Đường chín đoạn

Trung Quốc và “Bước Đột Phá” Thăm Dò & Khai Thác Dầu Khí Nước Sâu

Trần Hữu Hiếu /Nhóm Nghiên Cứu Dầu Khí Houston

Đường chín đoạn

Trích đoạn, từ cuốn “Cuộc tranh đua của thế kỷ: Kỷ nguyên cạnh tranh mới với Trung Quốc, và cách để Mỹ chiến thắng” (“The Contest of the Century: The New Era of Competition with China–and How America Can Win“) của Geoff A.Dyer.

Đào Anh Dũng dịch, theo: http://www.viet-studies.info/kinhte/LineWithNineDashes_Dyer.htm

***

Đường lưỡi bòNếu như sự kiện chìm tàu Cheonan gây ra nhiều quan ngại sâu sắc cho khu vực Đông-Bắc Á đối với Trung Quốc, thì tín hiệu đánh động khu vực Đông-Nam Á lại đến từ nơi bình thường hơn: Uỷ ban của Liên Hợp Quốc về Ranh giới Thềm lục địa.

Năm 2009, cơ quan còn khá xa lạ này của Liên Hợp Quốc đã đặt ra hạn chót mà các nước trong khu vực phải nộp Hồ sơ quốc gia về ranh giới ngoài Thềm lục địa tại biển Nam Trung Hoa cùng rất nhiều bãi đá, đảo nhỏ và bãi cạn của nó. Biển Nam Trung Hoa có một danh sách đồ sộ và phức tạp các nước tuyên bố chủ quyền ở đó. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hầu khắp vùng biển và đảo; Philippines, Brunei và Malaysia đều chỉ tuyên bố chủ quyền đối với một phần nhỏ. Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển đem lại một bộ khung cho hoạt động lập pháp quốc tế để phân xử các tranh chấp như vậy, một thủ tục xử theo án lệ với ngôn ngữ luật chính xác nhằm hạ nhiệt những phản ứng đầy cảm tính. Tuy nhiên trong trường hợp biển Nam Trung Hoa thì kết quả hoàn toàn trái lại. Sau khi Việt Nam và Malaysia ra tuyên bố chung, Trung Quốc đã rất giận dữ. Bắc Kinh cũng có thông điệp riêng, khẳng định: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi trên các đảo ở biển Nam Trung Hoa và các vùng nước liền kề.” Bên cạnh thông điệp ngoại giao bằng ngôn từ, Bắc Kinh còn gắn kèm một bản đồ khu vực này, ở đó tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc được đánh dấu bởi một đường gồm 9 đoạn.

Bản đồ “đường 9 đoạn” không phải mới: nó được vẽ lần đầu tiên vào những năm 1920 bởi các nhà bản đồ học Trung Quốc, và được sử dụng như là bản đồ bán chính thức vào năm 1947 dưới thời Tưởng Giới Thạch – nhà lãnh đạo Quốc Dân đảng, trước khi những người Cộng Sản giành được chính quyền. Nhưng đây là lần đầu tiên nó được sử dụng trong một tuyên bố chính thức của Trung Quốc tại một diễn đàn quốc tế. Và đối với nhiều quốc gia Đông-Nam Á, nó là dấu hiệu cho sự ngạo mạn mới của Trung Quốc. Trông giống chữ U lớn, “đường 9 đoạn” bắt đầu từ bờ biển Tây-Nam Trung Quốc, uốn lượn xuống sát theo đường bờ biển Việt Nam, uốn cong qua vùng ven biển Malaysia và Brunei, cuối cùng trở về đại lục Trung Quốc sau khi liếm sát vùng ven biển Phillipines. Về phạm vi, nó chiếm gần như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, ngoại trừ một dải hẹp bên cạnh đường bờ biển của các nước khác trong khu vực. Trung Quốc nói bản đồ này là sự phản ánh “các quyền lịch sử” của họ do đã kiêm soát các đảo khác nhau trong vài thế kỷ. Người Trung Quốc đôi khi bảo rằng bản đồ hình chữ U trông giống “lưỡi bò”; một người (tôi)  mới gặp đã mô tả nó, ít hoa mỹ hơn một chút, như “dái thòng”.

Sách Trắng mới nhất về quốc phòng của Trung Quốc tuyên bố “chúng tôi sẽ không bao giờ tìm kiếm ngôi vị bá chú” – một câu đã nhàm tai và là một trong những câu cửa miệng trong chính sách của Trung Quốc. Song ở nhiều thủ đô khác của châu Á, nơi mà những tuyên bố về “các quyền lịch sử” tất yếu sẽ nhắc họ nhớ lại vị trí lệ thuộc mà họ đã phải chịu đựng trong suốt những thời đại trước đây của thế lực Trung Quốc, thì cái phạm vi tuyệt đối, gây sốc của bản đồ Trung Quốc khiến họ cảm thấy rõ rệt một nỗ lực giành lấy ngôi vị bá chủ. Một nhà ngoại giao Thái Lan tâm sự khi Trung Quốc đưa ra bản đồ gồm “đường 9 đoạn”: “Chúng ta có lẽ đã không quá kinh ngạc đến vậy. Nhưng hãy nhìn mà xem, họ thật sự đang cố gắng tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết mọi thứ – điều đó thật đáng giật mình.”

Một trong những hệ quả của 500 năm thống trị của hải quân phương Tây ở châu Á là những cái tên được dùng phổ biến cho nhiều khu vực đảo ở biển Nam Trung Hoa – bãi đá Mischief, bãi Macclesfield, đảo Woody, và bãi cạn Scarborough. Khoảng 60 bãi đá ở biển Nam Trung Hoa được chia chủ yếu thành hai nhóm: Quần đảo Hoàng Sa ở phía Bắc và Trường Sa xa hơn về phía Nam. Suốt vài thập kỷ, các tranh chấp xem ai sở hữu những khu vực đảo này chỉ là sự kiện bên lề ít được biết đến, ngay cả khi Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa chiến tranh chớp nhoáng giành nhau một số đảo vào năm 1974, kết quả là Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát Hoàng Sa, và lại chiến tranh vào năm 1988. Nhưng trong 5 năm gần đây, các tranh chấp ấy nhanh chóng trở thành một cơn bão thật sự của nền địa-chính trị hiện đại. Biển Nam Trung Hoa là nơi mà những lo ngại của Mỹ và Đông-Nam Á, về sự tăng cường quân sự của Trung Quốc, đã bắt đầu có sự tương đồng. Về phía Mỹ, các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đã rung chuông báo động mối de dọa trong dài hạn đối với trật tự trên biển của Mỹ. Còn về phía các nước châu Á tuyên bố chủ quyền thì tranh chấp còn liên quan tới cả dầu, hải sản và chủ nghĩa dân tộc mãnh liệt.

Bề ngoài có lẽ chỉ là vài miếng đất không đáng kể, nhưng lợi ích kinh tế mà những đảo đang bị tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa đem lại có thể rất lớn. Ở Trung Quốc, biển Nam Trung Hoa đôi khi được gọi là “Đại Khánh trên biển” – Đại Khánh vốn là một mỏ dầu được tìm thấy vào những năm 1950 ở Đông-Bắc Trung Quốc, một cứu cánh cho nền kinh tế theo đường lối Mao Trạch Đông trong thời kỳ đóng cửa kinh tế, và là thành phần chủ đạo trong công tác tuyên truyền của Cộng Sản đảng về tự lực cánh sinh lao động chăm chỉ. Các dự đoán của Trung Quốc ước tính có khoảng 213 tỷ thùng dầu ở biển Nam Trung Hoa, không kém nhiều so với lượng dữ trự của Ả-Rập Xê-Út. Ứơc tính khác của Trung Quốc cho rằng ở đó có đủ khí tự nhiên dùng trong 400 năm, với mức tiêu thụ như hiện nay. (Một số dự đoán cá nhân thì đưa ra con số kém lạc quan hơn nhiều – một phần vì nhiều lượng dầu là gần như không thể tái tạo – cho rằng lượng dữ trữ khoảng 2,5 tỷ thùng). Nếu mỏ dầu tiềm năng là không đủ thì biển vẫn đầy hải sản, làm tăng sức hút của nó đối với những tàu cá Trung Quốc và Việt Nam, vốn đã thấy nguồn cung tại các vùng đánh bắt truyền thống gần bờ của họ ngày càng suy giảm do đánh bắt quá tay, nên họ buộc phải tiến vào những khu vực xa bờ hơn, những vùng nước tranh chấp. Trung Quốc là nhà tiêu thụ hải sản lớn nhất thế giới (và là nhà xuất khẩu), hải sản cũng cung cấp một nửa lượng protein trong bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam. Đối với cả hai quốc gia, đánh bắt hải sản là ngành công nghiệp có tầm quan trọng bị đánh giá thấp.

Khi mà những xích mích đã gia tăng trong vài năm gần đây, Trung Quốc quả quyết rằng các quốc gia khác chính là nguyên nhân, và họ đưa ra một chút bằng chứng khẳng định điều ấy. Bắc Kinh phẫn nộ trước việc Malaysia và Việt Nam gửi báo cáo chung tới Liên Hợp Quốc, mà Trung Quốc coi đấy là bằng chứng rằng các nước khác đang kết bè chống lại nó. Các quan chức Trung Quốc lớn tiếng phản đối quan điểm cho rằng Trung Quốc là nước duy nhất không có quyền khai thác tài nguyên dầu ở biển Nam Trung Hoa. “Có tới 700 giếng dầu tại những khu vực mà chúng tôi tin là của chúng tôi, vậy mà người ta lại lên án sự cương quyết của chúng tôi” – một quan chức Trung Quốc nói với tôi như vậy. Họ cũng lưu ý tới sự tăng cường hạ tầng tại các vùng đảo bị kiểm soát bởi các quốc gia khác, đặc biệt là Việt Nam tại Trường Sa – nơi Việt Nam kiểm soát 29 vùng đảo. Bắc Kinh cũng khăng khăng rằng nỗ lực của Washington can dự vào tranh chấp đã tiếp thêm động lực cho Việt Nam và Phillipines để đối đầu với Trung Quốc. Nhiều người Trung Quốc chắc chắn rằng Mỹ đang chống lại họ tại biển Nam Trung Hoa. “Trung Quốc không phải nước khơi mào những vấn đề này và còn lâu mới là thủ phạm gây ra tổn hại” – ông Thôi Thiên Khải, cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, trở thành Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ từ năm 2013, nói – “thay vào đó, Trung Quốc là một nạn nhân bị buộc phải chịu những tổn hại.”

Những nước tuyên bố chủ quyền khác lại kể câu chuyện rất khác. Họ nói tới sự hiện diện hải quân của Trung Quốc tuy gia tăng từ từ nhưng có tính quyết định tại khu vực trong suốt một thập kỷ gần đây, tới sự tăng cường có chủ đích các căn cứ quân sự trên một số đảo mà Trung Quốc kiểm soát, là một phần của quá trình ngấm ngầm khẳng định chủ quyền. Các hình ảnh vệ tinh về đảo Woody (tiếng Việt: Phú Lâm, tiếng Trung: Yongxing) thuộc Hoàng Sa đã chứng minh điều ấy. Đảo nhỏ này cách 200 dặm về phía Nam căn cứ tàu ngầm tại Hải Nam. Nó không có dân bản địa cũng như nguồn cấp nước tự nhiên, song chỉ vài năm gần đây nó trở thành một thành trì quân sự được gia cố vững chắc. Một cổng chính vừa được xây dựng tại một khu vực đã được nạo vét. Đồng thời, phần đất liền được mở rộng để làm một đường băng cho các máy bay quân sự: các hình ảnh vệ tinh cho thấy một dải đất hẹp dài gần gấp hai lần so với đảo. Có một dải đất hẹp khác cho thấy con đường dài 1 dặm nối giữa đảo với một bãi nhỏ khác – mà bây giờ được dùng làm trung tâm kiểm soát các hoạt động hải quân trong khu vực. Năm 2012, Bắc Kinh tuyên bố rằng thị trấn chính của đảo, tức Tam Sa, trở thành đơn vị hành chính chính thức. Có một tòa nhà chính quyền địa phương với tường được sơn trắng, với những chiếc cột cao theo phong cách tân-cổ điển và một mái vòm lớn, trông giống phiên bản thu nhỏ của Capitol ở Mỹ. Vào ngày nó được tuyên bố thành đơn vị hành chính chính thức, một quan chức nông nghiệp địa phương, tên là Xiao Jie, đến từ Hải Nam đã được gửi tới thị trấn bằng chuyến tàu 20 giờ để đảm nhiệm cương vị lãnh đạo. “Không có đất trồng trọt ở đây” – ông ấy nói trên cương vị mới – “mục tiêu chủ yếu là bảo vệ chủ quyền trên biển của quốc gia”.

Các chính phủ ở Đông-Nam Á chỉ trích Bắc Kinh vì thực hiện chiến lược “miệng nói tay làm”. Nếu gặp dịp, Việt Nam và Phillipines có thể kể vanh vách những biểu hiện của Trung Quốc mà họ coi là hành động bắt nạt. Việt Nam chỉ ra rằng 2 trong số 9 đoạn ở bản đồ nổi tiếng của Trung Quốc ấy là thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo luật quốc tế, tức là vùng 200 dặm vượt quá đường cơ sở của một quốc gia theo luật quốc tế. Năm 2007, Bắc Kinh gây áp lực buộc Exxon Mobile và vài công ty dầu khí nước ngoài khác phải dừng các hoạt động khoan thăm dò tại vùng ven biển Việt Nam – một sự kiện đôi khi được coi là khởi đầu cho giai đoạn xích mích hiện nay. Năm 2011, các tàu của chính phủ Trung Quốc đã cắt cáp của 2 tàu thăm dò dầu khí cho Petro Việt Nam. Hai tháng sau, một tàu Phillipines đang nghiên cứu địa chấn trong vùng biển tranh chấp đã bị 2 tàu của chính phủ Trung Quốc buộc phải rời đi. Hàng năm, những nhà cầm quyền Trung Quốc đều tạm thời cấm đánh bắt hải sản tại một số vùng ở biển Nam Trung Hoa, mà họ nói là để bảo vệ nguồn cung, song quyết định ấy không được sự đồng thuận của các chính phủ khác. Cứ mỗi năm, Trung Quốc lại bắt giữ hàng tá ngư dân vi phạm lệnh cấm đánh bắt đó.

Thật khó mà không nghĩ rằng đấy là một kế hoạch dài hạn, có tính toán nhằm dần dần khẳng định quyền kiểm soát khu vực. Vậy nhưng, cũng như nhiều biến động mà ở đấy sức mạnh to lớn bên trong Trung Quốc bắt đầu bùng phát, còn một khía cạnh khác trong sự cương quyết mới đây của Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa, đó là áp lực tích tụ từ bên dưới buộc phải họ phải mạnh tay hơn. Hành xử của Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa là một trong những ví dụ rõ ràng nhất cho thấy các nhóm lợi ích đua tranh nhau đã uốn nắn chính sách ngoại giao như thế nào – sự phân chia quyền lực là điều mà giới lãnh đạo Trung Quốc đã chứng kiến. Một loạt cơ quan khác nhau của chính phủ phải chịu trách nhiệm chồng chéo nhau đối với những yếu tố góp phần khẳng định sự hiện diện của chính phủ họ tại biển Nam Trung Hoa, và đôi khi họ tranh cãi nhau để chứng tỏ sự hiện diện của mình. Người Trung Quốc nhanh chóng nhận ra điều này, và gọi các nhóm khác nhau ấy là “9 con rồng” – một sự liên hệ với truyền thuyết cổ xưa về một vua rồng có 9 đứa con, có thể bắt gặp ở vô vàn bức tranh tường “khuấy động vùng biển”.

Một trong những áp lực từ bên dưới đó đến từ các chính quyền địa phương. Chính quyền đảo Hải Nam, nơi có căn cứ hải quân mới, chịu trách nhiệm quản lý Trường Sa và Hoàng Sa, suốt 2 thập kỷ vừa qua đã thử tổ chức những chuyến du lịch hạng sang tới các đảo như một phần kế hoạch phát triển của riêng họ. Trong vài năm gần đây, sự ngăn cản của những nhà cầm quyền tại trung ương đối với các hoạt động này đã giảm dần. Các hãng du lịch ở Hải Nam giới thiệu với khách hàng những gói dịch vụ bơi lặn xa hoa tại Hoàng Sa, và hiện nay có một cuộc đua thuyền giữa Hải Nam và Hoàng Sa. Những công ty dầu khí lớn, thuộc các thành phần quyền lực nhất và liên kết chặt chẽ nhất của nền công nghiệp do nhà nước sở hữu, cũng vừa ra sức vận động chính phủ tăng cường tuyên bố chủ quyền tại khu vực. Năm 2012, CNOOC – một trong 3 công ty dầu khí lớn – đã mời các công ty dầu khí nước ngoài cùng khai thác 9 mỏ dầu tại những khu vực còn tranh chấp, mà một số mỏ dầu trong đó thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Ngay cả trong những cơ quan trực thuộc chính phủ Trung Quốc đang quản lý các hoạt động tại khu vực, thì cũng có các nhóm lợi ích đua tranh nhau. Cục quản lý Nghề cá chịu trách nhiệm điều phối hoạt động đánh bắt tại những vùng nước của Trung Quốc, nhưng cơ quan Gíam sát Hàng hải Trung Quốc cũng tiến hành các hoạt động thực thi luật pháp trong khu vực. Như bất cứ cơ quan tốt nào khác, họ đều cố thể hiện tầm quan trọng của mình để có thêm ngân sách, vốn đã phình ra nhanh chóng trong vài năm gần đây. Họ thậm chí còn có một câu cửa miệng để biện minh cho những chức năng đôi khi lẫn lộn và chồng chéo của mình: “Hãy chộp lấy những gì bạn có thể chộp được trên biển, rồi sau đó hãy phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan”. Bộ Nông nghiệp, nơi chịu trách nhiệm về nghề cá, quản lý một hệ thống khen thưởng cho các cá nhân, những người “mạnh mẽ và dũng cảm trong việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc”: còn các quan chức thì được thưởng vì đã đuổi nhiều tàu thuyền nước ngoài ra khỏi những vùng nước mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Với hàng tá tàu và máy bay trong tay, các cơ quan này cũng có vai trò trong việc mở rộng phạm vi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Trong khi việc sử dụng hải quân có thể bị coi là một động thái gây phẫn nộ, thì các tàu thực thi luật pháp lại có thể hiện thực hóa tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc một cách ít trực diện hơn.

Còn 2 yếu tố khác đằng sau nỗi lo ngại sâu sắc của khu vực Đông-Nam Á. Không chỉ có sự gia tăng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc làm dấy lên lo ngại trong khu vực, mà còn có sự mập mờ của nó. Chẳng ai biết rõ mình đang đối mặt với vấn đề gì. Ngay cả khi bản đồ “đường 9 đoạn” đã tồn tại suốt vài thập kỷ, thì Trung Quốc cũng chưa bao giờ thực sự xác định lãnh thổ theo bản đồ ấy. Có những lúc, các quan chức Bộ Ngoại giao cố làm dịu các lo ngại, bằng cách nói rằng những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc chỉ áp dụng với các vùng đảo và vùng đất bên trong đường 9 đoạn thôi. Một tuyên bố như thế sẽ vẫn kéo theo một loạt tranh chấp khó khăn, dù phạm vi ít hơn nhiều so với việc tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ khu vực trên bản đồ. Thế nhưng có những lúc khác, các quan chức và các nhà phân tích Trung Quốc lại nói rằng “quyền sở hữu” lịch sử đối với biển Nam Trung Hoa đem lại cho họ những độc quyền đối với mọi thứ bên trong đường 9 đoạn. Những người khác lại đề xuất rằng khu vực bên trong đường 9 đoạn là một phần trong “các vùng nước chủ quyền” của Trung Quốc. Bành Quang Khiêm, một tướng lĩnh diều hâu cao cấp của Giải phóng quân Nhân dân Trung Hoa, thì bảo rằng các vùng nước bên trong “đường 9 đoạn” là “vùng đất màu xanh… của Trung Quốc” và là một khu vực “thuộc sở hữu” của Trung Quốc. Nỗ lực của CNOOC thực hiện các hợp đồng dầu khí bên trong các vùng nước tranh chấp và các lệnh cấm đánh bắt mà Trung Quốc áp đặt đã cho thấy quan điểm chính thức là rất khác quan điểm do Bộ Ngoại giao đưa ra. Sự mập mờ ấy có thể bộc lộ vài điều. Có thể là sự linh hoạt trong quan điểm của Trung Quốc, được điều chỉnh sau các cuộc đàm phán. Nhưng cũng có thể là Trung Quốc đang thử theo cả hai con đường: những nhà ngoại giao kiên định với các tuyên bố chủ quyền phạm vi hẹp, trong khi hành động thực tế lại nhắm tới một phạm vi bao quát hơn nhiều.

Còn một vấn đề về tầm vóc nữa. Khi làm việc với Trung Quốc, những quốc gia khác ít cảm thấy sự bình đẳng về chủ quyền, mà phần nhiều thì cứ như là họ buộc phải ngồi cạnh một con voi lớn có thể đập bẹp họ. Sự khác biệt rất lớn về tầm vóc ấy khiến cho những động thái của Trung Quốc dường như nguy hiểm đối với các hàng xóm hơn những gì mà Bắc Kinh nhận thức. Những nước tuyên bố chủ quyền của Đông-Nam Á muốn thảo luận đa phương về các tuyên bố chủ quyền khác nhau, với niềm tin rằng chỉ có thảo luận đa phương mới cho phép họ nói chuyện một cách bình đẳng. Vì sợ hãi các quốc gia khác sẽ liên minh nhờ đó, Trung Quốc kiên quyết rằng từng quốc gia nên làm việc theo cơ chế song phương. Đối với những nước nhỏ hơn, sự kiên quyết đàm phán song phương của Trung Quốc giống như một kiểu bắt nạt. Một chính khách cấp cao tới từ một nước Đông-Nam Á nói: “Quan điểm của Trung Quốc là ‘vấn đề không phải tính đúng đắn trong tuyên bố chủ quyền của chúng tôi; nếu chúng tôi nói đó là của chúng tôi thì có nghĩa rằng đó là của chúng tôi'”.

Để có quan hệ tốt với Trung Quốc, thì những phản ứng dữ dội trong khu vực trước thái độ của Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa dường như vừa được một cú hích nhẹ từ sự xoay trục linh hoạt của Mỹ. Nếu như có một khu vực mà Washington vẫn chiếm ưu thế mang tính quyết định so với Bắc Kinh, thì nó ở trong nghệ thuật hắc ám của truyền thông mật báo. Tháng Ba năm 2009, Jeff Bader – giám đốc phụ trách khu vực châu Á của Hội đồng An ninh Quốc gia, và James Steinberg – Thứ trưởng Ngoại giao, đã tới Bắc Kinh để tham gia một loạt cuộc họp với những người đồng cấp phía Trung Quốc. Biển Nam Trung Hoa là một trong những đề tài được chú trọng trong các cuộc họp. Vài tuần sau, báo New York Times đăng một câu chuyện nói rằng Trung Quốc giờ đây coi biển Nam Trung Hoa là một “lợi ích cốt lõi”.

Trong ngoại giao, những câu chữ ngắn ngủi có thể mang theo sức mạnh to lớn. Trong ngôn ngữ mã hóa của nền ngoại giao Trung Quốc, hai từ này vô cùng quan trọng. Các “lợi ích cốt lõi” khác là Đài Loan và Tây Tạng, những nơi mà đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ dời cả những ngọn núi để giành lấy sự thống trị. Việc mô tả biển Nam Trung Hoa bằng các câu chữ như vậy thật sự đã cho thấy một sự tăng cường căn bản, một dấu hiệu rằng Trung Quốc không bao giờ nhân nhượng hay đàm phán. Các quan chức Trung Quốc thực tế đã thể hiện tâm thế không nhân nhượng trong suốt những cuộc họp, đưa ra vài bài giảng về các quyền của họ tại biển Nam Trung Hoa. Thế mà Jeff Bader và James Steinberg vẫn quả quyết rằng công thức “các lợi ích cốt lõi” dễ gây bùng nổ ấy không bao giờ được sử dụng trong những cuộc họp của họ – dù chính điều này còn gây tranh cãi – cả từ phía các thuộc cấp của ông Dai lẫn từ phía một số thành viên trong đoàn đại biểu Mỹ. (“Hillary dường như vừa dọn dẹp lại bộ nhớ của mình” – một quan chức Mỹ chua cay như vậy). Tuy nhiên, dù nguồn gốc của cụm từ “lợi ích cốt lõi” có là gì thì Trung Quốc cũng đã bị rơi vào thế khó. Chính phủ Trung Quốc không thể xác nhận lời tuyên bố mà lại không gây phẫn nộ cho khu vực Đông-Nam Á. Nhưng chẳng ai trong số họ có thể chính thức phủ nhận câu chuyện, vì sợ vấp phải sự chỉ trích của những người dân tộc chủ nghĩa rằng họ đã yếu đuối. Thay vào đó, Bắc Kinh im lặng gắm nhấm nỗi đau.

Nếu câu chuyện “lợi ích cốt lõi” bị cường điệu hóa, thì đó là loại cường điệu mà cả khu vực đều tin ngay lập tức, vì nó có vẻ ăn khớp với hành xử thực tế của Trung Quốc. Thuật hùng biện của Washington, kể từ năm 2010, thỉnh thoảng dựa vào những khẩu hiệu vụng về cùng với dòng chữ “Mỹ đang quay lại” ở châu Á. Song câu chuyện thực sự lại là cánh cửa mở chờ đón Washington bước vào một khu vực mà ở đó sự lo ngại Trung Quốc đang lên nhanh. Ở Phillipines chẳng hạn, đã có sự phấn khích rộng khắp khi Hải quân Mỹ bị buộc phải rời khỏi căn cứ của nó tại vịnh Subic năm 1992, còn những nhà lãnh đạo kiểu Gloria Arroyo đã chào đón Trung Quốc như một “người anh cả”. Nhưng các tàu chiến của Mỹ giờ đây đang quay lại với tần suất lớn chưa từng thấy, còn tổng thống mới của Phillipines, ông Benito Aquino đã tuyên bố năm 2012: “Chúng ta cần đoàn kết chống lại những hành động tấn công từ phía Trung Quốc”.

Về cơ bản, Trung Quốc đã bắt đầu phải hứng chịu tai hại từ sự bất nhất căn bản trong chiến lược của họ. Vào giai đoạn tốt nhất trong 2 thập kỷ, Bắc Kinh đã theo đuổi hai mục tiêu riêng biệt. Họ có một chiến lược quân sự cố gắng đẩy lui dần Mỹ về phía Thái Bình Dương và giành quyền kiểm soát lớn hơn tại các vùng biển gần Đại lục. Đồng thời, họ có hoạt động ngoại giao dồn dập nhằm ngăn cản các hàng xóm tạo thành một liên minh cô lập nó. Thế nhưng họ điều chỉnh hai mục tiêu không ăn khớp nhịp nhàng. Họ càng chống Mỹ và càng gia tăng tuyên bố về lãnh thổ thì họ càng khiến khu vực thêm chào đón Washington. Trung Quốc đã gặp hết trở ngại này đến trở ngại khác về chiến lược. Rốt cuộc lại làm vững mạnh thêm những đồng minh trụ cột của Mỹ ở Đông-Bắc Á. Đồng thời, hành xử của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa tạo điều kiện cho Mỹ gắn bó hơn với các quốc gia Đông-Nam Á. Shi Yinhong, học giả Trung Quốc và là người hâm mộ Otto von Bismarck, nói một cách buồn bã: “Chúng tôi thu được toàn những kết quả trái với những gì mong đợi”.

Kinh nghiệm của Mỹ trong thế kỷ 19 cho thấy phạm vi mà chiến lược của Trung Quốc nhắm tới là sai lầm. Suốt gần 2 thế kỷ, Mỹ đã tuyên bố sở hữu một khu vực và đã cố gắng ngăn những thế lực lớn khác không thể áp đặt ảnh hưởng mang tính quyết định ở Tây Bán Cầu. Một nhà ngoại giao Trung Quốc từng dè dặt đặt vấn đề: “Tại sao chúng ta không có học thuyết Monroe của riêng mình?”. Ông ấy nhanh chóng tự kiểm duyệt, vì Trung Quốc không thừa nhận bất kỳ sự tự tin nào như vậy, nhưng không quá khó hiểu tâm trạng chán chường đằng sau câu hỏi ấy. Với một số người Trung Quốc, Mỹ sử dụng tiêu chuẩn kép khi cách ra sức ngăn cản Trung Quốc có được cùng loại ảnh hưởng mà Mỹ đang lợi dụng ở sân sau của mình. Việc so sánh quan điểm hướng tới các vùng biển gần Đại lục của Trung Quốc với học thuyết Monroe đã từng bị coi là một cái gì đó ngạo mạn. Nhưng khi những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc thêm phần cứng rắn thì phép so sánh lại bắt đầu tỏ ra hợp lý. Những cái gọi là “đường 9 đoạn” và các tuyên bố về “những quyền lịch sử” là gì nếu không phải lời khẳng định cho một ý thức sở hữu và quyền hành thống trị khu vực nào đó? Thế nhưng một lịch sử rất khác đằng sau học thuyết Monroe đã cho thấy rõ sự bất đồng căn bản giữa cái nhìn của Trung Quốc về chính mình với cái nhìn của nhiều quốc gia châu Á về Trung Quốc. Sức mạnh hải quân Mỹ từ những năm 1890 chắc chắn là một yếu tố cho phép Washington mở rộng quyền lực của mình, song không phải yếu tố duy nhất. Một yếu tố khác quan trọng không kém là sự chào đón hào phóng mà Mỹ có được ở phần lớn khu vực Mỹ La-tinh cũng vào thời gian đó. Học thuyết Monroe không được áp dụng ở bán cầu không chào đón nó: tại nhiều vùng của Mỹ La-tinh, nó được hoan nghênh.

Khi Brazil đăng cai Hội nghị hợp tác xuyên-Mỹ lần thứ ba vào năm 1906, thì nhân vật chủ đạo là Elihu Root, Bộ trưởng Ngoại giao dưới thời Teddy Roosevelt, đang công du khắp khu vực Mỹ La-tinh để giải thích những tác động của học thuyết Monroe. Elihu Root đã được chào đón nồng nhiệt, vì nhiều chính phủ Nam Mỹ thấy rằng học thuyết Monroe không phải sự áp đặt của thế lực Mỹ mà là sự bảo đảm cho họ độc lập khỏi sự cai trị của thực dân châu Âu. Sự tin tưởng vào Washington lớn tới mức những người Brazil đổi tên tòa nhà diễn ra hội nghị thành Palacio Monroe – cái tên vẫn được giữ khi tòa nhà trở thành trụ sở vĩnh viễn của Thượng viện. Joaquim Nabuco, một trong những người Brazil nhiều ảnh hưởng nhất thời đại vì vai trò trong công cuộc xóa bỏ chế độ nô lệ, đã vui mừng công bố rằng mình là một “người theo chủ nghĩa Monroe”. Ông ấy nói: “Đối với tôi, học thuyết Monroe có nghĩ rằng chúng ta tự tách mình khỏi châu Âu một cách hoàn toàn và kiên quyết như mặt trời với mặt trăng vậy”. Tất nhiên, trong vài thập kỷ sau Chiến tranh Thế giới thứ II, khi mà Mỹ tham gia lật đổ những chính phủ do dân bầu ra ở Guatemala những năm 1950, ở Brazil những năm 1960, và ở Chile những năm 1970, thì cái nhìn của khu vực về sự cần thiết có Mỹ đã thay đổi chóng mặt. Chủ nghĩa chống-Mỹ nhanh chóng trở thành một phần của DNA chính trị khu vực Mỹ La-tinh. Kể từ đó, nhiều chính phủ cố đẩy lùi Washington theo đúng cách mà các nước châu Á hiện nay đang làm với Trung Quốc. Song thực tế thì tòa nhà Thượng viện Brazil được đặt tên sau khi Monroe nhấn mạnh cái cách mà khu vực đó hiểu học thuyết của ông ấy vào thời gian ấy.

Sự giận dữ tại châu Á, vốn đã bắt đầu thành hình từ năm 2010, sẽ không dễ cho Trung Quốc có thể đảo ngược, ngay cả khi Trung Quốc thử quay về một dạng “ngoại giao nụ cười” khác. Năm 2010 không phải một ngọn lửa bùng lên giây lát trên chảo, mà nó cho thấy một sự thay đổi trật tự chính trị dài hạn ở châu Á, trong đó nhiều chính phủ nhận thức rằng những lợi ích của họ có điểm chung với những lợi ích của Washington. Trở ngại cho Trung Quốc không phải tạm thời nếu nghiên cứu sâu hơn về hai quốc gia trọng yếu tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, hai quốc gia khác nhau rất nhiều về chính trị, văn hóa và lịch sử, nhưng là hai quốc gia đang bộc lộ bản năng giống nhau trước sự trỗi dậy của Trung Quốc: Australia và Việt Nam.

http://viet-studies.info/kinhte/DuongChinDoan_Dyer.htm

 

Trung Quốc và “Bước Đột Phá” Thăm Dò & Khai Thác Dầu Khí Nước Sâu

Trần Hữu Hiếu
Nhóm Nghiên Cứu Dầu Khí Houston

A. BA PHÁT HIỆN LỚN TRONG VÒNG MỘT TUẦN
Chỉ trong vòng chưa đầy một tuần, từ ngày 19 đến 24 tháng Ba năm 2014, tập đoàn Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã công bố đến 3 phát hiện quan trọng trong lĩnh vực thăm dò & khai thác (exploration & production) dầu khí. Cụ thể như sau:

 

• Vào ngày 19 tháng Ba năm 2014, CNOOC đã công bố một tin vô cùng quan trọng mà họ gọi là “bước đột phá” (nguyên văn: “breakthrough”) trong việc thăm dò tại vùng nước sâu ở bể Qiongdongnan [1]. Các tờ báo uy tín về dầu khí như Upstream, Offshore Magazine, v.v… sau đó cũng đồng loạt đăng tin này và đã được cộng đồng dầu khí quốc tế quan tâm đón nhận. Chi tiết về thông tin này như sau [2]:
CNOOC công bố đã tìm thấy một mỏ khí cỡ trung đặt tên là Lingshui 17-2, nằm trong bể Qiongdongnan thuộc Biển Hoa Nam (South China Sea). Giếng Lingshui 17-2 nằm ở phía đông của mỏ Lingshui trong vùng biển nước sâu của bể Qiongdongnan, ở độ sâu vào khoảng 1,450 mét (4,750 feet) so với mực nước biển. Mỏ khí đốt đã được khám phá sau khi CNOOC khoan đào xuống thêm khoảng 3,510 mét (11,515 feet). Sự khám phá này không những cho thấy tiềm năng về sự tồn tại các mỏ dầu khí do cấu trúc và sắp xếp địa chất của khu vực này, mà nó còn củng cố hơn nữa triển vọng thăm dò khai thác dầu khí ở vùng biển nước sâu của bể Qiongdongnan, thuộc Biển Hoa Nam.
• Chỉ hai ngày sau, vào ngày 21 tháng Ba năm 2014, CNOOC công bố tìm thấy một mỏ khí lớn ở giếng Ningbo 22-1 trong vùng Biển Hoa Đông (East China Sea) với trữ lượng ước định từ 100 đến 200 tỷ feet khối [3]. Đây là vùng biển nông với độ sâu chỉ từ 90-100 mét nước. Nguồn tin cho hay lượng khí đốt này sau khi được khai thác có thể sẽ đáp ứng nhu cầu năng lượng của tỉnh Quảng Đông. Tập đoàn sẽ trúng thầu thiết kế kỹ thuật và khai thác không ai khác chính là COOEC – tập đoàn con trực thuộc CNOOC.
• Vào đúng hôm nay, ngày 24 tháng Ba năm 2014, CNOOC lại công bố tìm thấy một mỏ khí lớn khác ở giếng Bozhong 22-1 trong vịnh Bohai thuộc vùng Biển Hoa Đông [4]. Mỏ khí này có thể cho sản lượng khai thác vào khoảng 14.2 triệu feet khối/ngày. Đây là vùng biển nông với độ sâu khoảng 25 mét nước. Tin tức cũng cho biết thêm rằng trước đó CNOOC đã phát hiện các mỏ dầu trong bể Bozhong này và họ đã bắt đầu tiến hành xây dựng 5 giàn khai thác cho các mỏ dầu Bozhong 28 và 34.
Hai phát hiện thứ hai và ba trong vùng nước nông (độ sâu dưới 100 mét), mặc dù có trữ lượng lớn nhưng lại không đáng kể bằng phát hiện thứ nhất – được người Trung Quốc gọi là “bước đột phá” vì đây là lần đầu tiên Trung Quốc tự thăm dò và khoan đào được mỏ khí ở vùng nước sâu với độ sâu lên đến gần 1,500 mét.
Những tin tức này cho thấy sự tích cực và năng động của CNOOC nói riêng và Trung Quốc nói chung trong công cuộc tìm kiếm nguồn năng lượng dầu khí để phần nào đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng cao ở quốc gia này [5]. Như chúng tôi đã nhiều lần đề cập, Trung Quốc không ngại ngần công khai mời gọi hợp tác cả về vốn lẫn kỹ thuật từ các tập đoàn phương Tây tại các kỳ Hội nghị Kỹ thuật Dầu khí Ngoài khơi (Offshore Technology Conference – OTC) thường niên tại Houston mà chúng tôi có dịp chứng kiến trực tiếp [6].
Song song với việc nghiên cứu phát triển kỹ nghệ khai thác shale oil, shale gas (sẽ được trình bày chi tiết trong một chủ đề khác), Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thăm dò & khai thác dầu khí ở các vùng nước sâu thuộc Biển Hoa Nam hay còn gọi là Biển Đông [7]. “Bước đột phá” nêu trên đã phần nào chứng minh tham vọng này của họ. Trước khi đi vào chi tiết “bước đột phá”, chúng tôi xin điểm sơ lược về chiến lược thăm dò & khai thác dầu khí nước sâu của Trung Quốc theo những hiểu biết của chúng tôi.

B. SƠ BỘ VỀ CHIẾN LƯỢC THĂM DÒ & KHAI THÁC DẦU KHÍ NƯỚC SÂU CỦA TRUNG QUỐC
Đây là một chủ đề rất dài và phức tạp (sẽ được trình bày chi tiết trong một chủ đề khác); cho nên trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ trình bày sơ lược những điểm chính mà chúng tôi ghi nhận được trong những năm gần đây.
Thứ Nhất: Định hướng rõ phải tập trung phát triển kỹ thuật:
• Thành lập các trung tâm nghiên cứu kỹ thuật dầu khí ngoài khơi mà điển hình là CNOOC Research Institute. Các trung tâm này là tiền đề cho hàng loạt bài nghiên cứu khoa học tại các hội nghị dầu khí lớn.
• Xây dựng các cơ sở thiết kế chế tạo giàn khoan và khai thác dầu khí nước sâu (deepwater facility fabrication yard) như Qingdao Fabrication Yard, Zhuhai Fabrication Yard, v.v…
• Đẩy mạnh việc phát triển các tập đoàn cung cấp dịch vụ thiết kế kỹ thuật và xây dựng trong lĩnh vực dầu khí ngoài khơi như China Offshore Oil Engineering Corporation (COOEC), China Offshore International Company (COIC), v.v…
• Hợp tác với các tập đoàn dầu khí lớn của Bắc Mỹ và phương Tây như Husky Energy, Anadarko, BP, Eni, v.v… để tranh thủ cũng như học hỏi kỹ thuật.
• Bỏ ra gần 15.1 tỷ USD để thôn tính tập đoàn dầu khí Nexen của Canada vào đầu tháng Ba 2013 [8]. Chính nhờ điều này, CNOOC đã gián tiếp tham gia vào hoạt động khai thác dầu khí ở các vùng nước sâu tại vịnh Mexico, và ở khu vực Biển Bắc (North Sea) thuộc Châu Âu [9].
Thứ Hai: Quảng bá hình ảnh với thế giới để mời gọi hợp tác:
• Năm 2012 tại Hội nghị Kỹ thuật Dầu khí Ngoài khơi, Trung Quốc lần đầu tiên công bố chính thức việc họ đã thiết kế và chế tạo thành công giàn khoan nước sâu khổng lồ HYSY 981 [10]. Cùng lúc đó, họ cho tàu kéo giàn khoan này ra vùng nước sâu thuộc Biển Hoa Nam.
• Thông qua các phương tiện truyền thông, Trung Quốc luôn tỏ ra là chủ sở hữu của toàn bộ các lô dầu khí ở Biển Đông. Điển hình là năm 2012, CNOOC đã mời thầu 9 lô ở vùng nước sâu sát thềm lục địa và trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
• Tại Hội nghị Kỹ thuật Dầu khí Ngoài khơi 2013, Trung Quốc quảng bá cho cả thế giới thấy sức mạnh kỹ thuật của họ trong hai phiên thảo luận chuyên về việc thiết kế và chế tạo hai giàn khai thác dầu khí quy mô hiện đại là Liwan 3-1 và Liuhua 11-1.
• Ngoài ra, cũng trong Hội nghị này, Trung Quốc đã tổ chức một phiên thảo luận mở rất thành công trình bày toàn bộ tình hình năng lượng trong nước và các hướng phát triển, cũng như kêu gọi mở rộng hợp tác từ các nước phương Tây, nhất là trong lĩnh vực kỹ thuật khai thác nước sâu.
Thứ Ba: Kế hoạch đầu tư phát triển dài hạn và quyết đoán:
• Nghiên cứu kỹ cấu tạo địa chất của từng bể, sau đó tiến hành chia lô và lên kế hoạch thăm dò & khai thác từng bước một.
• CNOOC đã công bố rõ trong bản chiến lược kinh doanh và kế hoạch phát triển hồi đầu năm 2014 là họ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường thăm dò khai thác dầu khí ở các vùng nước sâu với những bước đi táo bạo [11].
• Đến năm 2020, CNOOC sẽ đầu tư 32.5 tỉ USD cho việc thăm dò tại các vùng nước sâu, cụ thể là sẽ khoan đào khoảng 800 giếng [12].
• Một mặt tìm cách kêu gọi hợp tác với các nước trong vùng biển tranh chấp để kéo dài thời gian, mặt khác cứ tiến hành hoạt động thăm dò & khai thác theo kế hoạch đã vạch sẵn. (Điều này vẫn đang là nghi vấn của chúng tôi.)

C. NHỮNG ĐIỀU GÌ ĐÁNG ĐỂ QUAN TÂM VÀ BÀN LUẬN VỀ “BƯỚC ĐỘT PHÁ” NÀY CỦA TRUNG QUỐC?
Thứ Nhất: Vị trí của bể Qiongdongnan
Sự việc cũng sẽ chẳng có gì đáng nói đối với Việt Nam nếu bể Qiongdongnan nằm trong một vùng khác. Tuy nhiên, trong các bản đồ mà chúng tôi có được, vị trí của bể này nằm gần đảo Hải Nam, gần thềm lục địa của Việt Nam và gần quần đảo Hoàng Sa. Đây chính là vùng biển hiện đang có tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Hình 1 – Vị trí của bể Qiongdongnan. Nguồn: The Wall Street Journal.
Không những công khai vị trí của bể này trên các phương tiện thông tin đại chúng, Trung Quốc còn đưa các bể trong vùng tranh chấp lẫn bể Sông Hồng của Việt Nam vào các nghiên cứu của họ. Hình 2 được trích từ bài nghiên cứu của các học giả Trung Quốc đăng ở Marine Geophysical Research [13]. Họ xem bể Sông Hồng và bể Yinggehai là một.

Hình 2: Vị trí của bể Qiongdongnan. Nguồn: Marine Geophysical Research.

Hình 3: Vị trí tương quan của bể Qiongdongnan so với thềm lục địa Việt Nam và Quần đảo Hoàng Sa. Nguồn: Subsea World News & Offshore Energy Today.

Thứ Hai: Cấu trúc và sắp xếp địa chất của khu vực Qiongdongnan
Không phải khoan đào một cách mò mẫm mà Trung Quốc đã có những chương trình nghiên cứu và mô phỏng cấu tạo địa chất của bể Qiongdongnan và những bể lân cận trong vùng Biển Hoa Nam từ những năm 1995 với bài nghiên cứu có lẽ là đầu tiên “Studies on Tertiary Source Rocks in the Yinggehai and Qiongdongnan Basins, South China Sea” được viết bằng tiếng Hoa.
Năm 2009, trong một bài nghiên cứu tổng hợp được đăng ở Journal of Earth Science [14], các học giả Trung Quốc đã kết luận: “The Qiongdongnan basin has the best oil and gas accumulation conditions. Moreover, predominant reservoir plays exhibit good prospect for future exploration.”
Hình 4 được trích ra từ bài nghiên cứu này đã cho thấy rõ Trung Quốc đưa cả bể Sông Hồng (trong hình là bể Yinggechai) vào nghiên cứu cấu trúc địa chất.
Một số dẫn chứng tiêu biểu kể trên chứng tỏ Trung Quốc nghiên cứu rất kỹ địa hình và cấu tạo địa chất của bể Qiongdongnan nói riêng và của toàn vùng vịnh Bắc Bộ ra đến quần đảo Hoàng Sa nói chung, bao gồm cả bể Yinggehai hay còn gọi là bể Sông Hồng của Việt Nam.

Hình 4: Tọa độ và cấu tạo địa chất của các vùng trong bể Qiongdongnan. Nguồn: Journal of Earth Science.
Thứ Ba: Nghi vấn Trung Quốc một mặt kêu gọi hợp tác chung, một mặt độc lập thăm dò & khai thác
Tháng Sáu năm 2013, Trung Quốc và Việt Nam mà cụ thể là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) và Tập đoàn Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã ký kết mở rộng vùng thăm dò chung ở Vịnh Bắc Bộ. Chúng tôi đã có đề cập chi tiết đến vấn đề này [15] và đã nêu ra một số nghi vấn như sau: Liệu Trung Quốc và Việt Nam có thật sự quan tâm đến “Vùng khai thác chung” hay không? Nếu không quan tâm đến “Vùng khai thác chung”, vậy mối quan tâm của Trung Quốc là gì?
Theo nguồn tin riêng và duy nhất mà chúng tôi tìm được từ Upstream, vào tháng Mười năm 2013, trong chuyến làm việc tại Việt Nam, Thủ Tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã tiếp tục thảo luận về việc hợp tác thăm dò khai thác chung trong vùng Vịnh Bắc Bộ. Nguồn tin đề cập chung chung đến việc Việt Nam và Trung Quốc tiến đến gần hơn nữa trong việc cụ thể hóa chương trình thăm dò ở các lô trong vùng tranh chấp [16]. Từ đó đến nay, chúng tôi không có được thêm tin tức nào về chương trình hợp tác chung này cả.
Trong phần hai nêu trên, câu hỏi đặt ra là tại sao Trung Quốc lại nghiên cứu kỹ lưỡng vùng biển tranh chấp như vậy? Câu trả lời đơn giản theo chủ quan của chúng tôi là là nếu họ không “quan tâm” thì họ nghiên cứu làm gì. Một khi đã biết rõ cấu tạo địa chất, cùng với việc có sẵn giàn khoan nước sâu HYSY 981 thì chẳng có lý do gì mà Trung Quốc không tiến hành khoan đào cả. Có lẽ họ đã tiến hành điều này từ lâu rồi và lần này tìm thấy mỏ khí họ mới công bố cho toàn thế giới biết.
Có thể tạm kết luận rằng một mặt Trung Quốc luôn rêu rao thăm dò chung, khai thác chung nhưng mặt khác họ độc lập tiến hành thăm dò & khai thác. Nếu Trung Quốc tự cho mình quyền thăm dò & khai thác trong vùng tranh chấp thì các nước đang tranh chấp, trong đó có Việt Nam, cũng có quyền làm điều tương tự.
Thứ Tư: Câu chuyện về Giếng Dầu “Cá Bông Lau”
Bản tin Trung Quốc phát hiện ra khí đốt ở vùng nước sâu tại Biển Đông làm chúng tôi liên tưởng ngay đến câu chuyện “Chuyện giả tưởng Giếng Dầu “Cá Bông Lau”” [17] mà chúng tôi tình cờ đọc được vào tháng Chín năm 2013. (Chúng tôi đã có may mắn tiếp xúc với tác giả của câu chuyện này – người đã có hơn 40 năm kinh nghiệm trong lãnh vực dầu khí ở Việt Nam và thế giới mà chúng tôi không tiện nêu tên.)
Khoan bàn tới độ xác thực của câu chuyện về giếng dầu “Cá Bông Lau” nhưng với “bước đột phá” của Trung Quốc và kinh nghiệm trong lãnh vực dầu khí, chúng tôi tin rằng việc phát hiện ra dầu và khí ở các vùng nước sâu ở Biển Đông sẽ là câu chuyện của thì tương lai gần.

D. VÀI KẾT LUẬN SƠ KHỞI
• Đối với lĩnh vực thăm dò & khai thác nước sâu, trước ngày 19 tháng Ba năm 2014, Trung Quốc chỉ mới thành công ở mỏ Liwan 3-1, mà chủ yếu là dựa vào tập đoàn dầu khí Husky Energy của Canada. Tuy nhiên, lần này tại mỏ Lingshui 17-2, Trung Quốc đã thành công trong việc tìm ra khí đốt. Mặt dù trữ lượng không lớn, nhưng nó đánh dấu một mốc quan trọng đối với Trung Quốc vì đây là lần đầu tiên họ thành công trong việc tìm ra nguồn dầu khí ở khu vực nước sâu. Đây có lẽ là câu trả lời cho một nghi vấn “thay cho lời kết” mà chúng tôi đã nêu ra vào ngày 11 tháng Bảy năm 2013 [15]:
Trung Quốc đã thiết lập chiến lược và đã khai thác dầu khí ở vùng Western South China Sea (bao trọn “Vùng khai thác chung”), vậy tại sao Trung Quốc lại phải hợp tác với VN để khai thác trong vùng này? Hay đây chính là bước đệm đầu tiên để họ “Nam tiến” xuống các vùng biển nước sâu, nơi có nguồn dầu khí dồi dào, bằng các hiệp ước tương tự với Việt Nam?
• Chúng tôi xin trích một lời khuyên của ông David Thompson, Phó Tổng Giám đốc tập đoàn Tư vấn Wood Mackenzie được trích đăng trong một bài báo của Bloomberg vào cuối năm 2013 [18]: “For Vietnam, it’s the deep water that’s going to be interesting in the future. If they want to have a kick up in production, they need to get more activity, more exploration going in the deep water.” Chúng tôi đã từng khuyến nghị Việt Nam tập trung vào hoạt động thăm dò & khai thác ở các vùng biển nước sâu thuộc chủ quyền Việt Nam từ trước đó rất lâu. Một số bài học rút ra khi nghiên cứu về chiến lược thăm dò & khai thác các vùng nước sâu của Trung Quốc mà chúng tôi đã nêu ở phần B có thể được áp dụng đối với Việt Nam.
• Chúng tôi cũng xin phép tác giả được mượn câu kết của câu chuyện về giếng dầu “Cá Bông Lau” như là lời nói hộ những suy ngẫm của chúng tôi: “Chuyện dầu hỏa Việt Nam, trước Bảy Mươi Lăm rồi sau Bảy Mươi Lăm, là chuyện của những cơ hội bỏ lỡ…, những cơ hội đáng lẽ đổi đời.” Chúng tôi hy vọng sẽ không phải chờ đợi trong cay đắng và tiếc nuối đến gần 40 năm như tác giả của câu chuyện trên.

E. NHỮNG TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] CNOOC: First Breakthrough Made on Independent Deepwater Exploration in Qiongdongnan Basin

http://www.cnoocltd.com/encnoocltd/newszx/news/2014/239569.shtml

[2] Upstream: CNOOC hits deep-water gas at Lingshui

http://www.upstreamonline.com/live/article1355593.ece

[3] Upstream: CNOOC makes a big hit with Ningbo 22-1 well

http://www.upstreamonline.com/live/article1355893.ece‎

[4] Oil & Gas Journal: CNOOC makes natural gas discovery in Bohai Bay

http://www.ogj.com/articles/2014/03/cnooc-makes-natural-gas-discovery-in-bohai-bay.html

[5] Stratfor: China’s Shale Gas Development Potential

http://www.stratfor.com/image/chinas-shale-gas-development-potential

[6] Nhóm Nghiên Cứu Dầu Khí Houston: Vài Nhận Xét về Tình Hình Dầu Khí Trung Quốc ở Biển Đông có Liên Quan đến Việt Nam

[7] China Daily: CNOOC set to increase spending on deepwater drilling

http://www.chinadaily.com.cn/cndy/2013-01/31/content_16189153.htm

[8] Reuters: CNOOC closes $15.1 billion acquisition of Canada’s Nexen

http://www.reuters.com/article/2013/02/25/us-nexen-cnooc-idUSBRE91O1A420130225

[9] Nhóm Nghiên Cứu Dầu Khí Houston: Một Góc Nhìn Kỹ Thuật về Sự Kiện Tập Đoàn CNOOC Thôn Tính Tập Đoàn Nexen

[10] Nhóm Nghiên Cứu Dầu Khí Houston: Một Số Nhận Xét về Kế Hoạch Phát Triển của Tập Đoàn Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc – CNOOC – ở Biển Đông

[11] CNOOC: CNOOC Limited Announces its 2014 Business Strategy and Development Plan

http://en.cnooc.com.cn/data/html/news/2014-01-20/english/350650.html

[12] Upstream: China Deepwater Oil and Gas Analysis

http://www.upstreamonline.com/epaper/article1261682.ece

[13] Tao Jiang et al, “Seismic features and origin of sediment waves in the Qiongdongnan Basin, northern South China Sea”, Marine Geophysical Research, Vol. 34, December 2013.

[14] Junfeng Yu et al, “New Insight into Oil & Gas Exploration in Miocene and Late Oligocene Strata in Qiongdongnan Basin”, Journal of Earth Science, Vol. 20, October 2009.

[15] Nhóm Nghiên Cứu Dầu Khí Houston: Một Số Nhận Định về Thỏa Thuận Hợp Tác Thăm Dò & Khai Thác Dầu Khí trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc

[16] Upstream: China and Vietnam near deal on disputed South China Sea acreage

http://www.upstreamonline.com/hardcopy/news/article1340763.ece

[17] Diễn Đàn Thế Kỷ: Chuyện Giả Tưởng Giếng Dầu “Cá Bông Lau”

http://www.diendantheky.net/2013/09/chuyen-gia-tuong-gieng-dau-ca-bong-lau.html

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2014/03/26/trung-quoc-va-buoc-dot-pha-tham-do-khai-thac-dau-khi-nuoc-sau/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: