, rồi chúng ta cùng nhau trả lời cho câu hỏi trên:

Không ai phủ nhận rằng văn minh Đông phương được tiêu biểu bởi những nước như Ai cập, Tàu, Ấn độ v.v… ; và văn minh Tây phương bắt đầu bằng Hy lạp, La mã, rồi tới Anh, Pháp, Đức, Hoa kỳ.

Triết lý, chúng ta có thể định nghĩa nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta có thể định nghĩa một cách ngắn gọn, giản tiện và dễ hiểu là cách suy tư, cách nhìn, và từ đó đưa đến cách hành xử, cách sống của một người, một cộng đồng dân tộc.

Từ suy nghĩ, ý tưởng, tư tưởng, đi đến triết lý; từ triết lý, đi đến hành động, văn hóa, văn minh. Chính vì vậy triết học giữ một vai trò rất quan trọng cho một cá nhân, hay một quốc gia, dân tộc. Nghĩ làm sao, hành động làm vậy. Một con người có một triết lý bi quan, thì thường bi quan. Một quốc gia dân tộc chấp nhận một quan niệm triết lý bạo động, thì hay gây hấn chiến tranh, chiến tranh không những với nước ngoài, mà ngay chính trong lòng quốc gia đó.

Văn hóa, văn là đẹp, hóa là biến hóa. Biến cái gì thành đẹp, đó là văn hóa. Chữ Tây phương, văn hóa là «  la culture « có nghĩa là chống lại cái gì là thiên nhiên (la culture est ce qui contre la nature). Một cục đá, đó là thiên nhiên, nhưng chúng ta đẻo gọt thành một bức tượng, đó là văn hóa. Chữ văn hóa Tây phương còn có nghĩa là trồng trọt. Một cánh đồng là thiên nhiên, chúng ta cày xới, trồng cây để lấy hoa quả, đó là văn hóa.

Sau này người ta còn định nghĩa văn hóa từ nhiều góc cạnh khác nhau:

Như Aristote (384 – 322 trước Tây lịch), nhà hiền triết Hy lạp, đã định nghĩa văn hóa là những ngôn từ để trang điểm trong trường hợp giàu có và cũng là những ngôn từ để an ủi trong lúc nghèo khổ, hoạn nạn.

Edouard Herriot (1972 – 1957), nhà văn, nhà chính trị Pháp, đã định nghĩa văn hóa là « cái gì còn lại sau khi đã quên hết ». Thật vậy, như chúng ta đọc sách, chúng ta đã thấm nhuần và quên, cái còn lại là những cái gì thuộc về chúng ta, thì cái đó là văn hóa.

Văn minh, văn cũng là đẹp, minh là chiếu sáng. Cái gì đẹp và nhiều người biết tới là văn minh. Nhiều người cho rằng văn hóa chỉ về tinh thần, văn minh thiên về vật chất. Không hoàn toàn như vậy. Như khi nói đến văn minh Ai cập, người ta nói đến kim tự tháp. Kim tự tháp không phải chỉ là những tảng đá ghép lại, mà trong đó có cả một công trình toán học, thiên văn học v.v… Cũng như vạn lý trường thành của Tàu, không phải chỉ là những bức tường xây lên, mà cả là một tính toán chiến lược quân sự nhằm ngăn chặn những đoàn quân đến từ phía bắc, mà người Tàu trước đây gọi là « Rợ Hung nô ».

Trong lịch sử nhân loại, có thời kỳ văn minh đá đẽo, văn minh đá mài; con người với trí khôn của mình vào lúc đó, đã biết lấy cục đá, đẽo  hay mài nó để làm dụng cụ xử dụng cho mình.

Có người lại nghĩ văn minh Tây phương bắt nguốn từ văn minh Đông phương. Điều này không phải hoàn toàn sai. Như ta đã biết, văn minh Tây phương bắt đầu từ Hy lạp, rồi truyền qua La mã, tới Âu châu trong thời kỳ Âu châu bị cai trị bởi người La mã. Nhưng nói đến triết học, văn hóa, văn minh Hy lạp, người ta không thể không nói đến những tên tuổi như Thalès, Pythagore, Socrate, Platon, Aristote v.v…

Thalès de Milet (625 – 546 trước Tây lịch), nhà tóan học, triết gia, thiên văn Hy lạp. Ông đã mang từ Ai cập, từ Babylone (Trung Đông) về Hy lạp những nguyên lý toán học để tính chiều dài của một đường thẳng bị cắt bởi những đường song song, điều mà người Ai cập đã biết tính và đã dùng từ lâu để xây kim tự tháp. Về thiên văn ông đã tính được nhật thực và nguyệt thực; về triết học ông cho rằng nguyên tố đầu tiên của vũ trụ là nước.

Pythagore, sống vào khoảng thế kỷ thứ VI, tức 500 trước Tây lịch, người ta không rõ năm sinh và năm mất của ông, cũng là một nhà toán học, triết gia. Chúng ta biết nhiều nhất về ông khi chúng ta học trung học, đó là định lý Pythagore, theo đó, trong một hình tam giác vuông, nếu chúng ta biết hai cạnh, thì chúng ta có thể tính được cạnh thứ ba, qua công thức : tổng số bình phương 2 cạnh thì bằng bình phương cạnh huyền. Ông là thủy tổ của những quan niệm triết học có tính cách khoa học sau này, cho rằng tất cả đều qui về khoa học, nói đúng hơn là toán học, vì tất cả đều tương xứng với một con số.

Hai người này, người ta không có những tài liệu sử chính xác, nhưng có giả thuyết cho rằng cả hai đều đã du lịch qua những nước Trung Đông và Ai cập.

Có nguời nói, nếu không có những nhà khoa học, toán học, triết lý trên thì không có văn minh Tây phương. Điều này không phải là sai.

Thêm vào đó, chúng ta cũng đừng quên là chữ viết với mẫu tự A, B, C, D v.v… của người Tây phương, là đến từ Trung đông, vùng Mésopotamie, mà người Việt chúng ta gọi là vùng văn minh Lưỡng Hà, đến từ vùng đồng bằng 2 con sông Euphrate và Tigre, nói rõ ra là vùng thuộc nước Irak, Syrie, Liban, Palestine ngày hôm nay.

Triết học là cách sống làm sao cho có hạnh phúc, hòa hợp với chính mình, với người chung quanh và với môi trường; chữ « Philosophie « của Tây phương gồm 2 chữ, « Philo « là thích, « Sophie « là «  sagesse «, là «  harmonie «  có nghĩa là sự khôn khéo, biết điều, biết sống và sự hài hòa.

Chính Pythagore đã đưa ra định nghĩa chữ « Philosophie « của Tây phương. Người ta gọi ông là một nhà hiền triết ( le sage), nhưng ông từ chối, ông trả lời lại rằng : « Tôi không phải là một nhà hiền triết, tôi chỉ là người đi tìm và thích sự hiền triết, tức sự khôn khéo, biết điều, biết sống hạnh phúc và  hài hòa ( la sagesse).

Còn văn hóa tiếng Tây phương, như trên đã nói, là « culture «  có nghĩa là chống lại thiên nhiên: con người khi đi qua một con rạch, một khe đá, bị thiên nhiên ngăn cản, liền suy nghĩ ( tư tưởng), tìm kiếm cách chống lại, biết tìm cách bắc gỗ để đi qua, sau đó làm thành cái cầu, và nếu những con cầu này được xây lớn lên, trở nên vĩ đại và đẹp đẽ, chiếu sáng ( minh ) vì nhiều người bắt trước và làm theo, thì nó trở thành văn minh.

Cũng như chúng ta xây hàng rào hay tường quanh nhà để có sự kín đáo và an ninh; nhưng khi những bức tường này trở nên to lớn, dài cả ngàn cây số, vĩ đại, đến nỗi người ở ngoài không gian cũng thấy, thì nó trở thành văn minh. Ngày hôm nay người ta nói đến văn minh Tàu, ngoài nhiều thứ khác, người ta không thể quên vạn lý trường thành.

Từ đó, khi nói đến triết học, văn hóa và văn minh Đông Tây, ngoài những đặc thù sẽ được bàn đến sau, nhưng về căn bản, nó đều giống nhau, vì nó do con người nghĩ và làm ra; mà con người dù là Đông hay Tây, dù là da vàng, da đỏ, da trắng, da đen, đều có những nhu cầu về vật chất và tinh thần giống nhau. Ai sinh ra dù ở đâu, da màu gì, khi đói cũng cần phải ăn, khi khát phải uống, khi lạnh phải mặc áo hay lấy một vật gì che thân, khi nghe một bản nhạc hay đều thích thú, khi ăn một món ngon, có thể khác biệt sơ về gia vị, chỗ này cay hơn, chỗ kia ngọt hơn, nhưng khẩu vị, vì là con người, cũng tương tự giống nhau.

Về tinh thần cũng vậy, ai cũng muốn được tự do, những quyền căn bản của mình được tôn trọng, có ai sinh ra dù ở vùng nào đi nữa, dù da màu nào chăng nữa, lại muốn những quyền của mình bị cấm đoán, bị đánh đập một cách vô duyên cớ ? –  Chắc chắn là không.

Những người đưa ra lý lẽ viện vào tính cách đặc thù của mỗi vùng, mỗi dân tộc, rồi đưa ra luận điệu là những quyền căn bản của con người khác nhau, tùy từng vùng, tùy theo phong tục tập quán, tùy theo văn hóa văn minh, để rồi cấm đoán hoặc ngăn chặn những quyền căn bản này. Họ đàn áp, khủng bố dân, đây là luận điệu phản con người, phản tiến bộ, phản lại dân tộc, là luận điệu của những kẻ độc tài muốn kéo dài đặc quyền, đặc lợi của mình. Khi nói đến vi phạm nhân quyền, ngoài những nước độc tài khác ở Phi châu, Trung Đông, Nam Mỹ, người ta không thể không nói đến hai nước Trung Cộng và Việt Nam.

Thường hễ độc tài là đi đôi với tình trạng thiếu văn minh, chậm tiến, tham nhũng, hối lộ. Tuy nhiên có người cho rằng Việt Nam và Trung cộng hiện nay đâu có chậm tiến,  nhất là Trung cộng.

Thực ra thì tình trạng phát triển của Trung cộng hiện nay vẫn kém xa các nước văn minh khác. Thật vậy, nếu ngày hôm nay chúng ta tới Sài gòn, Hà nội, Bắc kinh hay Thượng hải, chúng ta chỉ ở những hotel mắc tiền, đầy đủ tiện nghi, thì chúng ta thấy quả thật là «  phát triển, văn minh «, nhưng nếu chúng ta đi ra xa, thì nhiều nơi dân chúng vẫn nghèo khổ, lầm than. Và điều nguy hiểm, đó là con người sống dưới chế độ cộng sản, không biết trong lòng họ có là cộng sản hay không thì không biết, nhưng quan sát, chúng ta thấy họ «  chẳng văn hóa, văn minh » chút gì: vô kỷ luật, xô bồ, nhất là vô cảm, không còn tình người, thờ ơ trước những cảnh thương tâm, cần giúp đỡ, như giúp một cụ già bị té hay một em bé bị nạn. Điều này chúng ta cũng chẳng cần đi xa, chúng ta chỉ cần dở một vài tờ báo Việt cộng hay Trung cộng thì chúng ta thấy muôn vàn cảnh vô cảm, vô lương tâm, và hơn nữa tàn ác như con giết bố mẹ vì tiền, như cảnh một em nhỏ ở Trung cộng, bị xe đụng, thay vì chạy lại giúp đỡ, người đi đường thì thờ ơ, kẻ chạy xe lại tiếp tục cán lên để chạy qua, kết quả là khi một người quét đường báo cho gia đình biết thì em đã bị trọng thương và mất mạng.

Cho nên nói rằng Trung cộng hiện nay tiêu biểu cho văn minh Đông phương là không đúng.

Những nước ít nhiều tiêu biểu cho nền văn minh Đông phương hiện nay có thể nói là Nhật bản và Nam Hàn, những nước vẫn còn giữ được văn hóa cổ truyền tốt đẹp của mình và đồng thời biết thu thập, gạn lọc cái hay cái đẹp của người, khác hẳn Trung cộng và Việt cộng đã thu nhập vội vã cái cặn bã của văn hóa, văn minh Tây phương, xoá bỏ vội vàng những điều hay, cái tốt cổ truyền để biến xã hội thành ra như ngày hôm nay.

Hiện nay, với khoa học, kỹ thuật, internet, thế giới có khuynh hướng đi đến một sự tổng hợp triết lý, văn hóa, văn minh, vì những thứ này, về bản chất căn bản, nó giống nhau, nó đến từ những nhu cầu, bản năng căn bản của con người, dù bất cứ ở đâu, màu da thế nào, và nó có tính cách thế thứ, trao truyền từ đời này qua đời khác, mang tính cách thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai.

Triết lý, văn hóa, văn minh đối với một con người, cũng như đối với một cộng đồng, quốc gia, dân tộc, chúng ta có thể ví như một cái cây : quá khứ là rễ cây, hiện tại là thân cây, tương lai là cành lá. Rễ cây phải ăn xâu vào lòng đất để hút nhựa, thân cây phải to lớn để chuyển nhựa, cành lá phải rườm rà để hút tinh khí của thập phương.
Những lời kêu gọi hoàn toàn vứt bỏ quá khứ, kiểu như K. Marx, nếu không nói quá, thì là những lời kêu gọi của những người lãng mạn, không tưởng, nếu nói hơi quá, thì là những lời kêu gọi của những kẻ « điên « , hay còn « ấu trĩ « . Một cái cây mà cắt bỏ rễ cây, thì làm sao có thể sống còn.(1)

Như Marx viết: «  Chủ nghĩa cộng sản vứt bỏ mọi chân lý muôn thuở, vứt bỏ tôn giáo và đạo đức thay vì cải cách chúng, và như vậy, nó chống lại tất cả những hình thái văn minh, phát triển lịch sử trước đó. » (K. Marx –và F. Engels – Manifeste du Parti communite – trang 51 – nhà xuất bản www.librio.net – 1998).

Cũng như một cái cây, mà vứt bỏ cành lá, như đối với một dân tộc, tìm cách ngăn cấm những tư tưởng hay, mới lạ, từ bên ngoài, thì cái cây đó cũng như dân tộc đó không thể lớn mạnh được.

Vạn lý trường thành là một bước tiến của văn minh Tàu, nhưng đồng thời cũng là một bước cản. Nước Tàu bị tụt hậu là một phần vì chính sách bế quan tỏa cảng của những triều đình phong kiến. Nhưng bức trường thành nguy hiểm nhất chính là bức trường thành tâm linh, tự cô lập mình, giới chính quyền tìm cách cô lập dân tộc mình, trên phương diện thông tin, tư tưởng. Ngày hôm nay, 2 chế độ cộng sản là Trung cộng và Việt cộng, tìm cách bế quan tỏa cảng trên phương diện này, trở về chính sách «chủ nghĩa dân tộc cực đoan « , thì quả là một hành động điên rồ, trong thời đại văn minh tri thức điện toán hiện tại. Chỉ cần ngồi trước chiếc máy điện toán, nhích con chuột là biết tin tức khắp nơi.

Cái khôn ngoan của một con người hay của một dân tộc là quay về quá khứ để giữ lấy những điều hay của chính mình và bỏ đi những cái  dở, cũng như biết mở rộng cánh tay đón nhận những tinh hoa của thế giới bên ngoài. Đừng nên làm theo kiểu cộng sản Việt Nam, theo đúng lời dạy của Marx : «  Người cộng sản chối bỏ tất cả những nền văn minh trước họ «, chủ trương :«Trí phú hào đào tận gốc, trốc tận rễ » hay Mao trạch Đông: «  Khổng tử là con chó giữ nhà cho chế độ phong kiến «, hoặc : «  Trí thức không giá trị bằng cục phân «; mà nên làm như người Nhật biết đón nhận những cái hay của Khổng tử, tôn trọng trí thức. Nói như một nhà tư tưởng, bác học Nhật hiện nay, ông Yoshikawa Kojiro: « Quyển sách Đàm thoại của Khổng Tử là một trong những quyển sách vĩ đại nhất của thế giới.«  ( Theo Les Entretiens de Confucius – trang 5- nhà xuất bản Gaillimard – Paris 1987 – Bản dịch từ tiếng Tàu của Pierre Ryckmans).

Một nhà nghiên cứu về văn minh Đông phương, nhất là văn hóa Tàu, ông Jean – Luc Domenach, có nói :

«  Tiếc rằng những người như Trần độc Tú, Mao trạch Đông v.v…, trình độ văn hóa không cao, sống dưới thời kỳ cuối của triều đình Mãn Thanh, bị liệt cường xâu xé, cho rằng văn hóa Tàu kém văn hóa Tây phương, không nắm vững cái hay cái dở của văn hóa Đông phương và Tây phương, vội vứt bỏ văn hóa Đông phương, nhập cảng lý thuyết Mác Lê, cặn bã của văn hóa Tây phương «. Thật vậy, lý thuyết Mác Lê chỉ là cặn bã của văn hóa Tây phương, người Tây phương đã vứt bỏ, ngay vào thời K. Marx còn sống: hiện nay tại vùng Trèves, Đức quốc, sinh quán của K. Marx, có dựng một bức tượng của Marx, nhưng ở dưới chân có hàng chữ: «  Nơi đây là nơi sinh quán của K. Marx, nhưng chúng tôi không chấp nhận tư tưởng của ông. »

Nhà đại văn hào Pháp, ông Victor Hugo ( 1802 – 1885), có thể nói là người đồng thời với Karl Marx ( 1818 – 1883), có nói về cộng sản:

«  Bắt con đại bàng thành con chim chích, buộc con thiên nga làm con vịt trời, bỏ tất cả mọi người vào trong một giỏ để xóc, để cho ai cũng như ai. Đó là cộng sản. Và đó cũng là điều mà tôi không thích. »

Một bằng chứng rõ ràng nhất là những dân tộc Tây phương chối bỏ lý thuyết của Marx, nhất là giai tầng trí thức, không chủ trương thực hiện « cách mạng cộng sản », trong khi đó chính Marx cho rằng lý thuyết «  Cách mạng tất yếu «  của mình chỉ có thể thực hiện được tại những nước kỹ nghệ tân tiến. Marx ngồi chờ cách mạng tất yếu ở những nước này. Lúc đầu ở Anh, sau đó quay sang hy vọng ở Đức. Nhưng cách mạng tất yếu không xẩy ra, rồi Marx chết.

Có những người bênh vực cho Trần độc Tú, Mao, Hồ, Lê Duẫn, trước sự chỉ trích «  Trình độ sơ học yếu lược » của những người này, cho rằng nhìn trong lịch sử Tàu và Việt Nam, những người như Hán cao Tổ, lập lên nhà Hán, Chu nguyên Chương, lập lên nhà Minh ở Tàu ; và Lê Lợi, lập lên nhà Lê, ở Việt nam, những người này trình độ học vấn cũng không cao.

Có phần đúng nhưng phần sai rất lớn: Đó là những người như Hán cao Tổ, Chu nguyên Chương, Lê lợi không đặt lại, chống lại và hơn thế nữa không phá hủy cả một nền văn hóa, văn minh cổ truyền, như những người cộng sản đã làm. Hán Cao Tổ, có người khuyên ông nên dùng những người có học để kiến quốc. Lúc đầu ông trả lời: «  Ta chỉ cần một thanh gươm và một con ngựa cũng đủ chinh phục toàn thiên hạ, ta đâu có cần sĩ phu ! « Vị quân sư đáp lại : «  Thưa Bệ hạ, để lấy thiên hạ thì Bệ hạ cần một thanh kiếm và một con ngựa. Nhưng để bình thiên hạ thì Bệ hạ cần những sĩ phu. »

Sau đó, Hán cao Tổ đã nghe lời khuyên này, không những dùng giới sĩ phu mà còn phục hồi, phát huy truyền thống văn hóa, văn minh Tàu, hoàn toàn ngược lại với Mao và Hồ.

Có ngưới lại nói: Ngày hôm nay nước Tàu đang phục hồi lại tư tưởng Khổng tử, cho thành lập cả 400 viện nghiên cứu Khổng, không những ở xứ Tàu, mà trên toàn trên thế giới. Thực ra thì chính sách «  Phục hồi tư tưởng Khổng «  có tính cách bênh vực, bảo vệ đường lối phi nhân, phản dân tộc của chính quyền đương thời nhiều hơn là quảng bá tư tưởng « Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín «  của Khổng và Nho giáo.

Nếu nói đại diện và tiêu biểu cho triết lý, văn hóa, văn minh Đông phương, chúng ta phải nói đến Nhật bản, và gần đây là Nam Hàn.

Nhiều người nghĩ là nước Nhật được canh tân với thời Minh Trị Thiên hoàng vào giữa thế kỷ thứ 19. Thực ra tinh thần canh tân của Nhật đến rất sớm, có thể nói từ thế kỷ thứ 6, với hoàng tử Shotoku, với Hiến pháp Shotoku, trong đó có câu : «  Anh đừng nghĩ rằng anh tất nhiên là tài giỏi ( les sages), và người khác tất nhiên là ngu dốt ( les sots), chúng ta đều là người bình thường ( les gens normaux). »

Hoàng tử này đã thực hiện cuộc tổng hợp tam giáo của Nhật :

Thần giáo theo truyền thống của Nhật, Nho giáo và Phật giáo.

Nước Nhật đã nhập cảng tư tưởng « Tri hành đồng nhất «  của Vương dương Minh từ Tàu vào thời nhà Minh (1368 – 1644), trong khi đó chính quyền phong kiến của Tàu chối bỏ tư tưởng của ông.

Nói đến sự phát triển của Nhật ngày hôm nay, có rất nhiều lý do, nhưng trong đó có lý do địa lý, văn hóa chính trị. Đó là nhờ nước Nhật gồm nhiều hòn đảo, không phải là một lục địa, nên chính quyền phong kiến của Nhật đỡ bị tập trung hơn là Tàu và Việt nam. Đấy lại chưa nói đến quan niệm của Arnold Toynbee (1889 – 1975), theo đó «  Sự thách thức lịch sử «  (le défi historique) là động lực chính của văn minh. Theo ông, một dân tộc trở nên văn minh là vì nó gặp những khó khăn, tất nhiên phải là những khó khăn « có thể vượt qua « , chứ không phải là những khó khăn không thể vượt qua, như dân tộc Eskhimo, và từ dân tộc đó, phát sinh ra được một giai tầng thiểu số có đầu óc phát minh, sáng kiến, thì dân tộc đó trở nên văn minh, và ngược lại khi sức sáng tạo của giai tầng này bị giảm xuống, thì văn minh đó bắt đầu xuống dốc. Ông không nghĩ như Oswald Spengler (1880 – 1936), người Đức, triết gia, lý thuyết gia về lịch sử, có cái nhìn hơi bi quan về lịch sử. Trong quyển Le Déclin de l’Occident ( Sự xuống dốc của Tây phương), Spengler ví một nền văn minh như cơ thể một con người, những tế bào rồi cũng có ngày bị chết, thì một nền văn minh cũng vậy . Ngược lại Toynbee lạc quan hơn, ông tin có sự tái tạo. Trong quyển Nghiên cứu về văn minh ( L’Etude de l’histoire), ông phân biệt trên thế giới này có 21 nền văn minh.

Nước Nhật có một thách thức lịch sử rất lớn, đó là thiên nhiên khắc nghiệt, đất không những là sỏi đá, mà còn có núi lửa, động đất, nhưng dân Nhật thời nào cũng vậy, đều có thể tạo ra một giai tầng sĩ phu trí thức có óc sáng tạo, can đảm, dẫn dắt dân Nhật vượt qua những khó khăn thử thách.

Nói như vậy, tôi không có ý nói dân Tàu là một dân tộc không thông minh bằng dân Nhật. Ngược lại đây là một dân tộc thông minh rất sớm. Một dân tộc đã phát minh ra kim chỉ nam, thuốc súng, lụa, với đầu óc tỷ mỉ ngồi quan sát con rận và thấy lúc nào nó cũng nằm theo hướng kim chỉ nam, một dân tộc có đầu óc tưởng tượng và kiên nhẫn đến mức độ dám nghĩ lấy những sợi tơ nhỏ tý do con tằm nhả ra rồi dệt thành vải. Dân tộc này không phải là không thông minh. Chúng ta nhớ là vào thời kỳ Tần thủy Hoàng ( 221 – 206 trước Tây Lịch), dân Nhật còn chưa văn minh, nếu không nói là còn lạc hậu. Nhờ những người được lệnh của Tần thủy Hoàng đi kiếm « thuốc trường sinh bất tử » ở ngoài khơi không dám trở về đã trốn qua Nhật và đã dạy dân Nhật đánh cá voi. Hiện nay còn lại di tích những miếu thờ những người này. Chỉ tiếc cho nước Tàu, và dân Tàu là chế độ độc tài quân chủ phong kiến kéo dài quá lâu, giết chết ý chí tiến thủ, phát minh sáng kiến của người Tàu.

Về Nam Hàn, đây là một nước tôn trọng triết lý, văn hóa, văn minh cổ truyền và biết thâu nhận gạn lọc những cái hay cái đẹp từ bên ngoài không thua gì Nhật bản. Nam Hàn đã được coi là một nước phát triển từ thập niên 80, riêng ngành giáo dục, nước này có thể nói hơn cả những nước tân tiến. Theo một cuộc trắc nghiệm trình độ văn hóa tổng quát những người thợ chuyên môn được thực hiện bởi Tổ chức những nước phát triển trên thế giới (OCDE), thì thợ thuyền Nam Hàn đứng đầu. Với một diện tích là 99 274 Km2, dân số là 50 triệu dân, tổng sản lượng quốc gia là 1129,6 tỷ $, sản lượng tính theo đầu người hàng năm là 30 800,5 $, gấp 3 Trung cộng, hơn 8 lần Việt Nam.

Để nói đến sự phát triển của một quốc gia, dân tộc, nói như một nhà xã hội học, chúng ta chỉ cần đến một vài thành phố chính, nhìn cách ăn mặc, cách cư xử, tinh thần tôn trọng luật pháp công cộng, thì chúng ta rõ. Hay một cách khác, chúng ta có thể đưa ra một vài dữ kiện chính, cũng đủ tiêu biểu: Không ai chối cãi rằng hiện nay một trong những ngành khoa học kỹ thuật tân tiến nhất là máy điện thoại cầm tay, thế mà hãng Samsung của Nam Hàn đã đứng đầu trên thế giới về số lượng bán ra, trên cả hãng Applel của Hoa kỳ, trên cả hãng Nokia của Phần Lan. Về phim ảnh, phim ảnh Nam Hàn không thua gì thế giới, dân Việt Nam và nhất là giới trẻ đã say mê phim Hàn quốc. Ngay cả ngành xe hơi, vào năm 2012, hãng xe Hundai, mặc dầu mới vào thị trường quốc tế, nhưng đã có vị trí quan trọng, theo thứ tự, hãng Toyota ( Nhật), với số xe bán ra thị trường là 9 880 000 cái, hãng Général Motor của Mỹ ( 9 800 000), hãng Volkswagen của Đức (8 500 000), hãng Renault – Nissan (Pháp) với 8 000 000, hãng Hundai của Nam Hàn với 7 500 000.

Nhiều khi chỉ cần một sự kiện nhỏ cũng đủ nói lên nhiều ý nghĩa: như việc dùng biểu tượng Kinh Dịch cho lá cờ quốc gia Nam Hàn, ở giữa có một vòng tròn chia làm 2 phần biểu tượng cho quan niệm âm và dương, xung quanh là bốn quẻ chính ( Càn, Khôn, Khảm, Ly).

Kinh Dịch là quan niệm về triết lý, vũ trụ, nhân sinh quan đã ảnh hưởng lâu đời ở Tàu và những nước chung quanh như Hàn quốc, Nhật Bản, Việt nam, theo đó vạn vật, vũ trũ và ngay cả xã hội con người biến chuyển theo cách tương tác, bổ xung, như câu : «  Hữu vô tương sinh, âm dương tương hòa, dài ngắn tương khuynh, cao thấp tương hình « , trái với quan niệm Biện chứng pháp của K. Marx, theo đó vạn vật và cả xã hội con người biến chuyển theo Biện chứng pháp (Đề – Phản Đề – Tổng Đề).

Một sự kiện được coi là Đề, rồi có một sự hiện khác chống lại, được gọi là Phản Đề, tiêu diệt Đề, đưa tới Tổng Đề. Cứ như thế mà biến chuyển. Đây là sự biến hóa theo cách triệt tiêu. Từ đó Marx áp dụng vào xã hội loài người, đưa ra quan niệm giai cấp và nghĩ rằng giai cấp này (Phản Đề) phải triệt tiêu giai cấp kia (Đề) để làm nên giai cấp khác (Tổng Đề), đưa ra quan niệm đấu tranh giai cấp, cùng kết luận : lịch sử nhân loại là lịch sử của bạo động, chiến tranh, đấu tranh giai cấp, như ông mở đầu bản Tuyên ngôn thư Đảng cộng sản.

Lấy cái bất bình thường làm cái bình thường, đấu tranh giai cấp là một lời kêu gọi nội chiến triền miên, nên xã hội cộng sản là một xã hội luôn bất ổn, cộng thêm vào đó Marx chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, có nghĩa là bãi bỏ một nguyên động lực chính thúc đẩy con người làm việc, vì Marx sai lầm cho rằng quyền tư hữu có thể bãi bỏ, nhưng thực tế quyền tư hữu chỉ có thể chuyển nhượng, như chúng ta đã thấy trước đây và hiện nay ở những nước cộng sản còn lại, quyền tư hữu đang ở trong tay dân, sau những cuộc đánh tư bản mại sản, thì chuyển nhượng sang đảng đoàn cán bộ. Đó là những lý do chính khiến chế độ cộng sản, áp dụng triết lý của Marx, bị thất bại.

Có người cho rằng 2 chế độ của Trung cộng và Việt cộng đâu còn là cộng sản mà là tư bản. Thực ra vẫn còn là cộng sản vì Hiến pháp của 2 chế độ này vẫn còn ghi rõ «  Lấy lý thuyết Mác Lê làm nền tảng cho chế độ. « , còn theo tư bản là theo cái cặn bã của tư bản, làm bất cứ chuyện gì để có tiền, không có luật lệ, đạo đức, ngay cả giết người, như trường hợp sữa có chất Mélanine, đầu độc cả trăm ngàn trẻ em ở Trung cộng và trên thế giới, theo đúng câu nói của Đặng tiểu Bình : «  Mèo trắng hay mèo đen, không cần biết, miễn là mèo bắt chuột. ».

Quan niệm đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử, mới nhìn thì thấy có lý, nhưng suy nghĩ về lâu về dài thì không, vì Marx đã lấy cái gì bất bình thường làm cái bình thường. Bình thường con người ai cũng thích sống hòa bình, chỉ khi nào bất đắc dĩ, bất bình thường, con người mới dùng tới bạo động.

Ngay cả lịch sử một quốc gia, dân tộc cũng vậy. Chúng ta lấy thí dụ điển hình là lịch sử 2 dân tộc Pháp và Đức. Người ta có thể nói 2 dân tộc này là một trong những nguyên nhân chính của 2 cuộc Thế Chiến, nhưng đó chỉ là bất bình thường, còn bình thường thì 2 dân tộc này vẫn muốn sống trong hòa bình.

Trở về với trường hợp Nam Hàn: Chỉ cần lá cờ quốc gia cũng đủ nói lên sự kiện Nam Hàn xứng đáng tiêu biểu cho triết lý, văn hóa, văn minh cổ truyền Đông phương. Cho nên quan niệm xã hội biến hóa theo « Tương tác, bổ xung « , vẫn đúng hơn là quan niệm «  Biến hóa theo Biện chứng triệt tiêu. »

Có người nói đọc Kinh Dịch rất là cam go, khúc mắc, làm sao người dân có thể hiểu nổi. Đồng ý, nhưng dựa vào Kinh dịch làm quốc kỳ, đây chỉ là một biểu tượng, tôn trọng giá trị tốt đẹp của triết lý, văn hóa, văn minh cổ truyền. Hơn thế nữa chúng ta cũng đừng coi thường dân Nam Hàn, từ ngày đầu tiên Tướng Park Chung Hy lên nắm quyền năm 1961, ông đã ý thức rất rõ là tương lai, rường cột của quốc gia là giới trẻ, và giáo dục tốt giới trẻ là nhiệm vụ đầu tiên của quốc gia. Nên ông đã bổ nhiệm một Hội Đồng cải cách giáo dục, bao gồm các trí thức bác học, học giả Đông Tây, kim cổ, của mọi giai tầng, mọi ngành, mọi giới, cùng nhau bàn luận và soạn thảo ra một kế hoạch cải cách giáo dục sâu rộng, từ chương trình tiểu học cho tới đại học, nâng đỡ ngành giáo dục, khuyến khích thầy cô, tôn trọng tinh thần yêu nước, trách nhiệm, tự trọng mình, trọng người, nêu cao tinh thần danh dự, làm một cuộc tổng hợp hài hòa giữa cũ và mới, tôn trọng những giá trị cổ truyền dựa trên tinh thần triết lý đông phương, Khổng, Lão, Phật, nhưng cũng sẵn sàng mở vòng tay đón nhận những điều mới lạ, tiến bộ của thế giới bên ngoài: tinh thần tôn giáo Thiên chúa, Tin lành và tinh thần khoa học v..v… Chính vì vậy mà từ lâu Nam Hàn đã có một đội ngũ trí thức cán bộ, chuyên viên nổi tiếng trên thế giới, đi đâu làm việc cũng chịu khó, học hỏi, nghiên cứu và có trách nhiệm. Bằng chứng hiện nay là 2 cơ quan quốc tế lớn nhất thế giới, Liên Hiệp quốc và Ngân hàng thế giới, đều do 2 người Nam Hàn điều khiển, một người hoàn toàn Hàn quốc, một người quốc tịch Mỹ gốc Hàn. Cũng như việc bầu người con gái của tướng Park Chung Hy lên làm tổng thống Nam Hàn hiện nay, chứng tỏ dân tộc này có một sự trưởng thành chính trị văn hóa rất cao. Họ chỉ trích Park Chung Hy là người độc tài. Điều này người con gái ông khi ra tranh cử cũng thừa nhận, hứa không chủ trương độc tài, nhưng bà nói rõ bố bà là một người yêu nước, nền giáo dục và kinh tế hiện nay của Nam Hàn là do ông ta đặt nền móng. Dân Nam Hàn đã ý thức được điều đó và đã bầu cho bà.

Vào năm 2 008, thế giới bị khủng hoảng kinh tế, trong đó có Âu châu, thường là những nước rất kiêu hãnh, dẫn đầu bởi Pháp, chỉ thích cho người khác những bài học, thế mà đã phải nhún nhường, gửi một phái đoàn vừa chính trị vừa chuyên gia, dẫn đầu bởi một vị cựu thủ tướng, sang Nam Hàn để nghiên cứu học hỏi cách thức làm sao nước này thoát khỏi khủng hoảng mau lẹ và hữu hiệu.

Chúng ta cũng đừng quên là ngay từ thời Park Chung Hy, ông đã chủ trương chống tham nhũng tuyệt đối. Từ đó đến nay Nam Hàn được coi là một trong những nước trong sạch trên thế giới. Một thí dụ điển hình: Một vị cựu tổng thống Nam Hàn, có dính dáng tới vấn đề tham nhũng, không phải ông, mà là một người trong gia đình, chỉ với số tiền 50 000 $. Khi có bằng chứng rõ ràng, ông đã đi lên một ngọn núi cao, rồi nhảy xuống tự tử. Đó là tinh thần danh dự và trách nhiệm. Trong khi đó những nước chung quanh, giới lãnh đạo lúc nào miệng cũng rêu rao: « Cần kiệm liêm chính « , cho dán biểu ngữ, bích chương đầy đường. Nhưng vẫn tham nhũng hối lột từ trên xuống dưới, không phải 50 000 $, mà là 500 000 hay 5 000 000 $. Không còn một chút liêm sỉ, danh dự và trách nhiệm !

Người xưa có nói câu : « Nhân vô liêm sỉ hà như vật dã !«,  Người không có liêm sỉ thì chỉ bằng con vật ! Vì vậy, nói là đại diện, tiêu biểu cho triết lý, văn hóa, văn minh Đông phương, người ta có thể nói đến Nhật và Nam Hàn, chứ không phải Trung cộng và Việt cộng, vì Nhật bản và Nam Hàn biết tôn trọng triết lý, văn hóa, văn minh Đông phương, và đồng thời biết mở rộng cánh tay đón nhận những cái hay, cái đẹp của người một cách biết suy nghĩ, gạn lọc, chứ không phải như kiểu Trung cộng và Việt cộng vội vã nhập cảng cặn bã của văn minh Tây phương, từ cộng sản tới tư bản.

Đây cũng là câu trả lời cho một số nhà kinh tế kiêm xã hội học cho rằng những nước theo tư tưởng triết lý Phật, Khổng, Lão, không thể phát triển được về kinh tế.

Những nước không thể phát triển về kinh tế xã hội, qua kinh nghiệm suốt thế kỷ 20 vừa qua, cho chúng ta thấy, đó chính là những nước vứt bỏ triết lý, văn hóa, văn minh cổ truyền, vội vã nhập cảng tư tưởng, triết lý cộng sản của Marx.

Một thí dụ điển hình và còn hiện đại, đó là chúng ta so sánh tình trạng phát triển giữa nam Hàn và Bắc Hàn, theo lý thuyết của Marx. Bắc hàn hiện nay không những đàn áp dân, mà dân năm nào cũng bị nạn đói.

Thực ra, mô hình tổ chức xã hội của Marx, sau được tăng cường bởi Lénine, Staline, chỉ là một hình thái chế độ quân chủ phong kiến. Nhưng chế độ quân chủ phong kiến xưa kia còn có liêm sỉ, tự trọng, giai từng sĩ phu, trí thức, quan lại còn liêm khiết, nghĩ đến dân. Ngày nay với chế độ quân chủ phong kiến cộng sản, thì hoàn toàn ngược lại: vô liêm sỉ, tham nhũng từ trên xuống dưới, chỉ nghĩ đến cá nhân, gia đình và đảng đoàn. Người ta có thể nói chế độ quân chủ phong kiến độc tài còn kéo dài cho tới nay dưới những chế độ cộng sản còn lại, Trung cộng, Việt cộng, Bắc Hàn và Cu Ba.

Ông Tiền kỳ Minh, con của ông Tiền kỳ Thâm, cựu Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng của Tàu, ông Minh có du học qua Mỹ thời kỳ thập niên 90, trong thời gian ở Mỹ, ông có viết quyển sách Mặt trời chiếu sáng nhiều ở phương Đông hay ở phương Tây. Theo ông, vấn đề chiếu sáng nhiều ở Đông hay ở Tây không quan trọng ; việc quan trọng là dân tộc Tàu bị đàn áp, chèn ép bởi những chế độ độc tài quá lâu, trong đó có độc tài cộng sản, mặc dầu ông không nói rõ ra, vì ai cũng hiểu tựa đề quyển sách là để trả lời câu khẩu hiệu của Mao: « Mặt trời chiếu sáng nhiều ở phương Đông «  hay « Đông phương hồng «.

Bởi lẽ đó, khi nói về triết lý, văn hóa, văn minh và vội vã cho rằng Trung cộng và Việt cộng hiện nay là tiêu biểu cho Đông phương, thì không đúng, đó chỉ là căn bã của văn minh Tây phương.

Paris ngày 12/03/2014

Chu chi Nam

http://anhbasam.wordpress.com/2014/03/14/qt-tieu-bieu-cho-triet-ly-van-hoa-van-minh-dong-phuong/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: