Hà Sĩ Phu-Thư khước từ “làm việc”

-Nếu VNCH Thắng?-Alan Phan 

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật là như thế này sao?Tập thể 32 dân oan khu liên hợp Bình Dương

Tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu được trả tự do (RFA). – Tù chính trị Nguyễn Hữu Cầu được tự do sau 32 năm giam cầm(XHDS). – Tù nhân lương tâm ‘lâu năm nhất’ ra tù (BBC).  – Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu đã về đến nhà (DCCT).  – Tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu đã về nhà (DLB).

Thư khước từ “làm việc”

Hà Sĩ Phu

 (Thư ngỏ gửi cơ quan An ninh điều tra)

Ngày 20-3-2014 tôi lại nhận được “Giấy mời” của cơ quan An ninh điều tra, “mời” nhưng YÊU CẦU phải có mặt đúng giờ (mời đến lần thứ ba chắc chuyển sang triệu tập?) (hình 1). Trong hơn 20 năm nay tôi không thể nhớ được đây là “Giấy mời” lần thứ bao nhiêu nữa.

Tôi vốn không muốn kể những tai họa mà cá nhân mình phải chịu đựng, dù rất vô lý, nhưng nay tôi đã già yếu, 75 tuổi với đủ thứ bệnh tật, tôi buộc phải có thái độ dứt khoát để yêu cầu chấm dứt những phiền toái vô lý kéo dài hết năm này đến năm khác như vậy. Chỉ xin tạm đề cập đến hai lĩnh vực: lĩnh vực vi phạm quyền tự do đi lại và lĩnh vực hình sự hóa những vấn đề dân sự, dẫn đến điều tra xét hỏi liên miên. Những vi phạm khác khi cần sẽ xin nói sau.

1/ Bị cản trở quyền Tự do đi lại

– Năm 1998, tôi được ông Thị trưởng thành phố Genève mời sang du lịch tham quan (hình 2), nhưng phía Việt Nam không cho phép đi, công an Lâm Đồng trả lời như vậy, đồng thời Sứ quán Thụy Sĩ cho biết đã can thiệp nhưng thẩm quyền cho phép là thuộc phía Việt Nam! (hình 3).

– 15 năm sau tình hình vẫn không có gì khá hơn. Năm 2012 tôi và vợ tôi làm hồ sơ xin cấp hộ chiếu phổ thông (passport), họ chỉ cấp cho vợ tôi, còn tôi được yêu cầu phải tự viết một tờ cam đoan (cam đoan không liên hệ với các tổ chức chính trị, không viết bài và trả lời phỏng vấn có hại cho chính phủ Việt Nam, khi về tường trình chuyến đi với công an), tôi không viết vì không có văn bản nào quy định như vậy nên tôi không được cấp. Công an Lâm Đồng bảo tôi phải về gặp Cục Xuất nhập cảnh ở 254 Nguyễn Trãi TP HCM. Tôi về đó hỏi thì ông Đại tá Phan Văn Răng trả lời: “Ở đây sau khi làm các hộ chiếu đã trả hết về Lâm Đồng, nếu có trường hợp không cấp thì cũng có công văn nói rõ lý do cho công an Lâm Đồng biết rồi, Lâm Đồng phải trả lời cụ thể cho công dân chứ sao phải về đây?”. Chị Đại úy Nguyễn Thanh Nga còn nói rõ hơn: “Nếu bác bị tạm cấm xuất cảnh thì công an Lâm Đồng cũng phải cho bác biết vì lý do gì và thời hạn bao lâu chứ?”. Việc cấp hộ chiếu cho tôi cứ thế bị đưa đẩy, pháp luật sao cứ mập mờ tùy tiện?

– Mỗi khi tôi ra Bắc, về Hà Nội hay Bắc Ninh lập tức có tin báo để công an hộ khẩu ngoài ấy tiếp cận và gây phiền. Thậm chí vợ tôi đưa tôi ra Hà Nội chữa bệnh, khi đi đã cẩn thận báo tổ trưởng dân phố, khi về vẫn bị công an hoạnh họe phạt tiền cả hai vợ chồng (quả thực lúc ấy tôi chỉ mong được tự do đi lại bằng thời Pháp thuộc).

2/ Bị điều tra xét hỏi liên miên từ những sinh hoạt dân sự chính đáng:

– Năm 1990 tôi ra Hà Nội, khi đến thăm bà mẹ chị Dương Thu Hương liền bị câu lưu hỏi cung 10 ngày.

– Tôi photocopy một lá thư của ông Võ Văn Kiệt, một tài liệu đã đăng trên các trang web và được doanh nhân Trình Quang Phú giới thiệu, tức là chẳng còn gì bí mật, mà bị quy tội “cố ý làm lộ bí mật nhà nước”, hỏi cung liền mấy tháng và đi tù một năm.

– Viết thư trao đổi với các ông Lê Hồng Hà và Hoàng Minh Chính mà bị quy tội “vi phạm luật xuất bản”, hỏi cung liền một tháng và tịch thu một dàn vi tính.

– Viết thư trao đổi với các ông Đỗ Mạnh Tri và Nguyễn Gia Kiểng để từ chối, không ký vào cái “kết ước năm 2000” và giải thích vì sao Việt Nam chậm đổi mới so với Đông Âu mà bị quản chế tại gia, hỏi cung suốt 8 tháng ròng rã và khởi tố tới tội “phản quốc” (cùng với ông Mai Thái Lĩnh), khám nhà tịch thu một dàn vi tính nữa! Vụ án bị hủy bỏ nhưng quản chế hai năm, hàng tháng phải lên phường làm việc với công an!

Ngoài ra, còn ba lần đấu tố tại phường và khu dân cư và những lần “mời làm việc” rải rác nhiều năm. Tôi tính lại đã có trên 400 buổi bị hỏi cung và làm việc với công an, hỏi như vậy còn chi là đời một con người?

Gần đây, cùng với việc Việt Nam được bầu vào Hội đồng Phát triển và Giám sát nhân quyền, trong nước có sự hình thành những tổ chức dân sự. Nhận thấy đó là sự phát triển của xã hội bình thường, giúp cho xã hội cân bằng, và được mời, nên tôi đã tham gia các hội đoàn như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Văn đoàn độc lập Việt Nam”…, đó là những hội có tính nghề nghiệp hoặc ái hữu, không phải những tổ chức chính trị, và ở đâu tôi cũng là một thành viên tích cực, ôn hòa, có lý có tình, không bao giờ quá khích.

Trở lại việc Cơ quan An ninh điều tra “mời” chúng tôi đến cơ quan công an để điều tra. Theo quy định chung của luật thì chúng tôi có quyền mời luật sư ngay từ đầu và chỉ làm việc khi có luật sư, nhưng quyền tối thiểu ấy chưa bao giờ được thực hiện. Trong vụ quy kết tôi và ông Mai Thái Lĩnh tội “phản quốc” năm 2000, tôi đến Viện Kiểm sát Lâm Đồng đòi quyền có luật sư thì được trả lời: “Luật quy định thế nhưng mời luật sư cũng chẳng hơn gì vì luật sư trong nước thì cũng phải cãi theo luật Việt Nam nên cũng phải nói như công an và Viện Kiểm sát thôi ông ạ.” (!). Thật hết biết.

Nếu tạm gác quyền ấy, tạm chấp nhận cơ quan điều tra có quyền mời một người lên để điều tra về một việc gì đó khi không có luật sư, nhưng giấy mời vẫn phải ghi rõ điều tra về vụ việc gì, vì mời làm việc phải có lý do ngay lúc đặt vấn đề. Lại nhớ năm 2000 công an đến đọc lệnh khám nhà, tôi hỏi lý do gì mà khám nhà vì khám nhà là việc rất hệ trọng, công an bảo “Cứ khám nhà, sau 10 phút sẽ biết lý do, ông định chống người thi hành công vụ hả?”. Đúng là luật pháp lộn ngược!

Lại cứ rộng lượng, tạm cho phép cứ viết giấy mời làm việc mà chưa cần nói lý do, công an có thể viện cớ này cớ khác để giải thích với một người mới một lần, hay một vài lần bị mời. Nhưng, với một người đã bị làm việc và hỏi cung trên 400 buổi, đã bị quy đến tội “phản quốc” mà cuối cùng vụ án phải hủy vì sự quy kết chỉ là tầm bậy thì mọi lý sự quen dùng như vậy cũng đã thành vô nghĩa, mất thiêng, không thể chấp nhận. Vậy, với tư cách một người đã bị “điều tra” trải dài trên 20 năm, lại đang trong thời gian chữa bệnh, là bệnh nhân đang điều trị ngoại trú (bệnh mắt, bệnh tim, tiểu đường và u xơ tiền liệt), tôi xin giữ quyền của một con người có ý thức, khước từ lời “mời” buộc phải đến làm việc như giấy mời trên.

Chúng ta có cách giải quyết tốt hơn nhiều, đừng cố biến chuyện dân sự thành hình sự. Nếu có điều gì cần trao đổi cho rõ, xin mời đến nhà, mặc dù không thích thú gì nhưng tôi sẵn sàng trao đổi trong sự tôn trọng, vì lợi ích chung, mọi việc tôi làm đều công khai minh bạch, không có gì phải giấu giếm. Cư xử với nhau như vậy hẳn là có lý có tình hơn, nếu chúng ta còn muốn có lý có tình. Xin trân trọng trao đổi hết nhẽ như vậy.

Đà Lạt, ngày 22-3-2014

H.S.P.

(Thư này gửi cơ quan An ninh điều tra đồng thời gửi công luận)

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

http://www.boxitvn.net/bai/24508

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật là như thế này sao?

Tập thể 32 dân oan khu liên hợp Bình Dương

Năm 2004, UBND tỉnh Bình Dương bán cho ông Huỳnh Uy Dũng 533ha đất trong khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị Bình Dương để làm khu công nghiệp Sóng Thần 3. Nay Chủ tịch tỉnh không ký chuyển 61 ha trong số đất nầy thành đất thổ cư, nên bị ông Dũng kiện. Báo chí của nhà nước đăng tải rùm beng, và chỉ mấy ngày sau khi nhận được đơn của ông Dũng, Thủ tướng chính phủ đã chỉ đạo VPCP ra văn bản giao Thanh tra chính phủ điều tra kết luận vụ việc để báo cáo Thủ tướng xử lý.

Trong khi đó, từ năm 2004, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương ký hàng loạt quyết định thu hồi 4.197ha đất của dân đang canh tác để làm khu liên hợp này, trong khi chưa hề có quy hoạch sử dụng đất và cũng chưa có đề án được Chính phủ phê duyệt. Trong các quyết định, Chủ tịch tỉnh căn cứ vào luật đất đai 2003 và nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ để thu hồi đất, nhưng trong các quyết định bồi thường cho dân ban hành lần đầu tiên vào cuối năm 2008 và đầu năm 2009, tỉnh lại áp giá bồi thường theo quyết định 164/2003/QĐ-UB ngày 23/6/2003 của tỉnh, căn cứ vào nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ đã hết hiệu lực thi hành từ 2004. Trước các quyết định trái pháp luật một cách trắng trợn như thế, người dân không chịu nhận tiền giao đất thì chính quyền ký quyết định và tổ chức cưỡng chế hàng trăm hộ dân để thu hồi đất rồi bỏ hoang từ năm sáu năm nay, trong khi dân không có đất canh tác. Người bị cưỡng chế không phải chỉ bị mất đất mà nhà cửa tan nát, vườn tược bị san bằng, thóc lúa đồ đạc trong nhà bị chở đi mất sạch… Cả nhà không có công ăn việc làm, phải ăn bờ ở bụi từ bao năm nay, chẳng ai thèm ngó tới. Ai ngăn cản thì phải đi tù vì “chống người thi hành công vụ”.

Lá đơn sau đây đã được gởi cho Thủ tướng, Phó Thủ tướng chính phủ ngày 31-12-2013. Cũng như bao nhiêu đơn đã gởi đi từ nhiều năm trước, đơn này đã gởi gần ba tháng nay cũng chỉ được hồi âm bằng sự im lặng.

Sai phạm của một cấp chính quyền như đã nêu trong đơn này có phải lớn gấp hàng trăm lần nội dung tố cáo của ông Huỳnh Uy Dũng? Đây là một việc làm có tổ chức. Ngay cả sau khi có đơn khiếu kiện của nhân dân và đã có thanh tra, tỉnh Bình Dương vẫn cố ý tiếp tục làm trái, gây thiệt hại cho rất nhiều người dân vô tội. Thủ tướng và các Phó Thủ tướng là cấp trên của UBND tỉnh, sao không hề lên tiếng? Nếu UBND tỉnh Bình Dương làm như vậy là đúng pháp luật, thì cũng cứ trả lời là họ không sai để người dân không tiếp tục khiếu kiện và để các cơ quan chức năng bắt người tố cáo phải chịu tội trước pháp luật vì đã tố cáo sai sự thật.

Sự im lặng của Chính phủ thật là khó hiểu. Hiến pháp ghi rành rành “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, là như thế nầy đây sao? “Quan điểm của Chính phủ trước hết là hoan nghênh tất cả những công dân, doanh nghiệp phản ánh những điều bất cập hay có những kiến nghị, tố cáo phản ánh tiêu cực mang tính xây dựng” (ông Vũ Đức Đam trả lời báo chí ngày 26-10-2013), là như thế nầy đây sao? “Đảng, Nhà nước và Chính phủ đang quyết tâm chống tham nhũng”, là như thế này sao?

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP-  TỰ DO- HẠNH PHÚC

———————

ĐƠN TỐ CÁO UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG QUYẾT ĐỊNH THU HỒI,

BỒI THƯỜNG VÀ CƯỠNG CHẾ TRÁI PHÁP LUẬT ĐỂ LẤY ĐẤT

LÀM KHU LIÊN HỢP DỊCH VỤ CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG.

Bình Dương, ngày 20 tháng 12 năm 2013.

Kính gởi: Ông NGUYỄN TẤN DŨNG, Thủ tướng Chính phủ.

                     NGƯỜI TỐ CÁO: 32 người có tên trong danh sách với chữ ký và địa chỉ cụ thể dưới đây, thuộc diện có đất bị chính quyền cưỡng chế thu hồi lấy làm khu liên hợp công nghiệp dịch vụ đô thị Bình Dương  cho tới nay vẫn liên tục khiếu nại và chưa nhận tiền bồi thường.

NGƯỜI BỊ TỐ CÁO: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương, mà cụ thể là những người đã ký các quyết định trái pháp luật được nêu dưới đây.

CĂN CỨ TỐ CÁO:

-Căn cứ điều 52 Hiến pháp hiện hành đã quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.

-Căn cứ Luật tố cáo.

-Căn cứ Luật đất đai.

-Căn cứ ý kiến của Chính phủ được Ông Vũ Đức Đam, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ công bố tại cuộc họp báo ngày 26-10-2013:“Quan điểm của Chính phủ trước hết là hoan nghênh tất cả những công dân, doanh nghiệp phản ánh những điều bất cập hay có những kiến nghị, tố cáo phản ánh tiêu cực mang tính xây dựng.”

Từ nhiều năm trước, chúng tôi đã gởi nhiều đơn tố cáo với nội dung tương tự, nhưng chưa được giải quyết. Nay nhân việc Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo xem xét giải quyết đơn của Ông Huỷnh Uy Dũng tố cáo Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, chúng tôi tiếp tục làm đơn nầy tố cáo UBND tỉnh Bình Dương đã cố ý làm trái pháp luật, với nội dung như sau:

NỘI DUNG TỐ CÁO:

1.Ban hành quyết định thu hồi đất để làm khu liên hợp công nghiệp dịch vụ đô thị Bình Dương trong khi chưa có quy hoạch sử dụng đất và chưa có đề án được Chính phủ phê duyệt.

Từ ngày 20/10/2004 đến ngày 05/5/2005 UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành các quyết định thu hồi toàn bộ 4.197ha đất để xây dựng Khu liên hợp trong khi đề án khu Liên hợp đến ngày 1-9-2005 mới được phê duyệt bởi quyết định 912/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; và chỉ tiêu đất sử dụng để xây dựng Khu liên hợp được bổ sung vào quy hoạch sử dụng đất điều chỉnh đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 – 2010) của tỉnh Bình Dương được Chính phủ phê duyệt bởi Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 28/11/2007 của Chính phủ.

Như vậy các quyết định thu hồi đất nầy trái với khoản 1 điều 39 Luật Đất đai.

(Điều 39. Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt).

Các quyết định thu hồi đất trái pháp luật nầy do Trần thị Kim Vân, phó Chủ tịch ký thay Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương.

2. Ban hành “quyết định số 164/2003/QĐ-UB ngày 23/6/2003 quy định chủ trương bồi thường đất và tài sản trên đất công trình Khu liên hợp” trong khi chưa có đề án khu liên hợp được phê duyệt và UBND tỉnh cũng chưa quyết định thu hồi đất, chưa thành lập Hội đồng bồi thường.

Tỉnh Bình Dương viện cớ là lúc đó Luật đất đai 2003 chưa có hiệu lực nên làm theo nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Nhưng việc ban hành quyết định 164/2003/QĐ-UB ngày 23/6/2003 nầy cũng hoàn toàn trái với quy định tại điều 34 của nghị định số 22/1998/NĐ-CP.

Vậy mà UBND tỉnh Bình đã căn cứ vào 164/2003/QĐ-UB ngày 23/6/2003 để tính toán  rồi ra thông báo bồi thường, thu hồi đất. Không cần có quyết định bồi thường cho từng hộ dân. Tính đến thời điểm Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 912/QĐ-TTg ngày 01/9/2005 phê duyệt “Đề án tổng thể đầu tư và phát triển Khu liên hợp công nghiệp – Dịch vụ – Đô thị Bình Dương” thì việc giải tỏa, bồi thường đã thực hiện được 85% diện tích quy hoạch.

Việc làm trái pháp luật nầy đã gây nên tình trạng tréo ngoe là UBND tỉnh Bình Dương thu hồi đất theo Luật đất đai 2003 và nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004; nhưng lại bồi thường theo luật đất đai 1992 và nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998. Ngay cả các quyết định bồi thường được ban hành cho từng hộ dân vào năm 2009, cũng tính toán theo nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã hết hiệu lực từ năm 2004.

Người ký quyết định số 164/2003/QĐ-UB ngày 23/6/2003 là Ông Hồ Minh Phương, chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương. Người trực tiếp chỉ đạo và đôn đốc việc bồi thường thu hồi đất theo quyết định nầy là Trần Văn Lợi, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, trưởng ban chỉ đạo giải tỏa bồi thường khu liên hợp Bình Dương.

3. UBND tỉnh Bình Dương đã giao đất cho nhà đầu tư từ năm 2004, trong đó có nhiều diện tích chưa làm thủ tục thu hồi và bồi thường cho người dân đang có quyền sử dụng hợp pháp. Việc làm nầy hoàn toàn trái pháp luật, gây ra tình trạng chồng chéo là nhiều người cùng được cấp sổ đỏ trên cùng một thửa đất.

Cụ thể như trong phần đất UBND tỉnh Bình Dương đã được giao cấp cho công ty Sóng thần 3 của Ông Huỳnh Uy Dũng vào năm 2004, cho tới năm 2013 nầy vẫn còn một số người có quyền sử dụng đất chưa nhận tiền bồi thường như:

-Ông Thái Văn Dậu, cư ngụ phường Phú Tân, Thủ Dầu Một;

-Nguyễn Văn Giới, cư ngụ TT Tân Phước Khánh, Tân Uyên;

-Lê Thị Muôn, cư ngụ xã Tân Vĩnh Hiệp, Tân uyên;

-Nguyễn Thị Tám, cư ngụ phường Phú Tân, Thủ dầu Một;

-Lâm Văn Lực, cư ngụ phường Phú Tân, Thủ Dầu Một.

-Phan Văn Tác, cư ngụ phường Phú Tân, Thủ dầu Một.

-Huỳnh Văn Nghiệp, cư ngụ xã Tân Vĩnh Hiệp, Tân Uyên

Việc phê duyệt các hợp đồng giao đất cho nhà đầu tư do Hồ Minh Phương, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương thực hiện.

4. Ban hành các quyết định và tổ chức cưỡng chế trái pháp luật để thu hồi đất trong khi các hộ dân không chịu nhận tiền giao đất vì việc thu hồi, bồi thường của chính quyền không thực hiện đúng pháp luật.

Từ việc quyết định thu hồi đất và bồi thường đất trái quy định pháp luật như trên, cộng với rất nhiều sai sót của chính quyền trong việc kê khai tài sản trên đất, nhiều hộ dân khiếu nại và không chịu nhận tiền giao đất. Thay vì sửa sai thì UBND tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo UBND Huyện, Thị xã ban hành các quyết định và tổ chức cưỡng chế hằng trăm hộ dân để lấy đất. Chính Trần thị Kim Vân, phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương có mặt tại hiện trường để trực tiếp chỉ đạo các đợt cưỡng chế diễn ra liên tục trong năm 2009.

5. Quy hoạch nói là để phát triển kinh tế, nhưng UBND tỉnh Bình Dương đã quy hoạch để đầu cơ quỹ đất, kinh doanh đất nền . Cụ thể như khu tái định cư Phú Mỹ, khu tái định cư Tân Vĩnh Hiệp (nay thuộc phường Phú Tân). Đa số diện tích đất bị cưỡng chế đã giao cho Cty Bécamex từ năm 2009 đến nay vẫn bị bỏ hoang, chờ phân lô bán nền. Họ đã bỏ đất hoang nhiều năm để chờ thời cơ kinh doanh lấy lãi, trong khi người bị cưỡng chế thu hồi đất không còn đất sống.

Theo quan điểm của chúng tôi, quyết định thu hồi, bồi thường và cưỡng chế trái pháp luật để lấy đất phân lô bán nền thực chất là cố ý làm trái để tham nhũng. Nhà nước và Chính phủ đang chủ trương bài trừ tham nhũng, vì vậy không thể không xem xét lại vụ cố ý làm trái pháp luật của UBND tỉnh Bình Dương trong việc triển khai đề án khu liên hợp công nghiệp dịch vụ đô thị Bình Dương.

Rất mong Thủ tướng quan tâm.

32 hộ dân đồng ký tên.

Khi nhận được đơn nầy, xin thông tin lại cho chúng tôi qua địa chỉ liên lạc: Ông Thái Văn Dậu, Khu phố 3 Phường Phú Tân, TP Thủ Dầu Một- tỉnh Bình Dương.

 

Đồng kính gởi: Ông Nguyễn Phú Trọng, TBT đảng CSVN, Trưởng ban chỉ          đạo chống tham nhũng.

Ông Nguyễn Bá Thanh, Phó ban chỉ đạo chống tham nhũng.

Ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ

Ông Vũ Đức Đam, phó Thủ tướng Chính phủ.

Các cơ quan Báo, Đài đã đưa tin vụ Huỳnh Uy Dũng tố cáo Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương “để xin đăng tải giúp lên các phương tiện thông tin đại chúng”.

Đính kèm:

Quyết định 912/QĐ-TTg ngày 01/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án tổng thể đầu tư và phát triển Khu liên hợp công nghiệp – Dịch vụ – Đô thị Bình Dương”

-Quyết định 164/2003/QĐ-UB ngày 23/6/2003  của UBMD tỉnh Bình Dương.

-Một trong các quyết định thu hồi đất của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương.

 

Ông Thái Văn Dậu cùng các dân oan khu liên hợp Bình Dương gửi trực tiếp cho BVN..

http://www.boxitvn.net/bai/24476

Nếu VNCH Thắng?

Alan Phan-Lê Phú Nhuận

S VN money

GNA: Trong bài phỏng vấn Riêng Tư ngày 30/1/2014 của phóng viên Trần Lương, Alan Phan tôi có trả lời như sau về một câu hỏi:

Hỏi: Tuy nhiên, T/S có thực sự nghĩ rằng chế độ cũ của miền Nam trước 1975 có thể đem lại cho đất nước một đời sống vật chất hay văn hoá khả quan hơn cho phần lớn người dân?

Đáp: Tôi không biết. Muốn phán xét thật công bằng, phải đem cân 2 chế độ theo rất nhiều chuẩn mực; rồi phải có sự đồng thuận về giá trị của từng chuẩn mực. Nếu khả thi, thì đây phải là một nghiên cứu sưu tầm rất công phu, khoa học, tốn nhiều thập kỷ và cần sự đóng góp của cả ngàn chuyên gia tại khắp mọi lãnh vực.

Nhưng tôi nhìn nhận một điều: tôi rất hạnh phúc với môi trường sống trước 1975. Thành phố còn ít người, rác và ô nhiễm không tràn ngập, cảnh quan còn xanh đẹp với những kiến trúc nửa Âu nửa Á, con người đối xử với nhau tình tự hơn, sự khoan thai và thư giãn luôn hiện diện dù chiến tranh bao quanh…Nhiều yếu tố cấu thành có thể không khách quan; nhưng Saigon hay Đà Lạt, Nha Trang ngày xưa nơi tôi sống chứa đựng những vần thơ trong từng hơi thở; lênh láng những sắc màu đơn giản hài hoà trong mỗi bước đi.

Bây giờ, tại những nơi đó, nhất là Saigon và Hà Nội, toàn các hiện tượng văn hoá thật chướng tai gai mắt, thái độ tham lam chụp giật chen lấn hiện diện trên từng khuôn mặt, từng hành xử…cảnh quan thành phố thì lộn xộn không quy hoạch, vỉa hè bị chiếm, cây xanh bị chặt…Mỹ có thành ngữ “it’s really ugly” (thật là xấu xí)…

 

Một bạn đọc gởi đến bài viết này như một phản bác. Xin ghi nhận và post nơi đây một góc nhìn khác.

Tác giả: Lê Phú Nhuận 14 Mar 2014

Vừa nhận được một e-mail đề cập đến câu hỏi: “TRONG TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM CỘNG HOÀ THẮNG QUÂN CỘNG SẢN VIỆT NAM, THÌ LIỆU TÌNH HÌNH CÓ KHÁC HƠN CHÚT NÀO CHĂNG? ” Tôi là lính, nên xin trả lời rất nhanh và rất đơn giản, ngay bây giờ, và dễ nhận thấy.

1. Trước hết, dù là giả thuyết, câu hỏi sai từ trong căn bản . Miền Nam không tấn công miền Bắc, nên không thể có chiến thắng. Sau khi ký hiệp định đình chiến 1954 , miền Nam lo xây dựng đất nước, ổn định đời sống toàn dân, chỉ muốn sống trong hoà bình ..

Ngay từ lúc đó , cộng sản VN đã gài người ở lại , nằm vùng , chuẩn bị sẵn cho cuộc xâm chiếm miền Nam , với sự viện trợ tối đa của cả Nga, lẫn Tầu như đã thấy . Mầm mống chiến tranh , cội nguồn của bao tội ác , hi sinh hàng triệu sinh mạng đồng bào cả Nam lẫn Bắc , xương máu chất chồng , bom đạn khói lửa ngút trời . . . xuất phát từ kẻ chủ chiến , từ kẻ xâm lăng , không phải từ phía chống đỡ , phải tự vệ . Rõ như ban ngày !

Đặt câu hỏi theo kiểu này là một lối lập lờ đánh lận con đen, để lừa bịp, để đánh tráo , nhì nhằng giữa hai phe đánh nhau. Vì vậy phải bác bỏ câu hỏi ấy ngay từ đầu , trước khi thử đi vào giả thuyết chỉ để cho rõ bản chất của hai chế độ ..

2. Giả dụ rằng, trong trường hợp mà miền Nam thắng vào tháng Tư 1975, thì tôi đoan chắc tình hình tốt hơn nhiều, nhiều lắm, và ai cũng có thể hiểu được, không chút gì ngụy biện. Tôi nói theo kiểu lính nên rất dễ hiểu.

– Này nhé. Lúc ấy người dân miền Nam giàu hơn người dân miền Bắc rất nhiều. Dân miền Nam không thể nào có ý nghĩ quái đản là ra Bắc để vơ vét , lấy về , mà trái lại sẽ rất vui vẻ mang quà ra Bắc cho thân nhân, đồng bào mình ngoài đó. Sẽ không có cảnh đày, đồng, đạp như đã thấy. Hàng triệu dân miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 chắc chắn sẽ hối hả mang đủ thứ về quê cho bà con mình. Cuộc tương phùng sẽ rất cảm động, rất thân tình, rất vui mừng, chứ không phải ngỡ ngàng như đã thấy.

– Chính quyền miền Nam là một đồng minh trong thế giới Tự Do , tôn trọng quyền tư hữu , nên cũng sẽ không có cảnh đánh tư sản , kiểm tra , cướp của , cướp nhà như CS đã làm đối với dân miền Nam. Nếu chưa thể nâng mức thu nhập ở miền Bắc lên ngang với đời sống ở miến Nam thì cũng không có cảnh chặt ngang cho tất cả nghèo như nhau. Cũng không có cảnh đuổi dân đi vùng kinh tế mới để chiếm nhà, cướp đoạt tài sản, như đã thấy .

– Các cơ sở nhà nước, các khu vực quân sự sẽ không bị ai chiếm đoạt vì luật pháp VNCH không thừa nhận quyền sở hữu cho bất cứ cá nhân hay đảng phái nào. Do đó sẽ không có cảnh con ông, cháu cha nào chiếm đoạt công thự, đất đai nhà nước làm của riêng, như đã thấy .

– Miền Nam đang được nhiều nước tân tiến, giàu có ủng hộ, nên họ sẵn sàng viện trợ để tái thiết sau chiến tranh. Lúc ấy , nền kinh tế miền Nam tự nó đã không hề thua sút các nước tại Á Châu , lại có dịp vươn mình lên, phát triển hơn, ngay tức khắc , không hề bỏ lỡ cơ hội hàng chục năm, để dân phải thiếu cả gạo để ăn, phải ăn bo bo, bột mì . . . như đã thấy ..

– Điều quan trọng nhất là Tình Người trong thời kỳ chuyển tiếp. Sẽ không bao giờ có một tinh huống tàn nhẫn, vô nhân đạo như đã thấy. Điều này thuôc về bản chất của hai chế độ. Cộng sản là giết lầm hơn bỏ sót, đào tận gốc, trốc tận rễ, truy cứu lý lịch ba , bốn đời , dù chỉ là đứa bé mới cắp sách đi học, dù là thầy tu, dù là giáo viên, là bác sĩ, y tá . . ..

Miền Nam thì khác hẳn, nên mới có nhiều Việt cộng nằm vùng trong mọi cơ quan, ngay cả trong thời gian chiến tranh.

Thế thì miền Nam sẽ giải quyết cách nào đối với các cán binh , cán bộ miền Bắc ?

Đang khi còn chiến tranh mà miền Nam còn áp dụng chính sách Chiêu Hồi, hễ buông súng, bỏ ngũ, cam kết lương thiện làm ăn, thì tự do sinh sống như mọi người. Dĩ nhiên phải trình diện, giao nộp toàn bộ vũ khí, khai báo lý lịch để thiết lập hồ sơ cá nhân, xác định nơi cư trú và lần lượt trả về nguyên quán với gia đình, như thủ tục chiêu hồi vẫn làm trong nhiều năm, như đã thấy.

Và dù có người nào bị tạm giữ trong một thời gian chắc cũng không phải đói mờ, đói mịt , khoai sắn cũng không đủ no như dưới thời công sản. Gia đình cũng sẽ không bị cấm đoán, hạn chế việc tiếp tế thăm nuôi như đã thấy. Và chắc chắn sẽ không có màn lừa bịp mười ngày thành ba năm, rồi bảy, tám, mười, mười lăm năm, như đã thấy! Và sẽ không có hàng ngàn nhà tù từ Nam tới Bắc như đã thấy!

Cần nhấn mạnh một điểm rất nhân bản của miền Nam là thủ tục bảo lãnh người thân. Gia đình nào có người thân bị bắt vì hoạt động cho cộng sản, nếu chịu đứng ra bảo lãnh trách nhiệm, thì phần lớn sẽ được cứu xét cho về với gia đình, ngay trong lúc chiến tranh. Hầu như gia đình nào cũng có thân nhân ở bên này hay bên kia.

Sau chiến tranh, bà con miền Nam sẽ được khuyến khích đứng ra bảo lãnh cho thân nhân trong hàng ngũ cộng sản, trở về với gia đình. Chế độ cộng sản không khuyến khích thủ tục ấy, ngay cả cha-con, vợ-chồng, anh-em. Trái lại, họ khuyến khích, thúc đẩy thân nhân đi vào tù “học tập ” cho tốt , “lao động” cho giỏi , để khỏi bị đảng nghi ngờ , như đã thấy !

Nhìn sự kết hợp hai miền đông-tây của Đức , người ta có thể hình dung ra phần nào cảnh kết hợp hai miền Nam-Bắc , dù không nhất thiết phải giống y như thế .

Phần quan trọng hơn nữa là Tổ Quốc Việt Nam đã không bị mất nhiều phần lãnh thổ về tay Tầu cộng , vì không bị lệ thuộc vào “đồng chí vĩ đại” phương bắc , – kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. Sẽ không mất ải Nam Quan, không mất một phần thác Bản Giốc , không phải dấu giếm đồng bào mình , lén lút ký kết hiệp ước biên giới với rất thiệt thòi cho dân tộc mình , như đã thấy !

Tóm lại, theo cái nhìn của một người lính già, rất đơn giản nhưng rất thật, từ đời sống vât chất đến đời sống tinh thần, theo giả thuyết trên, thì nếu miền Nam thắng , thực tế tốt hơn rất nhiều.

Tôi cố tình lập lại nhiều lần ba chữ “như đã thấy” để chứng minh đó là một thực tế rất dễ nhận thấy ..

Và nếu (vẫn nếu) như thế, thì giờ này tớ đang nghỉ hưu ở Sàigòn !./-

LÊ PHÚ NHUẬN

(GNA: Đây là ý kiến cá nhân của một người lính VNCH cũ nên xin bạn đọc nên nhìn theo một bối cảnh chủ quan của người viết. Quan điểm này không phải của Góc Nhìn Alan và không phản ảnh bất cứ comments nào của các BCA khác).

http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-alan-va-bca/neu-vnch-thang.html

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: