Cấm bắt giam người khiếu kiện: Việt Nam học gì từ Trung Quốc?

Phạm Chí DũngCấm bắt giam người khiếu kiện: Việt Nam học gì từ Trung Quốc?

Cấm bắt giam người khiếu kiện!

Dù bị một số giới quan sát phương Tây xem là chế độ còn “phát xít” hơn cả Việt Nam, ít nhất thế hệ lãnh đạo mới ở Trung Quốc vẫn biết và vẫn dám làm một ít đầu việc mà giới chính khách cao cấp ở Hà Nội chưa bao giờ dám quyết định.

Gần cuối tháng 3/2014, một văn kiện do Ban chấp hành trung ương Đảng và Hội đồng nhà nước Trung Quốc ban hành đã nhấn mạnh “Tuyệt đối cấm việc giam giữ trái phép người khiếu kiện”.

Theo nhận định của báo chí phương Tây, đây là một chủ trương khá mạnh dạn sau bốn tháng bãi bỏ hệ thống trại cải tạo lao động.

Trên lý thuyết, các công dân Trung Quốc có tranh chấp với chính quyền địa phương, nhất là trong các trường hợp cưỡng chế đất đai, bê bối vệ sinh môi trường hay lạm dụng quyền hành và bị ngược đãi, đều có thể kêu lên các cấp chính quyền cao hơn, hay thậm chí lên tận trung ương ở Bắc Kinh. Nhưng trong thực tế, đại đa số chính quyền địa phương vẫn làm ngơ trước các khiếu kiện của dân. Nhiều người dân đi khiếu kiện lên cấp trên bị chặn bắt giữa đường hay bị giam giữ trái phép trong các “nhà tù đen” trước khi được thả về địa phương.

Thực ra lệnh cấm đối xử thô bạo đối với người khiếu kiện đã được phát ra vào tháng 5/2013. Sau cuộc bùng nổ chống cưỡng chế tại làng Ô Khảm ở Quảng Đông vào cuối năm 2011, Bộ Tài nguyên Đất đai Trung Quốc đã phải ban hành một thông tư khẩn kêu gọi chấm dứt các vụ cưỡng chế tịch thu đất bất hợp pháp. Theo đó “Các hành động dùng vũ lực để tịch thu đất đai bất hợp pháp sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc”.

Trong những năm gần đây, các vụ cưỡng chế và tịch thu đất đã gây ra hàng chục ngàn vụ biểu tình và xung đột. Khoảng 90.000 vụ “sự cố tập thể” – mỹ từ được sử dụng để chỉ các vụ nổi dậy – được ghi nhận hàng năm tại Trung Quốc, trong đó có đến hai phần ba số vụ liên quan đến việc trưng thu đất – một tỷ lệ gần tương tự ở xã hội Việt Nam.

Cũng như Việt Nam, trong sâu thẳm và tận cùng, xã hội Trung Quốc luôn tiềm ẩn những nghịch lý kinh khủng.

Trong khi tổng khối lượng kinh tế của Trung Quốc nhìn lên chỉ xếp sau Mỹ, thì vẫn còn quá nhiều nông dân phải cắm mặt xuống đất.

Cánh cổng khép kín của quốc gia này đã khiến cho nhiều vụ việc trở nên câm lặng. Như một sự toa rập với định hướng chỉ đạo, một phần trong hệ thống truyền thông đại chúng vẫn ca ngợi sự thịnh vượng của đất nước, thay cho chuyện mổ xẻ cái nghịch lý “nước giàu dân nghèo”.

Dù vào tháng 11/2013, Bắc Kinh đã quyết định xoá bỏ hệ thống trại cải tạo lao động, nơi có thể giam giữ người không qua xét xử, nhưng chính quyền địa phương ở Trung Quốc vẫn bị tố cáo là đã sử dụng hệ thống trại cải tạo để trấn áp những tiếng nói đối kháng, tố giác tham nhũng và cả những người dân oan khiếu kiện. Cho đến nay, nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền vẫn cảnh báo vẫn còn tồn tại hiện tượng bắt giữ vô cớ người khiếu kiện. Theo Amnesty International, ở Trung Quốc, nhiều trại lao cải vẫn tồn tại dưới dạng trại cai nghiện.

Ngạn ngữ Trung Quốc có câu “Bạo lực là thủ đoạn sau cùng của kẻ không có năng lực”. Tình trạng bắt giữ vô cớ người khiếu kiện cũng gián tiếp xác nhận thực tế cầm quyền gần như bất lực của chính quyền.

“Đánh thuế” người khiếu kiện

Không thu hoạch được gì từ tinh thần phẫn uất ghê gớm của làng Ô Khảm ở Trung Quốc và vụ Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, vào tháng 5/2013 ông Huỳnh Phong Tranh – người đã tỏ ra mềm mỏng với thông điệp “Công tác thanh tra là bạn của dưới, tai mắt của trên” khi mới nhậm chức Tổng thanh tra chính phủ, còn phát đi một thông điệp khác với quan điểm “kiên định” khác thường: “Đối với các đoàn (khiếu kiện) đông người quá khích, đặc biệt là những đoàn mang màu sắc chính trị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, Tổng thanh tra chính phủ yêu cầu phải tiến hành cưỡng chế”.

Cùng thời gian trên, một quan chức của Quốc hội Việt Nam là Phan Xuân Dũng, cũng là người đóng vai trò phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học công nghệ và Môi trường của cơ quan dân bầu này, đã tung ra một sáng kiến chưa thể có tiền lệ: “Cần có quy định bắt buộc người khiếu nại tố cáo ứng ra một khoản tiền đặt cọc. Thua thì coi như mất tiền đặt cọc, còn kiện đúng thì tiền cọc mới được nhà nước hoàn trả”.

Những đề xuất trên được nêu ra trong bối cảnh việc giải quyết khiếu tố đất đai đang hết sức nóng bỏng ở Việt Nam, với khoảng 80% đơn thư khiếu tố thuộc về lĩnh vực đất đai và hơn 70% trong số đơn thư đó nhằm tố cáo rất nhiều sai phạm của các chính quyền địa phương về công tác bồi thường, cưỡng chế giải tỏa, tái định cư…

Cơn sóng thủy triều khiếu kiện vẫn ầm ầm trên mọi nẻo đường đất nước. Không hẹn mà gặp, giữa người dân khiếu kiện từ các tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, An Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bình Dương, TP. HCM… đã có một mối dây tương thích về chia sẻ cảnh ngộ và phương thức đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng của mình.

Với người dân khiếu kiện đất đai, giờ đây vấn đề không còn đơn thuần nằm trong những lá đơn khiếu nại gửi tới các cấp thẩm quyền. Thái độ quan liêu tắc trách và cả ý đồ không nhân nhượng của một số nhân vật đặc quyền đặc lợi trong hệ thống chính quyền càng khiến cho người dân thấm thía số phận của mình đã bị an bài như thế nào. Bởi thế trong não trạng của rất nhiều người dân, chỉ có sự đoàn kết, đồng lòng trong khiếu tố, khoa học và bài bản trong tổ chức biểu tình và phản kháng mới có thể làm cho chính quyền địa phương thừa nhận sai lầm và mang lại cho người dân bị giải tỏa một kết thúc có hậu hơn.

Còn với người dân bị mất đất và nhiều trường hợp bị cướp đất, không còn cách nào khác, họ phải liều lĩnh hành động để giành giật sự sinh tồn cuối cùng cho gia đình mình. Thái độ và bản lĩnh trong việc thách thức và sẵn sàng đối đầu, chống đối chính quyền cũng vì thế đang có chiều hướng bùng phát, một sự bùng phát mà đến một thời điểm nào đó, mọi cố gắng kềm chế từ phía chính quyền sẽ trở nên bất khả kháng.

Gần hai chục năm sau “cuộc cách mạng” Thái Bình, một lần nữa cơn bão khiếu tố đất đai của nông dân đang trở nên một phản ứng xã hội ngày càng ghê gớm và có thể đe dọa đến “sự tồn vong của chế độ” – như điều mà người phụ trách cao nhất của Đảng vẫn lo ngại.

Song nhiều giới chức chính quyền lại không hề động não đến một hệ lụy tất yếu của quy luật tâm lý xã hội: sự chèn ép và phủ chụp về não trạng điều hành độc đoán đối với những người dân oan đi khiếu kiện đã góp một phần không nhỏ làm cho mối quan hệ giữa người dân và chính quyền trở nên xung khắc và thậm chí còn mang sắc màu xung đột.

Một khi không thể nhận thức và cũng không chút cảm thông với “những cuộc tụ tập có màu sắc chính trị” của tầng lớp nông dân khiếu tố đất đai, nhà cầm quyền sẽ nhanh chóng rơi vào nguy cơ “không có năng lực” như hiện tình Trung Quốc, và chế độ cũng rất có thể bị đẩy vào tình trạng mất kiểm soát trong không khí đầy bạo lực.

Đổi màu không đổi máu

Như một hiệu ứng đồng pha, hàng chục năm qua đã đồng thời diễn ra một phong trào khiếu tố đất đai lan rộng với mức độ gay gắt bất thường ở cả Trung Quốc và Việt Nam.

Nhưng khác với Việt Nam, chính thể Trung Quốc còn có kế sách để ngăn chặn “nguy cơ đối với sự tồn vong của chế độ”.

Ít nhất, một quy định về cưỡng chế, thu hồi đất đai do Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc ban hành đã chính thức có hiệu lực từ ngày 10/4/2012. Theo đó, chính quyền không được tiến hành cưỡng chế nếu gặp phải một trong những tình huống như: thiếu căn cứ thực tế, thiếu căn cứ pháp luật, bồi thường không công bằng, không rõ ràng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi hợp pháp của người bị cưỡng chế, không đảm bảo điều kiện sống cơ bản hoặc điều kiện kinh doanh sản xuất của người bị cưỡng chế.

Còn ở Việt Nam, vẫn chưa có gì thay đổi đáng kể sau vụ Đoàn Văn Vươn, ngoài việc “rút kinh nghiệm” chỉ đổi màu không đổi máu. Nhiều vụ khiếu kiện đất đai đã bị quy chụp cho cái mũ “tụ tập mang màu sắc chính trị” và đã bị đàn áp nặng nề.

Bài học mà một số giới chức lãnh đạo ở Việt Nam tưởng chừng đã “tỉnh ngộ”, lại vẫn đang bị căn bệnh hoang tưởng quyền lực phong tỏa. Những gì mà giới chức chính quyền địa phương lẽ ra phải được giáo huấn một cách thật sự nghiêm khắc thì lại bị chính quyền trung ương phớt lờ. Ngược lại, có quá nhiều minh họa cho thấy giới chức địa phương và cả trung ương chỉ rắp tâm phục vụ yêu cầu của các nhóm lợi ích bất động sản.

Trong bối cảnh thị trường bất động sản đóng băng quá tồi tệ từ năm 2011 đến nay, các chủ đầu tư không thể tiêu thụ sản phẩm và do đó không thể thu hồi được vốn đầu tư và trả món nợ kếch xù cho ngân hàng nếu không nhanh chóng hoàn thiện công trình. Với những dự án còn dở dang trong công tác giải phóng mặt bằng, điều tiên quyết là phải giải tỏa dân chúng càng sớm càng tốt để có thể thu về “đất sạch”.

Riêng những chủ đầu tư máu lạnh phải hoàn thành bằng được bước đi đầu tiên và “sạch sẽ” nhất – ly khai với tầng lớp dân chúng nghèo khổ, để sau đó mới có thể tiếp cận được với một giai tầng dân chúng khác bớt nghèo khổ hơn nhiều.

Một số chủ đầu tư máu lạnh như thế đã đốt cháy giai đoạn bằng cách thúc ép và cả “vận động” chính quyền địa phương bằng một thứ “dịch vụ đặc biệt”, để chính quyền có động lực thi hành biện pháp cưỡng chế đối với những hộ dân thuộc loại “chây lì”. Cảnh sát và quân đội cũng được huy động vào các chiến dịch đẩy đuổi người dân ra khỏi chỗ chôn rau cắt rốn.

Trong bối cảnh thông tin một chiều về “diễn biến hòa bình”, các cơ quan của chính quyền địa phương, từ Ban dân vận, Ban tuyên giáo đến cơ quan giải quyết khiếu nại tố cáo, đặc biệt là cơ quan công an càng có lý do để gán ghép hành vi khiếu kiện và phản ứng đất đai của người dân bị giải tỏa thành “gây rối có tổ chức”. Cán bộ của những cơ quan này, trong khi không mấy quan tâm đến nguồn gốc đầy mất mát thương tâm của các vụ việc khiếu tố đất đai, lại luôn lên giọng về hình ảnh “các thế lực thù địch luôn tìm cách kích động, lôi kéo người dân đi khiếu kiện, tiến đến gây mất ổn định trật tự xã hội và an ninh chính trị”.

Nguy cơ xung đột đất đai và đối đầu giữa người dân với chính quyền cũng bởi thế càng trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết, trở thành tiền đề không tránh khỏi cho một cuộc khủng hoảng xã hội khó thoát khỏi cảnh đổ máu và hồi tố.

P.C.D.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

http://www.boxitvn.net/bai/24572

Những “thành quả” có 1 không 2

Thanh Quang, phóng viên RFA
2014-03-24
nguoi-cay-305.jpg
Ba cô gái kéo cày thay trâu ở Hưng Yên.

Courtesy Tiền Phong

 

 

“Trâu cày” ở thế kỷ 21

Hôm 16 tháng Ba vừa rồi, TS Nguyễn Thị Từ Huy có dịp đọc bài báo tựa đề “Xem nông dân Hưng Yên kéo bừa thây trâu” mà xem chừng như không dằn được bực tức. Đó là cảnh mà blog Dân Lầm Thang gọi là “Thiên đường mới: Người kéo bừa thay trâu”. Theo báo mạng trong nước, trong khi nhiều người vẫn còn đang ăn Tết, du xuân… thì nông dân ở nhiều nơi phải ra đồng làm việc. Và tại Hưng Yên, “không trâu, không tiền thuê máy, một số hộ nông dân phải dùng sức người kéo bừa”, như báo Tiền Phong từng mô tả:

“Sáng mùng 6 Tết, ông Phạm Văn Kháng, 47 tuổi (xã Lạc Hồng, Văn Lâm, Hưng Yên) cùng con trai ra bừa khoảnh ruộng nhỏ ngay giáp quốc lộ 5. Sợi dây thừng được buộc vào hai đầu chiếc bừa, con trai ông Kháng vòng qua bụng, hai tay nắm chặt dây, kéo bừa đi. Đằng sau, ông Kháng lựa chiếc bừa đi theo bước chân con trai…

Cách ruộng của ông Kháng vài khoảnh, dù ruộng khá rộng, nhưng cô Hòe (Lạc Hồng, Văn Lâm, Hưng Yên) cùng ba con gái cũng đang bừa ruộng bằng sức người. Cô Hòe cầm bừa, trong khi ba cô con gái ra sức kéo chiếc bừa trên ruộng cạn.”

Trước cảnh, nhất là phụ nữ, kéo bừa thay trâu đó, TS Nguyễn Thị Từ Huy nêu lên câu hỏi rằng “Bao giờ anh thôi sống hèn?”, “đàn ông các anh, nhìn cảnh này có nghĩ gì không, có cảm thấy gì không?”.

Blogger Đào Dục Tú  viết “mấy dòng tạp cảm” về tình trạng “ ‘trâu cày’ ở thế kỷ 21”, lưu ý đặc biệt cảnh 3 cô gái ở một làng quê Hưng Yên kéo bừa thay trâu khiến xúc động nhân tâm, khiến, vẫn theo blogger Đào Dục Tú, “ Thậm chí có người  quy kết thẳng thừng vì đàn ông, các đáng mày râu nước này, quá hèn nên mới để chị em phải cõng việc thay trâu thật quá ‘phản cảm’ ở thế kỷ 21”.

Cảnh kéo cày thay trâu đã có hồi trước năm 1945. Bây giờ lại tái diễn cái cảnh này. Nó cũng chỉ là một trong những cảnh khổ (của nông dân ngày nay) thôi.
-Blogger Phạm Đình Trọng

Qua bài “Ba cô trời rét kéo bừa thay trâu”, blogger Đào Dục Tú khẳng định rằng cho dù cảnh không vui ấy có thể là trường hợp cá biệt đi chăng nữa, thì chuyện con người phải kéo bừa thay trâu ở năm 2014 trong thế kỷ 21 này, ở năm thứ 39 kể từ ngày đất nước gọi là thống nhất, hòa bình và cùng đi lên “thiên đường” XHCN cũng “ khó có ai có thể chấp nhận, ngoảnh mặt vô cảm ngó lơ”.

Tác giả Đào Dục Tú cho biết là không muốn “vơ đũa cả nắm trách cứ đàn ông nước Việt”, khẳng định rằng họ quyết không phải là “nguyên nhân chính” đẩy chị em, mà cụ thể là ba chị em Hưng Yên vừa nói, vào cảnh kéo bừa thay trâu. Mà theo tác giả, nguyên nhân sâu xa, cũng là sự thật đáng buồn này, chính là do chính sách vĩ mô về nông nghiệp, nông dân nông thôn, dù có tốt đẹp bao nhiêu trên lý thuyết, lại “lộ ra quá nhiều sai lầm, sai lệch trầm trọng” trên thực tế, mà hậu quả nhãn tiền “giữa thanh thiên bạch nhật” là tình trạng cưỡng chế đất đai khắp nơi trong nước hiện nay; là tình trạng dân oan lũ lượt về thủ đô khiếu kiện “đứng ngồi vạ vật” trước  cơ quan công quyền cao nhất để kêu giải oan; rồi chuyện nông dân nhiều nơi bỏ ruộng “chạy lấy người”, tứ tán đi làm thuê làm mướn; rồi chuyện trẻ em vùng cao “quê hương cách mạng một thời” chỉ mong ngóng bát cơm có chút thịt, cho dù là thịt chuột…

Tác giả Đào Dục Tú khẳng định rằng chừng ấy thực trạng không còn là cá biệt nữa trong nhiều năm nay; và thực tế ấy có thể được xem như một hình thức “phản biện” đối với nhiều chính sách “vĩ mô” được mô tả là “vô cùng tốt đẹp” ở nhiều vùng miền, đặc biệt ở những nơi đất ruộng trở thành “điểm nhậy cảm” và vùng sâu vùng xa. Tác giả liên tưởng đến:

“Hình ảnh cánh đồng bị cắt chia chăng dây đóng cọc hoặc kín cổng cao tường và  những dãy căn hộ cao cấp cao tầng, những khu biệt thự kéo dài không người ở trên cánh đồng xưa kia mầu mỡ ruộng mật bờ xôi ở ven quốc lộ cách thủ đô không xa. Chỉ riêng những chiến dịch bất động sản một thời sôi sùng sục như vạc dầu không biết đã thu hút vào các đại gia bên trong và bên ngoài nhà nước bao nhiêu là đất  ruộng để rồi đẩy đến tình trạng đóng băng nhà cửa đất đai khiến nhà nước phải đổ hàng ngàn tỷ cấp cứu, nhưng nghe chừng không cứu được!  Để rồi không biết bao nhiêu gia đình nông dân… đã và đang rơi vào cảnh như cây bật gốc vì  mất chân đế cơ bản là ruộng, là nghề trồng cấy cổ truyền…”

Rồi hình ảnh ba cô gái kéo bừa thay trâu khiến tác giả không khỏi liên tưởng đến câu thơ dân gian “Ba cô đội gạo lên chùa” trong bối cảnh quá thanh bình êm ái của ngày xưa, để ngày nay chỉ thấy trước mắt trên màn hình nhỏ “Ba cô trời rét kéo bừa thay trâu”!

Blogger TuấnDDK khẳng định rằng “hình ảnh người nông dân kéo cày thay trâu, lặp đi lặp lại suốt hàng chục năm và hoàn toàn không phải là cá biệt”, cho thấy điều gọi là “chiến thắng của nông nghiệp” phát xuất từ tình trạng “mồ hôi của nông dân đang phải bán quá rẻ” trong bối cảnh tỷ lệ đầu tư của nhà nước cho nông nghiệp trong tổng vốn đầu tư xã hội vừa quá ít lại vừa bị cắt giảm…

Từ Hà Nội, blogger JB Nguyễn Hữu Vinh nhận xét rằng vấn đề người nông dân VN phải kéo bừa, kéo cày thay trâu thì có thể người nước ngòai thấy lạ, nhưng dân trong nước, trong những năm gần đây, thấy việc đó đã trở thành bình thường – nó bình thường trong một xã hội không bình thường. Nhà báo Nguyễn Hữu Vinh giải thích rằng khi sức kéo không còn và người dân phải tự lao động trên mảnh đất giữa lúc mức chi phí về nông nghiệp rất lớn trong khi nông phẩm lại rất rẻ, không thể bù đắp được, thì người dân không thể có đủ tiền để thuê máy móc nhằm thay sức lao động con người. Trong khi đó, họ nuôi con trâu, con bò trong thời điểm này cũng không phải dễ dàng, đồng cỏ thì ngày càng bị thu hẹp…thì con người phải dùng sức lao động của mình để thay trâu bò! Blogger JB Ngưyễn Hữu Vinh lưu ý:

“Tình trạng này phát xuất từ một thời gian dài người ta phát động “3 cuộc cách mạng”, trong đó thì cuộc cách mạng KH-KT là ‘then chốt”, rồi thì cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng tư tưởng văn hóa… Nhưng chúng tôi thấy đây là cái “thành quả” đi ngược lại xu thế tiến bộ xã hội, đi ngược lại thành quả mà thế giới đạt được. Trong khi thế giới đang tiến hành những lao động bình thường, giản đơn cùng nhiều loại lao động khác chủ yếu bằng máy móc để thay thế sức lao động của con người, thì người VN trong xã hội ngày nay lại thay trâu bò kéo cày.”

Về vấn đề này, blogger Phạm Đình Trọng từ trong nước phân tích:

“Cảnh kéo cày thay trâu đã có hồi trước năm 1945. Bây giờ lại tái diễn cái cảnh này. Nó cũng chỉ là một trong những cảnh khổ (của nông dân ngày nay) thôi. Nhưng cái khổ lớn nhất của nông dân bây giờ là họ bị mất đất đai. Đó mới là điều nguy hiểm! Tức là trong số người dân VN hiện nay, thì giới nông dân là khổ nhất và cuộc sống của họ bị đe dọa đến tận cùng rồi. Người nông dân phải thay trâu cày cũng đã là khổ rồi, nhưng cái nguy hiểm hơn là đất của họ có thể bị tước mất vào bất cứ lúc nào. Đó mới là điều đen tối, nguy hiểm và bi đát của người nông dân ngày nay.”

Thưa quý vị, vừa rồi là cảnh người nông dân thế kỷ 21 kéo cày thay trâu. Bây giờ là cảnh “sang sông bằng bao ny-long” của cô giáo và học trò ở vùng cao thuộc tỉnh Điện Biên.

Lãnh đạo chui vào túi nào?

boi-song-305.jpg
Hình ảnh chụp từ video clip: cô giáo chui túi nilon vượt suối lũ đến trường.

Qua bài “Trường mẫu giáo Sam Lang: Có ai rơi nước mắt?”, blogger Cao Thoại Châu mở đầu rằng “dù rộng lòng hay lạc quan tới mấy thì cũng khó lòng coi là chuyện cười ra nước mắt cảnh các cô giáo và học trò trường mẫu giáo Sam Lang tỉnh Điện Biên ngày ngày qua sông trong 6 tháng mùa mưa bằng một ‘phương tiện giao thông thủy’ không hề có trên đất nước này (trước đây) và chắc cũng khó có ở nơi nào trên trái đất này. Và tác giả không khỏi kinh ngạc:

“Thật không hình dung ra nổi cái cảnh những con người ngồi trong bao nilông nhờ một người khác một tay túm bao, tay kia bơi kéo “bao người” qua dòng nước chảy xiết. Và hình ảnh này sẽ cứ còn chìm trong im lặng nếu không được chính “khách qua sông” là các cô giáo quay lại bằng điện thoại di động…Chuyện người dân trong đó có cả học trò ngày ngày qua sông bằng cách đu dây ròng rọc vừa nguy hiểm vừa hết sức nghịch lý đã từng xảy ra… nhưng có ai rơi nước mắt rùng mình khi lỡ sơ sẩy một chút thì sinh mạng của cô và trò nơi ấy đã trôi theo dòng nước?”

Qua bài “Chui vào… ‘Lãnh đạo chui vào túi nào’?”, Blogger Bùi Văn Bồng nêu lên câu hỏi rằng “Phải chăng Bộ GTVT và các địa phương chỉ nhăm nhe dán mắt vào các Dự án lớn, đắt tiền để… có chùm khế ngọt thật to chia nhau?”, và “Bao giờ thì có những cây cầu treo dân sinh vượt suối trên tuyến Nà Hỳ – Sam Lang cho các thầy cô và học sinh có thể an tâm tới trường, cho người dân bình an lên nương?”. Về vấn đề này, blogger Phạm Đình Trọng cảnh báo:

Thật không hình dung ra nổi cái cảnh những con người ngồi trong bao nilông nhờ một người khác một tay túm bao, tay kia bơi kéo “bao người” qua dòng nước chảy xiết.
-Blogger Cao Thoại Châu

“Có điều bi đát là trong lúc nhu cầu tối thiểu về cuộc sống của người dân còn thiếu thốn như thế thì người ta đổ ra hàng chục nghìn tỷ, hàng trăm nghìn tỷ để xây, chẳng hạn như, đền tưởng niệm của những Trần Phú, của những nhà cách mạng tiền bối.v.v… Đó là những cái rất là nghịch lý.”

Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh cho đây không phải là trường hợp cá biệt, đồng thời, nó thể hiện mạng sống con người bị coi rẻ ở VN:

“Thật ra, khi nói đến hiện tượng như vậy thì người ta nghĩ rằng mình nói xấu, nghĩ rằng mình tiêu cực, nghĩ rằng mình không có cái nhìn lạc quan…Nhưng dù có muốn thì người dân khó có thể lạc quan trước hiện tượng như vậy. Và theo chỗ tôi biết, hiện tượng như vậy không phải là cá biệt. Nó chỉ đơn giản thể hiện rằng mạng sống của người dân Việt Nam trong nước hiện nay rất rẻ! Tại VN hiện nay, đất đai đắt, nhà cửa đắt, mọi thứ đều đắt, chỉ có mạng con người thì rất rẻ, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, vùng núi, mạng sống người dân bị coi rẻ. Vấn đề này, nếu người ta cho rằng mình nói xấy hay thế nào đó, thì tôi xin miễn bình luận. Mà tôi chỉ biết rằng đó là nói thật, và nói thật nó khác với nói xấu. Vì đó là sự thật. Và có những sự thật ở VN ngày nay còn đau xót hơn thế nữa!”

Vẫn theo bloger JB Nguyễn Hữu Vinh, hiện tượng đó phản ảnh điều mà người ta giăng những khẩu hiệu khắp nơi, trên khắp mọi nẻo đường của đất nước, ở những chỗ trang trọng nhất trong các hội trường, trong các hội nghị, trong các cuộc phát động tiêu tốn thậm chí hàng tỷ đồng gọi là “học tập đạo đức HCM”.

Nhà báo Nguyễn Hữu Vinh chua chát rằng không biết cảnh “khách qua sông bằng túi ny long” có phải là một “thành quả cách mạng” hay không. Và nhà báo khẳng định là “cái lớp người hiện đang sống phè phỡn trên xương máu của người dân này là lớp người gọi là “con cháu HCM ”, khiến người dân không khỏi thấy đau xót là “nền giáo dục mà hồi năm 1945, ông HCM gọi là nền giáo dục hòan toàn VN, thì cái nền giáo dục đó đã tạo ra loại người như vậy tức những người hiện đang lãnh đạo đất nước này, đang tạo ra một đất nước như ngày hôm nay.

Thanh Quang cảm ơn quý vị vừa theo dõi Tạp chí Điểm Blog hôm nay, và xin hẹn với quý vị tuần sau.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReadingBlogs/backward-images-in-vn-tq-03242014081207.html

Luật về doanh nghiệp xã hội

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-03-24
chungta-305.jpg
Ảnh minh họa nhóm “Nghị lực sống”, hoạt động như một doanh nghiệp xã hội.

Courtesy of chungta.vn

 

 

Trong một xã hội dân sự thì các doanh nghiệp hoạt động không vì lợi nhuận mà vì lợi ích cộng đồng, hướng tới các tầng lớp yếu thế trong xã hội, cũng là một bộ phận quan trọng. Hiện một điều luật về các doanh nghiệp này đang được soạn thảo ở Việt Nam.

Khái niệm doanh nghiệp xã hội

Trung tuần tháng ba năm 2014, trang thông tin điện tử của chính phủ có một bài viết về dự luật doanh nghiệp sửa đổi đang được Bộ Kế hoạch và đầu tư soạn thảo. Nội dung chính của bài viết này là về một điểm mới được bộ luật đang chỉ sửa này đề cập đến, đó là khái niệm doanh nghiệp xã hội. Theo bà Phạm Kiều Oanh Giám đốc trung tâm sáng kiến hỗ trợ cộng đồng thì doanh nghiệp xã hội là các doanh nghiệp phi lợi nhuận, có đối tượng phục vụ là các tầng lớp khó khăn trong xã hội. Cũng theo bà Oanh thì hiện các doanh nghiệp hoạt động theo hướng phi lợi nhuận không có được ưu đãi gì để thực hiện sứ mạng xã hội của họ.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, người thành lập Diễn đàn xã hội dân sự Việt Nam hồi năm ngoái, đồng thời cũng là một doanh nhân, đón nhận tin này với nhiều hy vọng, và đồng thời ông giải thích rõ thêm về doanh nghiệp xã hội:

“Nếu mà trong luật doanh nghiệp có đưa ra khái niệm doanh nghiệp xã hội vào thì tôi nghĩ rất là tốt. Bởi vì có những doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường, nó có tất cả các động lực các khuyến khích mà thị trường tạo ra, nhưng nó không hoạt động vì mục đích lợi nhuận, tức là nó không lấy lời của nó để chia cho các ông chủ, mà nó chỉ để phát triển các doanh nghiệp đấy mà thôi, tức là nó cũng phải hoạt động có lời mà cái lời ấy không chia cho người chủ mà để phục vụ xã hội. Có thể liệt vào đấy các loại không chỉ là doanh nghiệp mà còn là các tổ chức như là trường học, bệnh viện, đều có thể phân vào các loại như thế.”

Nếu mà trong luật doanh nghiệp có đưa ra khái niệm doanh nghiệp xã hội vào thì tôi nghĩ rất là tốt.
– Tiến sĩ Nguyễn Quang A

Ông Nguyễn Quang Thạch, một nhà hoạt động xã hội thường xuyên cổ vũ sự phát triển của xã hội dân sự Việt Nam, đồng thời ông cũng đã và đang thực hiện chương trình đưa sách về nông thôn nhằm chấn hưng dân trí. Ông nói với chúng tôi:

“Có rất nhiều doanh nghiệp xã hội hoạt động mấy năm nay rồi, chẳng hạn như nhà hàng KoTo của anh Jimmy Phạm Việt kiều ở Úc, hay các nhóm trẻ như nhóm tự lực sống của Công Hùng mất cách đây hai năm, các bạn ấy hoạt động như là doanh nghiệp xã hội bao năm nay rồi. Nay họ đưa ra doanh nghiệp xã hội để chính thức hóa thì tôi nghĩ đó là một bước tiến tốt anh ạ, định danh để tạo ra các cơ chế pháp lý cho các doanh nghiệp xã hội hoạt động giúp giải quyết những vấn đề xã hội.”

Việc giải quyết những vấn đề xã hội như ông Thạch nêu cũng đã được bà Phạm Kiều Oanh nhấn mạnh rằng luật về doanh nghiệp xã hội sẽ tạo điều kiện giải quyết những vấn đề xã hội bằng cơ chế tư nhân. Cũng theo bà Oanh thì hiện các doanh nghiệp xã hội vẫn còn bị các cấp chính quyền nhìn với con mắt nghi ngại. Một trong các nghi ngại ấy là việc lừa đảo , trốn thuế. Khi được hỏi về việc này, Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói:

“Việc như anh vừa nói thì chắc chắn sẽ xảy ra và ở đâu nó cũng xảy ra chứ không riêng gì Việt nam. Cái việc kiểm soát giám sát minh bạch như thế nào đó để cho cái khả năng lạm dụng nó ít đi là một điều rất là cần thiết. Và muốn làm cái điều đó thì không những trong luật doanh nghiệp phải qui định mà cái sự giám sát của toàn xã hội, nhất là báo chí,và bản thân xã hội dân sự là rất quan trọng.”

Luật chồng chéokoto.com.au.jpg 

Một chương trình phục vụ xã hội của KOTO. Photo courtesy of koto.com.au

Một trong những mảng lớn mà Tiến sĩ Nguyễn Quang A đề cập đến trong phần đầu bài viết này là các trường học. Từ khi có chủ trương xã hội hóa giáo dục, nhiều trường tư thục, cả bậc phổ thông lẫn đại học, được thành lập. Tuy nhiên theo Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, người từng là Giám đốc Trung tâm khảo thí Đại học Quốc gia TP HCM, thì hiện các trường tư thục vẫn bị xem là các doanh nghiệp, mặc dù lĩnh vực hoạt động của chúng mang tính xã hội cao. Khi nghe nói có dự thảo về doanh nghiệp xã hội bà nói với chúng tôi:

“Nếu có những doanh nghiệp đặc biệt tạm gọi là doanh nghiệp xã hội và có những lợi ích như thế thì có lẽ đó là trùng với mong muốn của các trường ngoài công lập hay là trường tư.”

Nhưng bà cũng hoài nghi việc áp dụng dự thảo luật doanh nghiệp xã hội cho các trường học:

Có rất nhiều doanh nghiệp xã hội hoạt động mấy năm nay rồi…Nay họ đưa ra doanh nghiệp xã hội để chính thức hóa thì tôi nghĩ đó là một bước tiến tốt anh ạ…
– Ông Nguyễn Quang Thạch

“Mặt khác nếu có ra cái luật đó thì nó cũng sẽ vướng luật giáo dục đại học ra đời năm 2012 và được áp dụng từ năm 2013. Trong đó có qui định rõ ràng lợi nhuận và phi lợi nhuận. Nếu phi lợi nhuận thì sẽ không đóng thuế một chút nào hết, nhưng mà nếu là lợi nhuận thì được đối xử như một doanh nghiệp bình thường không có chữ xã hội hay không xã hội gì ở đây cả. Nếu luật doanh nghiệp xã hội ra đời thì nó có áp dụng cho đại học hay không, và nếu áp dụng trong bối cảnh có luật giáo dục đại học thì tôi thấy nó rất rắc rối.”

Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A thì khái niệm phi lợi nhuận rộng hơn khái niệm doanh nghiệp xã hội. Trong trường hợp các trường đại học tư thục thì sẽ có khả năng sẽ nằm dưới hai bộ luật của hai bộ khác nhau là Bộ kế hoạch và đầu tư và Bộ Giáo dục. Việc các bộ luật chồng chéo lên nhau cũng không phải là hiếm ở Việt nam.

Tuy vậy, theo lời Tiến sĩ Nguyễn Quang A thì nếu luật về doanh nghiệp xã hội ra đời thì cũng là một bước tiến của xã hội dân sự, vì xã hội dân sự không chỉ bao gồm các nhóm có hơi hướng chính trị mà thôi, mà các doanh nghiệp có lý tưởng phục vụ xã hội cũng rất quan trọng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: