VÌ SAO CÔNG AN CẦN MỘT CHỮ KÝ ĐẾN VẬY

Hạ Đình Nguyên-VIỆT NAM : CẢ NƯỚC TRONG CƠN “HỘI CHỨNG”(hq3) –

Tô Văn TrườngCẢI CÁCH THỂ CHẾ HAY CẢI THIỆN THỂ CHẾ ĐÃ LỖI THỜI?*

Nhân dân là ai?Phần âm thanhĐiều gì khiến người dân Bắc Sơn nổi loạn?  Phần âm thanhKhông hợp lòng dân nhưng lệnh trên thì phải làm! (MTG 14-4-14)- Hơn 100 công an tỉnh Hà Tĩnh được điều tới để giải vây cho những viên công an bị bắt tại xã Bắc Sơn hôm 10/4/2014. Courtesy ĐSPL.  –  Xuân Lộc: Đừng để ngọn lửa Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng lên lần thứ 2 (Quê choa).Bùi Chí Vinh – Về phát biểu của một Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao trên báo Tuổi Trẻ(DL)  Đồng Phụng Việt – Ổn định cá nhân và ổn định hệ thống chính trị(DL)-Lửa đang cháy ngang mày(rfa)-Tỵ nạn để đấu tranh dân chủ: con đường gian truân (Phần 1)  Phần âm thanh (Phần 2)   –Đất đai : Xung đột giữa công an và dân Hà Tĩnh(xhds)-– Việt Nam vẫn trong 10 nước nhận nhiều kiều hối nhất thế giới (RFI).– Toàn cảnh kinh tế Việt Nam (Vietfin).- Lê Đăng Doanh: Đừng bắt con cháu trả nợ cho chúng ta (TT)

VÌ SAO CÔNG AN CẦN MỘT CHỮ KÝ ĐẾN VẬY

(TƯỜNG TRÌNH BUỔI LÀM VIỆC VỚI AN NINH)

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Làm việc với tôi lúc đầu là hai người: một công an cấp thành phố tên Tuấn ngoài năm mươi tuổi, nước da màu đồng ruộng, mặt nhọn chữ V, đã quá quen mặt với tôi suốt mấy năm nay và một người trẻ hơn ông Tuấn vài tuổi, mặc áo thun đen được ông Tuấn giới thiệu cũng là công an thành phố. Tôi hỏi tên, người đó nói tên Sang.

Tôi tin chắc ông Sang không phải là công an cấp thành phố mà là công an cấp bộ. Tôi đến trụ sở công an xã Phước Kiển vào phòng trung tá Lâm Ngọc Thích, trưởng công an xã, hỏi: Thưa anh, tôi được mời đến làm việc ở phòng nào. Ông Thích hỏi ngay: Bác là bác Trọng phải không? Ông Thích mời ngồi, pha ấm trà mới tiếp khách và bảo tôi bác ngồi đợi chút, các anh đó đang đến. Tôi hỏi thăm gia đình, ông Thích bảo quê ông bà nội ngoại của ông đều ở xã Phước Hải, cạnh xã Phước Kiển này. Ông vui vẻ, cởi mở khoe rằng anh thiếu úy Lê Phương Tinh, công an khu vực dân cư nơi tôi ở, người hai lần mang giấy mời của công an đến cho tôi chính là con rể của ông, lấy con gái đầu của ông.

Uống ngụm trà rồi tôi ra sân đợi thì ông Tuấn đến. Tôi và ông Tuấn đến phòng ông Thích đi ngang qua một người mặc áo thun đen đứng bên chiếc xe máy ngay cửa phòng ông Thích. Ngôn ngữ trao đổi và cử chỉ của ông Thích và ông Tuấn cho tôi hiểu rằng ông Thích giục làm việc đi, ông Tuấn bảo đợi thêm người, ông Thích liền chỉ người mặc áo thun đen. Lúc đó ông Tuấn mới biết rằng người mặc áo thun đen đứng trước phòng ông Thích chính là người sẽ cùng ông Tuấn làm việc với tôi. Người mặc áo thun đen chính là ông Sang. Sự không quen biết nhau giữa ông Tuấn và ông Sang cho tôi hiểu rằng ông Sang không cùng đơn vị công an thành phố với ông Tuấn thì ông Sang phải là công an cấp bộ.

Sau phần thủ tục đầu tiên ông Tuấn hỏi tôi về sức khỏe để ghi vào biên bản rằng tôi đủ sức khỏe và đủ minh mẫn để làm việc, tôi nói: Lần trước các anh gửi giấy mời nhưng tôi không đi vì những bài viết của tôi là của đời sống dân sự. Hiến pháp cho công dân được tự do ngôn luận đã cho tôi được viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, chính kiến. Nếu tôi viết có gì sai, các anh cứ kiện tôi ra tòa án, tôi sẽ hầu kiện. Đó là đời sống dân sự. Nhưng công an vào cuộc về những bài viết của tôi thì đã hình sự hóa đời sống dân sự rồi. Tôi không chấp nhận đời sống dân sự bị hình sự hóa như vậy. Lần này lại nhận được giấy mời của các anh, tôi đã định không đi. Nhưng thấy những bài viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của tôi chỉ là việc nhỏ nhặt trong đời sống dân sự mà cứ để các anh nay mời, mai mời làm cho sự việc nhỏ trở thành lớn, trở thành căng thẳng và các anh phải đi lại nhiều lần vất vả nên tôi đến đây gặp các anh. Tôi coi đây chỉ là cuộc gặp dân sự nói chuyện để hiểu biết nhau nên tôi không ký bất kì một biên bản nào để hình sự hóa cuộc gặp này.

Ông Tuấn gọi tôi là chú. Ông Sang gọi tôi là bác. Hai người thay nhau hỏi. Bác có trang cá nhân facebook không? Bác có trang này lâu chưa? Mục đích chú lập trang facebook để làm gì? Tôi nói rằng ở thời công nghệ thông tin này, trang facebook đã trở thành rất phổ biến từ bà nội trợ đến cô học trò cấp hai, từ anh nông dân đến ông cán bộ nhà nước đều có trang facebook công khai những sự việc, những vui buồn trong ngày của mình để được cộng đồng facebook trên khắp thế giới chia sẻ, tạo ra một thế giới phẳng rộng lớn. Tôi mới có trang facebook từ năm 2013. Cũng như mọi người, tôi ghi lại những vui buồn, nghĩ suy, trăn trở trên facebook. Khác mọi người, tôi là nhà văn. Tôi không chỉ buồn vui, nghĩ suy về cá nhân tôi mà tôi buồn vui, nghĩ suy, trăn trở về đất nước, về nhân dân, về thời cuộc.

Ông Tuấn đưa cho tôi xem hai tờ giấy A4 in một list tên những bài viết của tôi từ trang web Đàn Chim Việt và hỏi đây có phải những bài viết của chú không? Chú thường gửi bài cho những mạng nào? Trả lời: Tôi thường gửi bài cho trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự. Đàn Chim Việt vẫn đăng bài của chú mà? Không phải chỉ có Đàn Chim Việt, các trang web khác đều tải bài của tôi từ trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự.

Có lẽ ông Sang không phải là người chuyên trách theo dõi tôi nên hỏi nhiều câu thuộc về sơ yếu lí lịch mà người chuyên trách về tôi phải rành rẽ từ đầu như: Bác có tham gia công tác cách mạng gì không? Bác có tham gia tổ chức xã hội nào không. Tôi nói tôi là người lính nhập ngũ từ năm 1963 mà cuộc chiến tranh chống Mỹ đến năm 1965 mới thực sự nổ ra. Tôi đã tham gia trọn vẹn ba cuộc chiến tranh. Chiến tranh chống Mỹ. Chiến tranh chống Pôn Pốt. Chiến tranh chống Tàu ở biên giới phía Bắc. Cuộc chiến tranh chống Mỹ, tôi là người lính ở mặt trận Tây Nguyên. Sau năm 1975, tôi được điều về Tổng cục Chính trị, là nhà văn ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội rồi làm biên kịch ở Xưởng phim Quân đội. Hai cuộc chiến tranh sau, tôi là nhà văn, nhà báo quân đội. Tôi là hội viên các hội: hội Nhà Văn Việt Nam, hội Nhà Báo Việt Nam, hội Điện ảnh Việt Nam.

Ông Sang có hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập nhưng chỉ hỏi thoáng qua. Sau này khi nhân vật công an thứ ba xuất hiện mới hỏi nhiều về Văn Đoàn Độc Lập và nhân vật này cũng biết rất rõ về tôi và gia đình tôi mà tôi tin chắc đó chính là người chuyên trách về tôi. Hỏi qua về Văn Đoàn rồi ông Sang lại quay về cá nhân tôi: Bác là hội viên hội Nhà Văn từ khi nào? Tôi không nhớ rõ năm nào nhưng lâu rồi. Tôi trả lời và nhìn Sang, nói: Tôi biết anh không phải là công an thành phố mà là công an bộ. Sang cười. Nụ cười thú nhận. Sau cuộc gặp, nhìn lại ba công an vừa làm việc với tôi, tôi thấy ở ông Sang phần người còn nhiều hơn cả trong ba công an, phần công cụ chưa lấn át phần người. Hai người còn lại thì phần người đã bị khuất lấp sau phần công cụ.

Ông Tuấn đưa ra một tập những bài viết của tôi được in từ trên mạng và bảo tôi ký xác nhận: Lần trước chú đã ký 19 bài rồi. Hôm nay chú ký tiếp những bài này. Tôi bảo lần này tôi không ký vì ba lẽ. Một là không cần thiết. Bài viết đã ghi rõ tên tôi là đủ để xác nhận rồi. Hai là lần trước tôi ký đã tạo ra tiền lệ để lần này tôi lại được mời đến gặp các anh để ký. Mấy tháng sau tôi có những bài viết mới lại bị gọi lên ký lần thứ ba. Rồi lần thứ tư. Lần thứ n. Là nhà văn, tôi không thể thờ ơ với cuộc sống, với số phận nhân dân, số phận đất nước nên cứ phải viết cho đến lúc từ giã cuộc đời. Rồi đến lúc sắp chết sẽ lại bị các anh nhét bút vào tay bắt ký. Ba là công dân có quyền tự do ngôn luận vì thế bài viết của tôi hoàn toàn hợp pháp trong đời sống dân sự. Tôi phải ký xác nhận bài viết với công an là tôi đã tự hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể làm điều đó.

Ông Sang bảo: Bài của bác sao bác không dám ký. Bác sợ à? Tôi mỉm cười: Nếu sợ tôi đã không dám viết. Có viết cũng không dám ký tên thật mà phải dùng một cái tên ảo Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Văn Hèn nào đó. Tất cả các bài viết của tôi trên mạng suốt bao năm nay tôi đều ghi tên đầy đủ, rõ ràng. Không có bài nào tôi phải giấu tên. Điều đó xác nhận rằng tôi chẳng có gì phải sợ hãi. Làm đúng với lương tâm, trách nhiệm và luật pháp thì có gì phải sợ hãi, anh Sang nhỉ.

Ông Tuấn cắm cúi viết chắc là ghi biên bản. Chỉ còn đối đáp của ông Sang và tôi. Việc trùng tên rất thường gặp. Cũng có khi người khác ghi tên bác ở bài của họ thì sao. Vì thế bài nào của bác, bác phải ký xác nhận để phân biệt với những bài khác. Tên của tôi và bài viết của tôi là một chỉnh thể thống nhất. Văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ, tình cảm, thái độ và cả kiến thức, trí tuệ trong bài viết của tôi cũng đã làm nên cái tên Phạm Đình Trọng và cái tên đó luôn là một chỉnh thể thống nhất với bài viết. Bài viết cũng như vân tay của một người. Từ vân tay công an xác định được người có vân tay đó thì từ bài viết, công an cũng dễ dàng xác định được người viết bài đó.

Lặp đi lặp lại đòi hỏi bác phải ký xác nhận bài viết là của bác thì cũng lặp đi lặp lại lý do không ký: Không phải chỉ riêng tôi phải ký mà hàng trăm, hàng ngàn người khác cũng đã và sẽ bị các anh yêu cầu ký vào bài viết. Số giấy mực in lại bài viết của một người thì không đáng bao nhiêu nhưng bài viết của hàng trăm, hàng ngàn người thì tiền giấy mực không phải là nhỏ. Dân mình còn nghèo lắm. Tiền giấy các anh in bài là tiền thuế của những người dân nghèo chạy ăn từng bữa đấy. Chúng tôi cứ ký hết lần này đến lần khác là các anh cứ vô tư tiêu phí những đồng tiền thuế của dân nghèo vào những việc không đáng tiêu. Tôi không thể hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể suốt đời cứ bị gọi lên gặp các anh để ký xác nhận bài viết.

Nếu bác không ký thì không có gì xác nhận có buổi làm việc hôm nay. Ông Sang nhắc đi nhắc lại câu đó rồi hứa: Bác cứ ký đi. Đây là lần ký cuối cùng. Sẽ không có lần thứ ba nữa. Tôi bảo: Lòng tin của người dân vào công an bây giờ xuống rất thấp. Chả có gì bảo đảm rằng tôi không còn bị các anh mời lên ký xác nhận bài viết nữa. Chúng tôi sẽ ghi vào biên bản làm việc điều đó. Biên bản các anh đưa vào hồ sơ rồi cất trong tủ sắt. Tôi đâu có bằng chứng về lời hứa của các anh. Tôi đề nghị các anh ghi điều đó ra giấy để tôi giữ lời hứa của các anh bằng giấy trắng mực đen. Ông Sang im lặng rồi đi ra ngoài. Trong quá trình làm việc, ông Sang mấy lần ra khỏi phòng gọi điện thoại. Lần này ông Sang ra ngoài khá lâu. Trở vào phòng, ông Sang ngồi lặng lẽ, dáng chờ đợi.

Gần nửa tiếng im lặng chờ đợi, người thứ ba mới xuất hiện. Lời giới thiệu của ông Sang về nhân vật mới chỉ vẻn vẹn có cái tên, anh Toàn. Mặt trắng, sáng sủa. Chân râu xanh rì quanh miệng. Đầu hói khoảng ba mươi phần trăm. Dáng nho nhã của con người bureau. Nhìn ông Tuấn thấy sự hăng hái, xông xáo, thấy cả sự tất bật, băm bổ của con người hành động thì nhìn ông Toàn nhận ra sự lạnh lùng, kín đáo của con người toan tính, nhận ra cả sự tự tin của kẻ rất có ý thức về sức mạnh đang có trong tay. Cái tự tin “công an là pháp luật, pháp luật là công an” của mọi công an nhà nước cộng sản Việt Nam.

Lời đầu tiên ông Toàn nói ngay những hiểu biết của ông về tôi, tuy những hiểu biết đó chỉ là bề ngoài, không đúng thực chất và không ăn nhập với đề tài buổi làm việc: Bác còn quá khỏe, còn đi khắp nơi. Bác có hai nhà cho thuê. Lương hưu lại cao… Ông Toàn còn kể ra cả căn hộ tôi đang ở là căn hộ penthouse, căn hộ thông tầng. Tôi nói: Những điều anh Toàn nói tuy có cái không đúng như tôi làm gì có hai nhà cho thuê nhưng tôi không cần diễn giải vì đây là lĩnh vực riêng tư của đời sống cá nhân được pháp luật bảo đảm bí mật, không bàn ở đây.

Ông Toàn hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập. Văn Đoàn đã có hoạt động gì? Các tổ chức quốc tế có công nhận Văn Đoàn, có ủng hộ sự ra đời của Văn Đoàn không? Trang web của Văn Đoàn do ai làm? Bác đã viết bài cho trang web này chưa? Tham gia Văn Đoàn như thế nào? Tôi bảo: Anh Toàn cũng biết thời nước ta còn bị Pháp đô hộ, còn chưa có độc lập thế mà Tự Lực Văn Đoàn còn được ra đời và hoạt động suốt mười năm, từ năm 1932, để lại một nét son, một dấu ấn sâu đậm mãi mãi trong lịch sử văn học nước nhà. Bây giờ nước ta đã có độc lập, có Hiến pháp bảo đảm quyền lập hội cho công dân thì các nhà văn thành lập Văn Đoàn Độc Lập cũng là bình thường. Một xã hội dân sự phải có các tổ chức xã hội thực sự của người dân, do người dân thành lập và duy trì hoạt động. Ông Toàn cắt lời tôi rằng trên thế giới không nước nào có xã hội dân sự cả. Tôi rất ngạc nhiên về nhận thức xã hội dân sự của ông Toàn. Tôi nói chỉ có mấy nước cộng sản là không có xã hội dân sự thôi. Phần lớn các nước trên thế giới đều là xã hội dân sự. Văn Đoàn Độc Lập chưa chính thức ra đời. Mới có 61 người tập hợp nhau lại thành ban vận động rồi mới tiến tới thành lập Văn Đoàn. Tôi chỉ là một trong 61 người đó. Anh Toàn theo dõi các trang mạng thì cũng biết các hãng thông tấn nổi tiếng thế giới như BBC, RFA đều đã có bài phỏng vấn, đưa tin về Văn Đoàn. Đó là sự ủng hộ, chào đón của họ với Văn Đoàn. Chỉ là thành viên, không có chức trách gì ở Văn Đoàn nên tôi không biết ai làm trang web của Văn Đoàn và tôi cũng chưa có bài đăng ở đó. Những người gia nhập Văn Đoàn đều là tự nguyện ghi tên xin tham gia qua email.

Ông Sang hỏi email của tôi nhưng tôi bảo email thuộc bí mật thư tín cá nhân nên tôi không thể tùy tiện cung cấp cho mọi người.

Ông Toàn giơ lên tờ giấy A4 in lại từ Facebook của tôi bài “Hoa của Bauxite Việt Nam, Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ viếng thầy Đinh Đăng Định” và hỏi: Bác có quan hệ với Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ chứ? Những ngày lễ của họ, họ vẫn mời những người như bác đến dự lễ mà. Tôi bảo: Thầy Đinh Đăng Định chỉ vì phản đối dự án khai thác bô xít Tây Nguyên mà bị tù. Thày bị bệnh hiểm nghèo, gia đình xin cho thầy ra tù để chữa bệnh nhưng công an không cho. Đến lúc bệnh của thầy không còn chạy chữa được nữa, cái chết đã cận kề, công an mới trả thầy về gia đình để rũ bỏ trách nhiệm tang lễ cho thầy. Thầy chết, những công an đã gần gũi thầy suốt nhiều năm không ai đến viếng thầy nhưng Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ xa lạ chưa hề gặp thầy đã gửi hoa viếng thầy. Hoa của Bauxite Việt Nam, hoa của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự mang tấm lòng của cả nước đến với thầy. Hoa của Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ mang tấm lòng của loài người dành cho một con người. Ba giá hoa đẹp đó gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ nên tôi đã chụp ảnh đưa lên facebook của tôi.

Lại trở về với những bài viết của tôi, ông Sang: Dạo này bác viết nhiều không? Bác có nhớ viết bao nhiêu bài không? Trong đầu thoáng xuất hiện một câu hài hước, tôi nhìn ông Toàn và có lẽ trên gương mặt tôi có nụ cười thấp thoáng khi tôi nói: Tôi viết bài nào thì các anh đều biết cả. Có các anh nhớ hộ, thống kê hộ nên tôi cũng chẳng cần nhớ tôi đã viết bao nhiêu bài. Ông Toàn nói: Lần trước bác ký là năm 2012. Hơn một năm bác mới lại ký nhận bài viết của bác, đâu có nhiều. Bỗng ông Toàn căng giọng: Bác không ký thì còn làm việc dài. Hôm nay không xong thì ngày mai, ngày mốt. Tôi bình thản: Tôi sẵn sàng ngồi với các anh. Nhưng các anh không có quyền làm điều đó. Công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Ông Toàn: Bác sợ mới không dám ký nhận bài viết của mình. Tôi biết ông Toàn sử dụng ngón nghề điều tra, đánh vào tâm lý tự ái cá nhân nhưng tôi vẫn thấy như bị xúc phạm liền nói to: Anh nói thế là xúc phạm tôi. Tôi chẳng có gì sai để phải sợ các anh. Ông Toàn vẫn không thôi ngón đòn tâm lý: Tôi biết trong lòng bác đang sợ. Kiên trì lý lẽ của mình, tôi nói ngắn gọn: Tôi không ký để tự hình sự hóa bài viết của mình. Tôi không ký để cứ phải ký suốt đời. Ông Toàn liền lớn tiếng như quát: Bác còn viết thì còn phải ký!

Bác còn viết thì còn phải ký!

Sự tự tin của ông Toàn đó! Công an là pháp luật, pháp luật là công an đó!

Không có điều luật nào cho phép công an được mời công dân đến trụ sở công an vì những bài viết hợp pháp. Không có điều luật nào buộc công dân phải ký xác nhận bài viết hợp pháp với công an. Nhưng ông Toàn vẫn nói chắc nịch như công bố một điều luật của công an: Bác còn viết thì còn phải ký! Tôi lại nhớ đến câu nói của ông Sang mới ít phút trước: Đây là lần ký cuối cùng, không có lần ký thứ ba. Con người công dân của ông Sang đó! Bác còn viết thì còn phải ký! Con người công cụ của ông Toàn đó!

Ký – Không ký. Đã nói hết lý lẽ với nhau vẫn không chấp nhận đề xuất của nhau. Chẳng còn gì để nói, tất cả đều ngồi im lặng. Chợt ông Toàn đưa ra lối thoát: Bác không ký vào từng bài thì ký vào tờ giấy ghi rằng từ ngày 10 tháng tư năm 2014 trở về trước, những bài đứng tên Phạm Đình Trọng là của bác. Chúng tôi viết rồi đưa bác ký hoặc bác tự viết tờ giấy đó cũng được. Suy nghĩ giây lát, tôi chấp nhận giải pháp này. Tôi xin tờ giấy A4 và tự viết. Ông Sang nhắc tôi ghi tiêu đề Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng tôi không chấp nhận. Với tôi, đây không phải là văn bản pháp luật. Tôi viết ngắn gọn: XÁC NHẬN / Những bài viết trên mạng internet ký tên Phạm Đình Trọng từ ngày 10.4.2014 trở về trước là của tôi, Phạm Đình Trọng / Phước Kiển ngày 10.4.2014 / Ký tên.

Tôi đưa tờ giấy vừa viết cho ông Toàn. Ông Toàn đề nghị tôi thay chữ “ký tên” trong câu “Những bài viết trên mạng internet ký tên…” bằng chữ “đứng tên”. Lại phải lấy tờ giấy khác viết lại.

Ông Sang ra ngoài mời cô nhân viên hành chính Ủy ban Nhân dân xã Phước Kiển và ông hàng xóm cạnh trụ sở công an xã Phước Kiển vào làm chứng việc tôi viết giấy xác nhận. Lại mời cô công an xã Phước Kiển vào viết văn bản để hai người làm chứng ký.

Trong khi chờ ông Sang đi mời mấy người vào viết giấy làm chứng, tôi hỏi ông Tuấn: Anh Tuấn có biết hình ảnh của anh được đưa lên tất cả các trang mạng tiếng Việt khắp thế giới không? Ông Tuấn im lặng. Mặt ông Tuấn vốn đã tối như càng tối hơn. Ông Toàn nói: Sự nổi tiếng ấy cũng là do các bác. Tôi bảo: Tôi có đến viếng đám tang anh Lê Hiếu Đằng nhưng lúc anh Tuấn cướp băng tang, tôi không ở đó. Không biết ai chụp được bức ảnh giây phút anh Tuấn làm việc đó và đưa lên mạng. Là người phải có cái đức. Cái đức để sống ở đời và cái đức để lại cho con cháu, anh Tuấn nhỉ.

Giấy xác nhận rồi giấy làm chứng xác nhận đã xong. Đến biên bản làm việc cũng mất khá nhiều thời gian vì Ký – Không ký. Cuối cùng tôi chấp nhận xóa chữ “Đương sự” viết thay vào chữ “Người làm việc” ở cuối biên bản và ghi: Như lúc đầu tôi đã nói đây chỉ là buổi gặp gỡ trao đổi để hiểu nhau nên tôi không ký vào bất kỳ biên bản nào. Tôi không đọc biên bản này.

LỜI CUỐI

Đến nay tôi vẫn chưa lý giải được vì sao công an cần một chữ ký của tôi đến vậy. Vì thế tôi vẫn chưa xác định được buổi làm việc của tôi với công an hôm 10.4.2014 là thất bại hay là một kết quả chấp nhận được. Chỉ nhận ra rất rõ cảm giác mệt mỏi. Mệt mỏi về thể xác song ý chí của tôi không những không hề lay chuyển mà còn giúp tôi từng trải hơn, vững vàng hơn.

Những cuộc làm việc như vậy thực sự là cuộc công an khủng bố tinh thần, nhục hình tinh thần đối với công dân, chà đạp lên quyền con người, quyền công dân của người dân. Những cuộc làm việc như vậy cũng không khác bao nhiêu với việc 5 công an ở Phú Yên dùng gậy cao su đánh chết công dân Ngô Thanh Kiều.

Nhân danh pháp luật, công an Phú Yên bắt anh Kiều trái pháp luật rồi cứ cái đà lạm quyền, lộng hành, mất tính người, 5 công an Phú Yên thay nhau đánh anh Kiều nát nhừ thân thể đến chết. Nhân danh pháp luật, công an viết giấy mời trái pháp luật, hình sự hóa đời sống dân sự. Những cuộc làm việc theo giấy mời của công an với công dân là những trận nhục hình đối với công dân nhằm giết chết con người công dân, con người xã hội, giết chết con người trách nhiệm với đất nước, với dân tộc, với đồng loại, để người dân chỉ còn được sống bằng con người sinh vật ích kỷ, chỉ biết có miếng ăn và chỉ mong được yên thân, để người dân chỉ còn được sống bằng con người thần dân, phục tùng, cam chịu như một bầy cừu.

Sự lộng hành của công an bằng gậy cao su để lại bằng chứng là cái chết của anh Ngô Thanh Kiều ở Phú Yên, cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội, cái chết của anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang, cái chết của em học sinh Tu Ngọc Thạch ở Khánh Hòa và cái chết trong đồn công an của hàng trăm người dân lương thiện khác. Những cái chết đó khắc ghi trong lòng người dân Việt Nam tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản.

Sự lộng hành của công an bằng việc mời trái pháp luật công dân đến làm việc để dùng quyền uy của công cụ bạo lực nhà nước đánh đòn cân não vào tinh thần, ý chí con người tuy không để lại dấu vết trên thân thể nhưng hiểm độc và nguy hại hơn nhiều lần sự lộng hành của cơ bắp. Còn gì hiểm độc và nguy hại bằng giết chết con người công dân của một dân tộc. Sự lộng hành đó cần được ghi nhận lại trung thực bằng chữ nghĩa khắc vào thời gian, khắc vào lịch sử về một loại tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản chỉ có ở nhà nước cộng sản.

Viết xong đêm 11. 4. 2014.

Đọc lại và chỉnh sửa đêm 14. 4. 2014

P.Đ.T.

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2014/04/15/vi-sao-cong-an-can-mot-chu-ky-den-vay/

 

CẢI CÁCH THỂ CHẾ HAY CẢI THIỆN THỂ CHẾ ĐÃ LỖI THỜI?*

* Bản đầy đủ (2600 chữ) của bài đã đăng trên VietNamNet (1500 chữ)

Tô Văn Trường

Thực trạng kinh tế xã hội ở nước ta đụng vào bất cứ lĩnh vực nào cũng thấy đầy rẫy những tồn tại, bất cập. Riêng ngành nông nghiệp được nhiều người dân quan tâm vì Việt Nam vẫn là nước nông nghiệp, gần 70% dân số là nông dân, tầng lớp hy sinh, chịu đựng thiệt thòi nhiều nhất, cả trong thời chiến lẫn thời bình, đồng thời cũng đóng góp nhiều nhất vào việc ổn định kinh tế xã hội.

clip_image001

Thực trạng của nền nông nghiệp

Trong hơn chục năm trở lại đây nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng nhưng không bền vững vì chủ yếu dựa vào:

i) Tăng diện tích (cà phê từ 561,9 ngàn ha năm 2000 tăng lên 622,1 ngàn ha năm 2012. Trong cùng thời kỳ cao su tăng từ 413,8 ngàn ha lên 910,5 ngàn ha, hạt tiêu từ 27,9 ngàn ha lên 58,9 ngàn ha, ngô từ 730,2 ngàn ha lên 1118,3 ngàn ha, sắn từ 237,6 ngàn ha lên 550,6 ngàn ha, mặt nước nuôi thủy sản từ 641,9 ngàn ha tăng lên 1038,8 ngàn ha, v.v).

ii) Tăng sử dụng đầu vào như phân bón, thuốc sâu, v.v. (sử dụng phân bón của Việt Nam tăng từ 7,2 triệu tấn năm 2005 lên khoảng 11 triệu tấn hiện tại).

Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp suy giảm: (năm 2011 là 4,0%, năm 2012 là 2,68%, năm 2013 khoảng 2,67%) trong khi cầu và giá nhiều nông sản giảm mạnh như giá gạo giảm 18,7%, cà phê giảm 26,6%, cao su giảm 11,7%.

Năng suất lao động nông nghiệp quá thấp, tổn thất sau thu hoạch quá lớn, sản xuất không theo định hướng thị trường. Năng suất cây trồng vật nuôi thấp, một số cây trồng vật nuôi không thay đổi nhiều năm nay như mía đường, đậu tương, bông vải. Khối lượng và giá trị xuất khẩu tăng nhưng giá xuất khẩu thấp hơn so với sản phẩm cùng loại của các nước khác (gạo của Thái, Ấn Độ, Pakistan, v.v), tham gia phân khúc thấp của thị trường do vấn đề chất lượng, tổ chức sản xuất. Tỷ lệ trả về của nông sản xuất khẩu cao hơn so với các nước xuất khẩu khác. Ngành chế biến nông sản kém phát triển, giá trị gia tăng thấp, ít thương hiệu được thừa nhận.

Tổ chức quản lý nhà nước yếu kém: Hiệu suất, hiệu quả hoạt động kém (ví dụ tổ chức ngành chăn nuôi; ngành kiểm lâm, v.v). Chất lượng của cả đầu vào và đầu ra không kiểm soát được. An toàn thực phẩm ở mức báo động. Thị trường phân bón, thuốc trừ sâu bát nháo, chất lượng kém. Hàng giả, hàng kém chất lượng tràn lan không được kiểm soát, gây thiệt hại cho nông dân và xã hội… Điệp khúc “được mùa mất giá” diễn ra thường xuyên, liên tục hết năm này qua năm khác, điển hình năm nay dưa hấu ứ đọng ở cửa khẩu, bắp cải không bán được phải chặt cho bò ăn hay đổ xuống sông, lúa chất đầy nhà nhưng không tìm được người mua.

clip_image002

Thảm cảnh dưa hấu Tân Thanh. Ảnh: VOV

Xuất khẩu rau quả cũng như nhiều loại hàng hóa khác của Việt Nam qua con đường tiểu ngạch sang Trung Quốc đã, đang và sẽ còn rất phổ biến. Nếu không tổ chức vận chuyển, sơ chế và bảo quản đúng quy trình chắc chắn việc hư hỏng sẽ còn tiếp diễn và người dân sẽ còn phải tiếp tục gánh chịu. Nguy hiểm hơn, tình trạng thương lái Trung Quốc đặt mua giá cao đỉa, móng trâu, lá điều khô, khoai lang tím, dừa non, rễ cây hồ tiêu, v.v rồi bỏ không mua, khiến nông dân điêu đứng.

Tổn thất sau thu hoạch đối với mặt hàng rau quả nước ta hiện nay còn cao, từ 15 – 25%, tuy vậy các nghiên cứu về công nghệ bảo quản chỉ mới được chú trọng 10 năm trở lại đây với mức đầu tư hàng năm cho nghiên cứu còn khiêm tốn. Trong khi đặc thù của mặt hàng rau quả lại khá đa dạng về chủng loại, đặc tính sinh lý và sinh hóa có nhiều khác biệt, nên việc đáp ứng được một công nghệ bảo quản phù hợp cho nhiều đối tượng là không thể. Với nguồn kinh phí hạn hẹp, trong những

năm qua mới tập trung nghiên cứu cho một số loại quả như: Vải thiều, xoài, cam, bưởi, chuối, nhãn và thanh long. Kết quả nghiên cứu trong nước tương ứng với các công nghệ đã được ứng dụng trên Thế giới. Công nghệ có, nhưng việc ứng dụng và nhân rộng lại còn gặp nhiều bất cập, có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản nhất là do chúng ta chưa có sự kết hợp để đầu tư đồng bộ và đúng mức theo chuỗi sản xuất của sản phẩm.

Nút thắt lớn của ngành nông nghiệp

Có 3 nút thắt lớn của ngành nông nghiệp là: i) Hiệu quả thấp nên thu nhập của nông dân thấp; ii) Nông nghiệp là ngành kinh tế có độ mở cao, phụ thuộc nhiều vào thị trường quốc tế, song chủ yếu xuất/bán thô, tỉ lệ chế biến sâu rất ít nên thực tế phần lớn giá trị gia tăng nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam; và iii) Giá trị gia tăng trong chuỗi ngành hàng không được phân phối công bằng giữa các khâu, trong đó nông dân là người sản xuất ra nông sản hàng hóa phục vụ chế biến, xuất khẩu nhưng lại được hưởng lợi thấp nhất và chịu rủi ro nhiều nhất cả về thiên tai, dịch bệnh và giá cả.

Tồn tại trên, theo chúng tôi là do cơ chế quản lý đất đai không phù hợp. Tư duy sản xuất chạy theo số lượng có từ thời còn túng thiếu nên từ giống, kỹ thuật, đầu tư đề hướng vào tăng năng suất, tăng vụ, do đó, muốn chuyển đổi cũng không thể một sớm một chiều. Sản xuất manh mún, qui mô nhỏ ở cấp hộ gia đình cho dù trước đây từng là động lực tăng trưởng do phát huy được lao động phổ thông của mọi lứa tuổi nay đã chứng tỏ không còn phù hợp trong điều kiện mới.

Chúng ta đổ lỗi cho khoa học kỹ thuật yếu kém, nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Nếu khoa học kỹ thuật có yếu kém thì trước tiên đó là khoa học quản lý. Bằng chứng là chỉ sau 2 năm thực hiện Nghị quyết 10 và Chỉ thị 100, Việt Nam đã hoàn toàn đổi khác, từ nước nhập khẩu ròng lương thực đã trở thành nước xuất khẩu đứng hàng nhất nhì thế giới. Hiện tại khoa học kỹ thuật vẫn nằm chờ cơ chế, chính sách và mô hình để bung ra phát triển. Nói cách khác khoa học kinh tế xã hội trong đó có khoa học quản lý không theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước. Điều này thể hiện ở sự mâu thuẫn giữa chủ trương và cách điều hành của lãnh đạo Bộ. Ví dụ chương trình lúa lai của Bộ NN sau hai chục năm thực hiện có thể nói là đã thất bại khi mà sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 25-30% nhu cầu, các giống sản xuất trong nước vẫn thua kém so với giống nhập nội về khả năng thích ứng, năng xuất hạt lai F1 thấp và bấp bênh, các tổ hợp lai 3 dòng vẫn chưa phát triển được, chưa chủ động được giống bố mẹ. Nguyên nhân là do trong khi một mặt nhà nước “hô hào” sản xuất giống trong nước nhưng đồng thời lại thực hiện chính sách “đi tắt đón đầu” trong vấn đề sử dụng lúa lai, cụ thể là cho phép nhập khẩu hạt giống lai F1 và có chính sách trợ giá, bù giá cho việc sử dụng giống lai, do đó kinh doanh lúa lai quá dễ và quá lãi nên người người buôn lúa lai, nhà nhà buôn lúa lai và chẳng còn ai thiết tha, quan tâm đến nghiên cứu, sản xuất trong nước.

Gần đây lãnh đạo Bộ NN thường nói phải tái cơ cấu, phải chuyển từ sản xuất ra nhiều sản phẩm sang sản xuất ra sản phẩm có giá trị nhưng mặt khác vẫn quyết tâm đưa ngô biến đổi gen vào trồng đại trà với lý do Việt Nam hàng năm đang thiếu và phải nhập khẩu ngô làm thức ăn chăn nuôi. Điều này cho thấy có sự mâu thuẫn trong tư duy của lãnh đạo Bộ. Ngô biến đổi gen chỉ có thể trở nên có giá trị khi đạt được ưu thế lai về kinh tế. Có điều để đạt được ưu thế lai về kinh tế là rất khó trong điều kiện canh tác nhỏ lẻ của Việt nam và nhất là khi giá của các đầu vào như giống và phân bón luôn tăng cao hơn giá đầu ra. Nếu chọn cây biến đổi gen thì đó là vì doanh nghiệp bán giống, không phải vì nông dân vì công nghệ đó không phù hợp với nông dân nghèo cũng như nhu cầu của người tiêu dùng. Kế hoạch dành khoảng hơn trăm ngàn ha đất lúa ở ĐBSCL để chuyển sang trồng ngô hay đậu tương là kết quả của sự luẩn quẩn trong tư duy của lãnh đạo được hậu thuẫn bởi những nghiên cứu kém chất lượng, sai về phương pháp, cố ý nắn bóp số liệu theo ý chí chủ quan của lãnh đạo ngành (Xem bài: “Gỡ khó cho nông dân – cần cơ chế Khoán 10 mới”[1]).

Buổi điều trần của Bộ NN&PTNT vừa qua về khoa học công nghệ trong phát triển nông nghiệp và nông thôn mới một lần nữa thể hiện sự luẩn quẩn trong tư duy, ngụy biện, không thuyết phục được cử tri. Một số vị đại biểu Quốc hội phải chất vấn Bộ trưởng đến 2-3 lần mà vẫn chưa nhận được câu trả lời thỏa đáng.

Khi hỏi về giải pháp, Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời: “Giải pháp trước mắt phải tìm mọi cách tăng thu nhập nhưng đồng thời tạo ra sản phẩm chăn nuôi an toàn có chất lượng”!?

Tư lệnh ngành lẫn lộn, vì đây là mục đích, không phải là giải pháp. Nhiều câu trả lời rất chung chung như “Cần có sự điều chỉnh và tái cơ cấu mạnh mẽ”… Cử tri không thấy đột phá ở đâu? Nhận định của Bộ trưởng về “Nền nông nghiệp nước nhà chủ đạo là hàng chục triệu hộ gia đình nông dân nên chúng ta sẽ phải tiếp tục chấp nhận một nền nông nghiệp như vậy trong nhiều năm tới” lại càng khiến dư luận băn khoăn, lo lắng bởi vì nếu coi là một định đề không cưỡng được thì bó tay hay sao. Khi Quốc dân đảng bị bật ra Đài Loan, đấy là 1 hòn đảo sỏi đá mà sau khoảng 20 năm đảo quốc này đã có 1 nền nông nghiệp tiên tiến. Chúng ta có gần 40 năm rồi, chờ đến bao giờ nữa?

Giải pháp

Theo chúng tôi hiểu để xây dựng lại nền nông nghiệp phải giải quyết các nút thắt nêu trên.

Về quan điểm: Phải coi nông nghiệp là một ngành đa chức năng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh cho trên 90 triệu người. Có quan niệm như vậy thì đầu tư mới tương xứng, mới thực sự được Nhà nước quan tâm.

Về chiến lược: Nếu như quá trình đổi mới trước đây là quá trình đổi mới về thể chế dựa trên 3 trụ cột phát triển chính là: i) Đổi mới chính sách với hộ gia đình là đơn vị kinh tế trọng điểm, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, bỏ chế độ 2 giá; ii) Tăng cường đầu tư (Nhất là thủy lợi và giống) và iii) Phát triển Khoa học công nghệ (Chủ yếu là giống) thì giai đoạn tới phải là: Tiếp tục đổi mới về thể chế dựa trên các trụ cột: i) Nâng cao vai trò, vị thế của nông dân thông qua hỗ trợ phát triển các tổ chức của họ (Tổ hợp tác, Hợp tác xã); ii) Sửa đổi thể chế đất đai, tài chính, tín dụng nhằm tạo ra thị trường mua bán quyền sử dụng đất minh bạch, đảm bảo quyền sử dụng đất ổn định lâu dài, nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực; iii) Tạo hành lang pháp lý và sân chơi công bằng để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản; iv) Tăng cường đầu tư phát triển khoa học nghệ; v) Đổi mới quản lý nhà nước trong ngành nông nghiệp, đặc biệt là công tác quản lý theo quy chuẩn và công tác dự báo, đẩy mạnh phi tập trung các dịch vụ công; và vi) Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Như vậy, động lực của giai đoạn trước là đầu tư chủ yếu của Nhà nước, nay chuyển cho Doanh nghiệp lo, chỉ có họ bỏ tiền ra họ mới lo hiệu quả và như vậy cần giải tán tất cả các doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh nông nghiệp.

Về quản lý Nhà nước, phải quán triệt nguyên tắc, ai sản xuất thì người đó bán/xuất khẩu, không có chuyện chỉ thu gom. Hiện tại, công đoạn sản xuất là thu nhập thấp nhất, còn thu gom, chế biến, xuất khẩu là lãi cao và rủi ro thấp. Nếu để như hiện nay thì nông dân không bao giờ được hướng chút nào của chuỗi giá trị và cũng chắng ai quan tâm đến phát triển, ổn định thị trường. Như vậy, toàn bộ chức năng quản lý xuất nhập khẩu nông sản phải chuyển từ Bộ Công thương về Bộ NN & PTNT.

Ở các nước tiên tiến trên thế giới thì khâu bảo quản sau thu hoạch luôn được đầu tư theo chuổi đồng bộ từ quy hoạch vùng nguyên liệu đến sản xuất, sơ chế, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Ví dụ như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philipines … đã hình thành được hệ thống các nhà sơ chế, đóng gói, bảo quản (packing house) có mạng lưới kết nối với các siêu thị và các nhà máy chế biến bằng các xe vận tải mát, lạnh chuyên dụng. Vì vậy, để khắc phục được thực trạng hiện nay tại Việt Nam không thể thiếu được vai trò định hướng vĩ mô của các nhà quản lý, để

gắn kết nhà nông, doanh nghiệp và nhà khoa học xây dựng các hệ thống packing house có mạng lưới kết nối với các siêu thị và các nhà máy chế biến.

Vĩ thanh

Chúng ta đồng ý là tái cơ cấu hay cấu trúc như nhiều người nói, thậm chí xây dựng lại, tuy nhiên muốn làm được điều đó thì phải thay đổi tư duy trên cơ sở các khái niệm mới, mà tư duy là con người. Vậy làm sao có cơ chế để chọn được con người đủ tầm và tâm để quản lý ngành nông nghiệp mới là điều quan trọng nhất. Nhìn rộng hơn là đất nước muốn phát triển bền vững tiến lên cùng thời đại thì cần phải cải cách thể chế hơn là chỉ loay hoay tìm cách hoàn thiện thể chế đã lỗi thời!

T.V.T.

Tác giả gửi cho BVN

[1] http://baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=5&macmp=5&mabb=6792

http://boxitvn.blogspot.com/2014/04/cai-cach-che-hay-cai-thien-che-loi-thoi.html

 

Advertisements

One response to this post.

  1. […] VÌ SAO CÔNG AN CẦN MỘT CHỮ KÝ ĐẾN VẬY -Hòa hợp, hòa giải cho ai? (HQ1) […]

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: