30 tháng 4, tôi nhìn lại mình. 30-4: Nhìn Vượt Qua Một Ước Mơ Tan Vỡ

30-4: Nhìn Vượt Qua Một Ước Mơ Tan VỡNguyệt Quỳnh-

Ngày 30 tháng 4 vẩn vơ nhớ lại chuyện bầu cử Huỳnh Ngọc Chênh

30 tháng 4, tôi nhìn lại mình

Nguyễn Quốc Quân

image001Tại cuộc họp báo ở Hà Nội hôm thứ năm ngày 3 tháng 4 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn đã công bố rằng nhà nước sẽ cho cử hành một đại lễ cầu siêu tổ chức tại Trường Sa dành cho những anh hùng tử sĩ hy sinh vì biển đảo, kể cả chiến sĩ VNCH, cũng như tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên biển Đông. Khi nhắc tới thuyền nhân VN, ông đã gọi bằng một tên mới đó là “nạn nhân chiến tranh” và cho biết nhà nước VN “không còn bận tâm đến mục đích ra đi của khoảng 4 triệu rưỡi người Việt đang sinh sống ở nước ngoài”.

 

Tạm gác qua bên sự khó chịu về kiểu nói trịch thượng của ông Sơn và kinh nghiệm đã có quá nhiều về những “ẩn ý” hay “toan tính” của các lãnh đạo của ông Sơn, người ta vẫn thấy không ổn trong những phát biểu này và chẳng thấy sự chân thành nào đối với những người đã mất.

Có lẽ điều không ổn lớn nhất là thắc mắc: Nếu ông Sơn thực sự có thiện tâm muốn “hòa giải dân tộc” thì thay vì chỉ biết níu áo “các xác chết” ông có thể đề nghị Nhà Nước của ông làm rất nhiều việc dễ dàng, cụ thể, và cấp thiết hơn nhiều; chẳng hạn như hoà giải với các nhà bất đồng chính kiến “vẫn còn sống” trong và ngoài các trại tù tại Việt Nam. Như nhà nước Myanmar đã làm.

Nhân mùa tưởng niệm 30/4, từ một cái chết khác – một cái chết được biết trước nhưng vẫn khiến nhiều người bàng hoàng và cúi đầu khâm phục – đã thôi thúc tôi ghi lại những diễn tiến tư tưởng qua vài khúc quanh nhỏ của đời mình để bày tỏ lòng biết ơn tới những tấm gương lớn, nhỏ đời thường trong dòng sống gian nan đầy khổ lụy của lòng yêu chuộng tự do và công lý. Và cũng để khẳng định thuyền nhân Việt Nam không bao giờ chỉ đơn giản là nạn nhân chiến tranh.

***

Hình ảnh ghi đậm vào tâm trí tôi, vào những ngày này năm 1975, là một sinh viên năm cuối Đại Học Sư Phạm Saigon ban Toán đang cùng mẹ và các em gái, tại một căn chung cư gần chợ Bà Chiểu, mỗi người một bọc nhỏ quần áo với ít tiền lộ phí ngồi ngóng ra cửa đợi người con trai cả ở xa chưa về. Với trí nhớ về Việt Minh trên da thịt của những người lớn tuổi phải di cư năm 1954 thời ấy, mẹ tôi chỉ mong cả nhà xum họp sống chết cùng nhau. Và một lần nữa, bà quyết định cả nhà phải “trốn thoát nanh vuốt của Cộng Sản!”

Khi ông anh Thiếu úy Hải quân VNCH vừa về tới, vào trưa hôm 29-4, để đón cả nhà lên một trong hai chiếc PCF vừa cập bến Bạch Đằng thì … chuyến đi đã không thực hiện được. Bởi vì trong một khung thời gian rất hẹp, như một định mệnh – vắng mặt mẹ.

Thực ra, cá nhân tôi và người anh trai cùng các em sinh ra và lớn lên trên một vùng đất Miền Nam tự do nên không “dễ tin” vào những câu chuyện kinh hoàng thuở “xa xưa” của người lớn. Do đó, cũng chẳng háo hức gì lắm với việc hoà mình vào cái hỗn loạn lúc ấy để cố gắng tìm cho mình một chỗ thoát thân. Cả hai anh em chúng tôi thở phào: “Thôi … ở nhà. Ít nhất cũng mừng đã hết chiến tranh rồi !”

Thế rồi ít lâu sau đó, anh trai tôi chuẩn bị quần áo và thức ăn khô cho “10 ngày tập trung cải tạo”. Sau ba năm tù cải tạo, anh trở về cùng gia đình tại khu kinh tế mới ở Bình Long – như một điều kiện để ra tù. Sẵn lòng sống như một người nông dân bình thường, nhưng vẫn không được để yên! Thời gian sau, anh trốn về thành phố sống chui nhủi lây lất vài tháng và vượt biển năm 1979.

Riêng tôi, cùng cả lớp ba mươi mấy mạng, phải ở lại trường thêm một năm để học chính trị và vỗ tay hát đồng ca. Lúc ấy tuy có hơi chống đối những cái lố lăng, nhưng trong thâm tâm thấy vui vì đất nước thống nhất. Cố căng mình ra để trải nghiệm và phản biện với những thực tế rất đặc thù Cộng Sản. May mà cũng được ra trường bổ đi dạy học tại tỉnh Kiên Giang năm 1976.

Suốt 5 năm dạy học, dốc hết tâm lực và niềm tin để chiêm nghiệm tương lai đất nước qua ánh mắt và ước mơ của học trò mình. Tuy rất tin cậy vào sức mạnh của giáo dục; nhưng tôi chợt hiểu ra, giáo dục không phải là bước khởi đầu và chắc chắn cũng không là giải pháp duy nhất để canh tân đất nước. Ở quê hương mình, lúc ấy và có lẽ vẫn kéo dài đến tận bây giờ, người ta đã phải giả dối, lừa lọc, thờ ơ, và đôi khi phải tàn ác để vươn lên hay thậm chí chỉ để tồn tại!

5 năm ấy thật quí giá và ý nghĩa cho một đời người đủ để có thể quyết định trôi theo sóng biển năm 1981, tìm cho mình sự lắng đọng trong tâm hồn và một lời giải cho lý trí.

*o*

Những ngày gần đây, lòng tôi tràn đầy cảm phục, xót xa và trăn trở theo dõi từng bước chân, lời nói, tâm tư … của nhà giáo Đinh Đăng Định từ khi nhà nước nhất quyết không cho chữa trị nhưng “đại xá” cho về chết bên vợ con. Và đây chính là cái chết báo trước đã thôi thúc mình chia sẻ về cái Tôi tầm thường rất nguyên tắc và lắm ước mơ này. Như để tự vấn lương tâm ?!

Chưa đầy nửa tháng sau, ngày 3/4/2014 thầy giáo Đinh Đăng Định trút hơi thở cuối cùng. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, tôi cũng là một trong rất nhiều người cố gắng ghi nhận từng dữ kiện xung quanh thầy. Tôi hơi bất bình khi nghe gia đình thầy chỉ nghĩ rằng Nhà Nước đã nợ thầy Định một lời xin lỗi, nhưng rồi tôi phải thừa nhận gia đình thầy thực tế hơn tôi nhiều về những kẻ cầm quyền hiện nay. Hàng triệu người chết trên Biển Đông, sau 30 năm chỉ được lãnh đạo đảng “không còn bận tâm đến mục đích ra đi”. Tôi chợt nghĩ những lời xin lỗi kiểu này, nếu có, đối với tất cả những cái chết mờ ám có dính líu tới bàn tay công an trong những năm tháng gần đây, sẽ thành khẩn hơn cả buổi đại lễ cầu siêu sắp tổ chức.

Xin được cùng thầy giáo Phạm Minh Hoàng tiễn bạn với lời cầu xin “Bây giờ, trên Miền Yên Vui, xin thầy cầu nguyện cho chúng tôi, đặc biệt là các đồng nghiệp của mình vượt qua sợ hãi để tiếp tục và hoàn tất ý nguyện của thầy – và cũng là ước vọng của tất cả chúng ta.

*o*

Ước vọng của tất cả chúng ta dù có khác nhau đôi chút nhưng chắc hẳn cũng gần gũi với ý nguyện của thầy giáo Định. Như chân thật, như tự do, như thương yêu, như tương kính, như hạnh phúc, … mà tựu chung, chính cái cơ chế Độc Tài Toàn Trị là thủ phạm chủ tâm hủy diệt ý chí từng người. Sợ Hãi là món quà phát không rất thường xuyên cho tất cả mọi người trong giới bị trị – bao gồm cả đủ các tầng lớp quan chức và nhân viên thừa hành.

Một sự thật đơn giản đến như vậy, thế mà tôi vẫn chưa thể lý giải một cách ngọn nguồn mãi tận đến năm 1985 sau khi tìm hiểu và tham gia một tổ chức đấu tranh. Tôi tham gia vào cái lúc mà tổ chức này đang bị điêu đứng nhiều nhất với sự lột xác trưởng thành. Tôi góp mặt với tổ chức không chỉ nhờ vào sự may mắn gặp gỡ các tấm gương trong sáng và kiên trì của các thành viên tiếp tục bước tới, mà còn vì đồng tình với chủ trương Đấu Tranh Vận Dụng dựa vào Sức Mạnh Toàn Dân. Coi như đây là bước nhích chân đầu tiên – bước chân của dò đường để hướng đến điều mình thường trăn trở.

Cuối năm 1986 hoàn tất luận án Tiến sĩ Toán tại NCSU chỉ để tự khẳng định sở trường sở thích của mình. Giữa năm sau, tham dự lễ phát bằng tốt nghiệp như một cách trả ơn cho cha mẹ. Sau đó, nhận được tin mẹ tôi – nghệ sĩ ngâm thơ Hồ Điệp (1930-1987) – mất tích trên đường vượt biên đường bộ. Thật là một bi kịch, khi vết dao đó cắt thẳng vào da thịt mình khiến suy tưởng ấy lan man đến những cảnh xảy ra cho hàng trăm ngàn người phụ nữ khác trên con đường tìm tự do! Thế rồi chỉ ít ngày sau, theo sự mách bảo của cái cảm tính mơ hồ trong trái tim của mình, tôi quyết định dành trọn thời gian trở thành một trong nhiều thủy thủ bình thường của tổ chức tiếp tục đoạn hải hành đầy gian khó. Con thuyền hướng về ước mơ chung từng gửi lại bên kia bờ Thái Bình Dương. Đây là bước nhích chân thứ hai, bước chân của ý thức.

Không phải lúc nào con thuyền cũng lướt sóng với nhiều hứng khởi và niềm vui. Bầu trời Việt Nam vẫn một màu tối đen mặc dù Đông Âu đã hửng sáng. Đôi lúc thủy thủ đoàn cũng vật vã với nhau và với hướng đi của con thuyền. Chúng tôi chỉ đoán là mình đang hướng về phương Đông, nơi của yêu thương và tổ quốc. Bởi vì, ở nơi ấy thỉnh thoảng loé lên những tia chớp cuối chân trời.

Từ năm 2000 và nhiều lần sau đó, âm thầm đặt chân về Việt Nam gặp bạn bè, người thân và đồng đội. Lòng càng trăn trở khi cả nước vật vã chuyện áo cơm; chia sẻ nhau nỗi sợ vô hình tuy không đậm nét nhưng đủ bao phủ một cách thầm lén lên tất cả mọi người. Có thể những năm tháng ấy chưa phải là thời “cực thịnh” của chó săn với tỉ lệ 1 trên 6 như hôm nay. Nhưng chúng tôi vẫn thấy cái sợ lây lan quá sâu qua từng kế hoạch công tác. Phải có bước đột phá!

Năm 2006, sự xuất hiện của khối 8406 cùng với thái độ đấu tranh kiên cường của Lm. Nguyễn Văn Lý là một mốc điểm quan trọng đã khởi đầu một giai đoạn mới cho lực lượng dân chủ. Trong suốt thời gian này chúng tôi ráo riết gần gũi các đồng đội để học hỏi lẫn nhau, xây dựng lực lượng và góp nhặt những kinh nghiệm đó đây của nhiều người trong cũng như ngoài nước. Đây là khung thời gian rất phấn chấn nên tôi đã đúc kết 2 phương thức, coi như bước nhích chân thứ ba – bước chân của trải nghiệm vì chính mình đã có cơ hội thử nghiệm từ cuối 2007 trong lần sa cơ đầu tiên. Hai phương thức đó là:

  1. Sống hạnh phúc, sống hết mình : “Thương Yêu è Ước Mơ è Trải Nghiệm
  2. Vượt khó khăn : “sống với Niềm Tin èchọn thái độ Lạc Quan ègiành thế Chủ Động

Cùng lúc đó đã xuất hiện thêm nhiều mũi nhọn như anh Điếu Cày, Ls Lê Công Định, … góp mặt cùng cha Lý, cha Lợi, Ls Lê Thị Công Nhân… đã thu hút đồng bào mọi giới từng bước nhập cuộc. Đông đảo dần, sôi động hơn, và dĩ nhiên đỡ sợ hơn với hơi ấm của Đám Đông. Tuy có lúc trồi lúc sụt tùy theo độ nóng của họng súng trấn áp, nhưng cao điểm cứ tăng dần từ cuối năm 2013 với sự góp mặt của đông đảo giới trẻ. Kéo dài đến năm 2014 vẫn còn ở cao điểm với sự góp mặt và phối hợp của dân oan và đồng bào nhiều giới dù cho sự đàn áp cũng đã lên cực điểm của tàn ác và phi lý. Mà đó cũng chẳng phải là điều nghịch lý, khi mà chế độ độc tài không còn điều tiết nổi mức độ tàn ác của bộ phận trấn áp.

Ngày hôm nay, như blogger Nguyễn Việt Trung cảm nhận “Qua rồi cái thời kỳ người ta làm cách mạng vì miếng cơm, manh áo. Có lẽ bây giờ là thời kỳ những cuộc cách mạng vì phẩm giá con người”

Từ dân oan đến trí thức, từ thanh niên son trẻ đến chú bác đã về hưu, cả trai lẫn gái chẳng hề kèn cựa nhau, cả vợ cả chồng, cả mẹ cả con, cả trong Đảng lẫn ngoài Đảng … đang từng người xuất hiện, vượt qua chính mình để góp phần vào cuộc cách mạng vì phẩm giá con người.

Bà con đã dùng nhiều cách khác nhau để khống chế Sợ Hãi và vượt thắng chính mình. Một câu nói nổi tiếng của cha Lý mà tôi ghi nhớ mãi: “Đừng sợ những gì Cộng Sản làm. Hãy làm những gì Cộng Sản sợ.” Chắc mọi người cùng đồng ý rằng, Cộng Sản cũng như mọi chế độ độc tài khác sợ nhất 3 điều: Sự Thật, Lẽ Phải, và Liên Kết.

Cả ba điều này đều đã thể hiện thật rõ trong đám tang thầy giáo Đinh Đăng Định ngày 7 tháng 4 vừa qua. Ký giả Mặc Lâm đã ví sự kiện này với sức mạnh của “những chiếc đũa khi trở thành một bó”. Dù chỉ nhìn qua ảnh, mỗi chúng ta khó ai ngăn được xúc động.

Tự nhiên tôi muốn thốt lời tạ ơn hồn thiêng sông núi, Đất Trời và các đấng thiêng liêng. Không phải chỉ những người hiện diện trong đám tang tại Dòng Chúa Cứu Thế, mà còn rất nhiều người khác tôi rất muốn bày tỏ lòng biết ơn mà tôi không thể kể hết ra đây. Như gần đây nhất vợ chồng tôi vẫn thường xuyên nhắc nhở đến: người tù xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, chị Du A Lien, kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh, facebooker Lưu Gia Lạc, tiến sĩ Phạm Chí Dũng … Dù các vị này không hề quen biết tôi nhưng cũng đã thực sự giúp vợ chồng tôi gia tăng thêm sức mạnh và vững lòng tin về tương lai của đất nước.

30/4 năm nay quả thực đã mang thêm một ý nghĩa mới, một động lực mới, một bậc thềm mới.

Riêng tôi mong đợi và sẵn sàng cho một vận hội mới.

Có thể đó là bước nhích chân thứ tư chăng.

Bước chân của chạm vai nhau?

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2014/04/27/30-thang-4-toi-nhin-lai-minh/

 

30-4: Nhìn Vượt Qua Một Ước Mơ Tan Vỡ

Nguyệt Quỳnh

Ai về bên kia sông Đuống

Cho ta gởi tấm the đen

Mấy trăm năm thấp thoáng

mộng bình yên

             (Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

Có ai trong chúng ta còn nhớ giấc mộng thanh bình và quê hương sông Đuống của Hoàng Cầm? Gần 40 năm kể từ ngày đất nước thống nhất, ước mơ về một quê hương thanh bình, ấm no, hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay của người dân cả hai miền. Những ngày hội hoa đăng với áo the, guốc mộc và nụ cười như mùa thu toả nắng của cô hàng xén vẫn cứ mãi là giấc mơ của Hoàng Cầm. Thi sĩ mất năm 2010, còn chúng ta sau chiến tranh non nửa thế kỷ vẫn đứng mãi bên bờ sông mà nhớ tiếc!

 

Khi ước mơ tan vỡ, nó phải được nhận biết để khởi đầu cho một hy vọng mới.

Một cuộc chiến với quá nhiều hy sinh để đổi lấy một đất nước nghèo khó, phân hoá, băng hoại về mọi mặt thì phải can đảm nhìn nhận rằng cuộc chiến đó vô nghĩa, tiêu phí xương máu dân tộc. Ngày 30 tháng 4 lại đến, thành phố lại treo đầy cờ hoa để mừng chiến thắng, nhưng có lẽ điều cần thiết phải nhớ là ước vọng của những người đã ngã xuống trong cuộc chiến này. Máu xương của họ không đổ ra cho một ngày hoà bình nhưng lại đầy tiếng rên xiết của dân oan, một đất nước tham nhũng tràn lan, và một tổ quốc đang mất dần từng phần vào tay ngoại bang. Xin nhớ đến họ để những ước vọng, hoài bão của họ được tiếp tục sống nơi chúng ta, và chúng ta sẽ can đảm nhận diện mình để bắt đầu từ một điểm khởi hành mới.

Ông Võ Văn Kiệt đã phát biểu một câu phản ảnh sự hối hận cuối đời: “ngày 30 tháng 4 có triệu người vui, cũng có triệu người buồn”. Trong triệu người buồn, đâu chỉ có riêng người dân miền Nam; có nhà văn Dương Thu Hương ngỡ ngàng ngồi khóc bên lề đường khi thấy phần đất nước Miền Nam văn minh trù phú; có nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đau đớn khi cánh cửa tự do của miền Nam vừa đóng sập tức tưởi. Trong triệu người vui, lại cũng có cả những người Miền Nam – trong nỗi buồn của kẻ thua cuộc, vẫn dấy lên niềm hy vọng cho quê hương: “… Dù sao cũng hết chiến tranh rồi. Chủ nghĩa nào cũng vậy miễn dân mình được sống trong hoà bình để bắt đầu dựng xây lại cuộc đời.”

Cứ mỗi năm khi ngày 30/4 đến, nó lại nhắc chúng ta cái ước mơ cháy bỏng của cả một dân tộc. Ngoài một thiểu số cố tình lợi dụng, cuộc chiến khốc liệt với tất cả những hy sinh của người dân hai miền đều phát xuất từ tấm lòng thiết tha với tiền đồ của tổ quốc. Dù bên nào thắng hay thua thì đều chẳng còn ý nghĩa gì khi mà gần 40 năm sau biến cố 30/4, rõ ràng cả dân tộc Việt Nam đã thua lớn! Ngày 30/4 phải là một mốc điểm để nhìn lại xem chúng ta đã mất những gì ?

Chúng ta đã mất một miền Nam trù phú và phát triển. Chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu năm 1970 đã có lời kêu gọi cả 2 miền hãy ngừng chiến tranh và thi đua phát triển. Giả thử lời kêu gọi đó được đón nhận và thực hiện, có xác suất cao là Nam Việt ngày nay đã vượt trội Nam Hàn. Ngay tại thời điểm 1975, Nam Việt đã hơn hẳn Nam Hàn trong khá nhiều lãnh vực. Cụ thể trong ngành sản xuất, lắp ráp xe hơi thì xe LaDalat của ta đã đi trước Hyundai từ 5 đến 10 năm. Các ngành nuôi gia súc kỹ nghệ, sản xuất trồng cây trái kỹ nghệ, rồi kỹ nghệ dệt, kỹ nghệ hàng tiêu dùng từ giấy viết cho đến kem đánh răng Perlon, bột ngọt Vị Hương Tố, bia 33, v.v … đều đang trên đà phát triển. Về hạ tầng kinh tế ta đã có các hãng xuất nhập cảng tư nhân, các hãng vận chuyển đường bộ và đường biển, rồi các ngân hàng tư nhân bên cạnh các ngân hàng quốc gia, đặc biệt là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp…

Về hệ thống chính trị, pháp luật và các quyền con người đã khá đầy đủ và vận hành đúng nghĩa trong xã hội. Từ các cuộc bầu cử đến tam quyền phân lập, các quyền tự do báo chí, tự do đi lại, tự do lập hội… được tôn trọng. Quyền công dân được quy định rõ ràng, cụ thể như cảnh sát không được quyền giữ dân quá 24 tiếng nếu không tìm được bằng cớ phạm tội, v.v…

Chính quyền miền Nam tin rằng việc cải cách ruộng đất là chiến lược quan trọng để tăng cao sản xuất nông nghiệp. Chính sách Người Cày Có Ruộng được ban hành vào năm 1970, trao quyền sở hữu đất vào tay nông dân, đã giúp cải thiện đáng kể đời sống nông thôn nói riêng, và cả nước nói chung. Về giáo dục, hệ thống giảng dạy và giáo dục miền Nam đã đạt mức hữu hiệu và uy tín đủ để các đại học quốc tế công nhận các bằng cấp tương đương.

Điều đáng nhấn mạnh là tất cả những thành quả trên đã đạt được, dù đất nước đang trong thời chiến tranh gay gắt. Nghĩa là một phần thành quả đáng kể đã bị chiến tranh phá nát. Cụ thể như những cây cầu xây cả năm trời nhưng chỉ dùng được vài tháng đã bị đặc công Miền Bắc đặt mìn phá hủy, …

Từ góc nhìn của cả dân tộc, thật đáng tiếc nuối khi mọi thành quả đầy mồ hôi nước mắt đó đã bị đạp đổ, san bằng hoàn toàn để “xây dựng xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa”. Cho đến nay dù đã gần 40 năm sống trong hòa bình, cả nước vẫn chưa phục hồi lại nổi lãnh vực nào cho bằng với Miền Nam thời 1975, chứ đừng nói gì đến việc bắt kịp thế giới đã tiến ồ ạt suốt từ ấy đến nay.

Nhưng cái mất đớn đau nhất vẫn là những mất mát biển đảo và những phần đất xương thịt của quê hương mà có thể là vĩnh viễn. Bên cạnh đó, cái mất nguy hiểm hơn nữa là sự biến mất gần hết niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm đối với tổ quốc. Mọi người con dân Việt nay được huấn luyện thuần thục để chỉ tập trung lo cho mình và gia đình mình; còn mọi chuyện khác hãy để cho lãnh đạo muốn làm gì thì làm.

Ai cũng biết nguyên nhân của tất cả các mất mát và hiểm họa nêu trên đến từ đâu, nhắc lại cũng bằng thừa. Nhưng chính sự xem là thừa đó lại làm chúng ta quen dần và xem tình trạng hiện nay là “bình thường”. Chúng ta như những người đi lạc, run sợ, thoái thác trước mọi suy tư và quyết định, để mặc cho một nhóm tham quan và những biến cố bên ngoài quyết định chuyện đất nước mình.

Ngày hôm qua chỉ là cái bóng, nhưng nếu không đặt thành vấn đề và tính đến chuyện đổi thay tình trạng hiện nay, liệu năm, mười năm nữa chúng ta còn quyết định được gì không? Nhiều người đã trăn trở với câu hỏi đó và đã chọn lựa. Họ phải sống vì xương máu của các thế hệ cha ông đã đổ ra để gìn giữ đất nước này, họ dấn thân để tương lai các thế hệ Việt Nam không phải sống trên “đất Tàu”. Họ là những Điếu Cày, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Quang A, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Đan Quế, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Xuân Nghĩa, và nhiều nhiều người can đảm khác nữa. Và ngay lúc này giữa thủ đô Hoa Thịnh Đốn là sự lên tiếng của những luật sư Nguyễn Đình Hà, nghệ sĩ Kim Chi, ký giả Ngô Nhật Đăng, blogger Tô Oanh, phóng viên Anthony Lê, blogger Nguyễn Tường Thuỵ, những người đã vượt nhiều trắc trở đến Mỹ để vận động cho quyền tự do báo chí tại Việt Nam.

Khi được hỏi liệu khi trở về nước, gặp khó khăn với nhà cầm quyền thì anh cảm thấy thế nào, người bạn trẻ Nguyễn Đình Hà đã trả lời: “Em không hề lo sợ, nếu lo sợ thì đã không đặt chân đến nước Mỹ. Còn khi về nước thì bất chấp mọi khó khăn, em vẫn quyết vì một VN tốt đẹp hơn

Những ước mơ tươi đẹp đó xứng đáng là những ước vọng của tất cả chúng ta, đặc biệt trong ngày 30/4 năm nay.

Xin hãy tìm tay nhau, cùng can đảm bước tới. Những dân tộc khác đã khởi hành từ lâu.

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2014/04/27/30-4-nhin-vuot-qua-mot-uoc-mo-tan-vo/

Ngày 30 tháng 4 vẩn vơ nhớ lại chuyện bầu cử

 Huỳnh Ngọc Chênh
Tôi biết đến chuyện bầu cử rất sớm. Năm tôi lên chín thì diễn ra cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của Việt Nam. Tôi nhớ dường như có đến ba ông ra tranh cử gồm quốc trưởng Ngô Đình Diệm, ông Hồ Nhựt Tân và một ông nào đó nữa tôi không còn nhớ rõ.

Tôi nhớ ông Hồ Nhựt Tân bởi lẽ khẩu hiệu tranh cử “Nhựt Tân, Nhựt Tân, Hựu Nhựt Tân” của ông đến tận bây giờ vẫn còn in trong óc tôi, dù suốt một thời gian rất dài tôi chẳng hiểu gì đến ý nghĩa của nó.  Hồi đó ba tôi có giải thích cho mọi người nghe về cái “slogan” tiếng Nho đó, tôi có nghe lén được nhưng rồi quên mất.

 
Trưng cầu dân ý năm 1955, truất phế Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên làm quốc trưởng
Hồi nhỏ, vào những năm đầu thập kỉ 60, chẳng có phương tiện vui chơi giải trí gì, cũng chẳng có báo đài để nghe thời sự tin tức. Tôi thường giải trí bằng cách tự cập nhật tin tức thời sự qua những lần nghe lén những cuộc họp chi bộ do ba tôi bí mật tổ chức tại nhà hoặc hóng hớt từ những cuộc đàm đạo của ông với bạn bè trong làng qua những cuộc trà dư tửu hậu. Nhờ thế mà tôi biết được ba tôi đang vận động mọi người bỏ phiếu cho ứng cừ viên Hồ Nhựt Tân. Tôi còn nhớ như in lời hứa của ông Hồ Nhựt Tân, đại khái là sau khi đắt cử, ông sẽ lo cho mỗi gia đình dân nghèo có được một ngôi nhà ngói. Nhiều bạn bè ,đồng chí của ba tôi rất thích thú với lời hứa nầy, vì thời đó cả làng chỉ có vài gia đình giống như nhà tôi có được ngôi nhà tường, lợp ngói, còn lại hầu như là nhà tranh vách đất. Tôi cũng còn nhớ như in những điều ba tôi trao đổi thì thầm riêng với các đồng chí tin cẩn của ông: Hứa hẹn như thế cũng là mị dân thôi, tuy nhiên bầu cho ông Tân là theo chỉ đạo từ trên (?). Tôi thắc mắc cái từ mị dân lắm, nhưng không dám hỏi ba vì sợ lộ ra chuyện mình rình nghe lén cuộc họp bí mật.
Cuộc bầu cử tổng thống thứ hai qua đời tôi cũng là cuộc bầu cử tổng thống thứ hai của Việt Nam Cộng Hòa (hay thứ hai của nước Việt Nam cũng đúng). Lúc đó tôi mới 15 tuổi ,chưa đến tuổi đi bầu nhưng tôi rất quan tâm. Tôi đã có báo đài để theo dõi thời sự một cách chính thức nên hào hứng với cuộc bầu cử nầy lắm. Hồi đó chính phủ VNCH hồn nhiên đến mức cho một liên danh “Việt Cộng nằm vùng” ra tranh cử. Ba tôi bảo đó là liên danh “phe ta” nên tôi tin vậy (sau nầy đọc lại các tài liệu lịch sử thì thấy cũng đúng như vậy). Đó là liên danh của Trương Đình Dzu – Trần Văn Tuyên. Liên danh nầy đã bất ngờ vượt qua các ứng viên nặng ký như Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương… lên đứng hạng nhì sau liên danh đắc cử Nguyễn Văn Thiệu- Nguyễn Cao Kỳ. Logo chim bồ câu hòa bình và sự tác động ngầm của phe Việt Cộng đã giúp cho liên danh nầy kiếm phiếu. Có lẽ đây là cuộc bầu cử dân chủ cuối cùng mà tôi biết được.
 
LS Trương Đình Dzu
Qua năm 1971, cuộc bầu cử nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của nền đệ nhị cộng hòa được tổ chức. Hồi đó chiến tranh bước vào giai đoạn căng thẳng nên chính phủ Nguyễn Văn Thiệu dứt khoát không muốn để lọt chức tổng thống vào tay bất cứ hai. Ông biết sự xáo trộn lúc nầy là đưa đến thua trận nhanh chóng. Quốc hội lúc đó đưa ra quy định ai muốn ra tranh cử phải có đủ một số chữ ký giới thiệu nhất định của các nghị sĩ và dân biểu. Hai ông Dương Văn Minh và Nguyễn Cao Kỳ là hai đối thủ rất nặng ký, bị gạt ra hoặc tự nguyện rút ra để phản đối quy định nầy. Cuộc bầu cử tổng thống lần thứ ba rơi vào thế độc diễn, chỉ có một mình liên danh đương kim tổng thống ra ứng cử. Phe đối lập và sinh viên tranh đấu đứng lên tổ chức các cuộc biểu tình chống độc diễn, tẩy chay bầu cử. Tôi lúc đó vừa đến tuổi đi bầu, nhưng tham gia vào phòng trào chống độc diễn nên cũng tẩy chay đi bầu. Tôi nhớ tôi đã ném thẻ cử tri xuống kênh Nhiêu Lộc đoạn gần chùa Vĩnh Nghiêm ngay sau khi được nhận mà không hiểu rằng đó là lá phiếu cử tri tự do đầu tiên và cuối cùng của đời mình, tính đến ngày hôm nay.

Những ngày đầu sau năm 1975, tôi hy vọng mình sẽ được sống trong đất nước thống nhất, hòa bình, độc lập và dân chủ. Tôi hy vọng sẽ được tham gia vào những cuộc bầu cử dân chủ thực sự với lá phiếu trên tay mình là do mình toàn quyền định đoạt và do vậy mình sẽ góp phần vào việc định đoạt vận mệnh đất nước như bao công dân của các nước dân chủ tiên tiến trên thế giới.

Thế nhưng ngay sau đó thì tôi hiểu được thực chất của cái gọi là dân chủ tập trung của chế độ mới.
Năm 1976, tôi được tham gia bầu cử quốc hội của nước VN thống nhất và hội đồng nhân dân các cấp, nhưng là cuộc bầu cử tập dượt. Trước khi tiến hành chính thức bầu cử, các cơ quan ban ngành địa phương tổ chức cuộc bầu cử tập dượt. Phiếu bầu in một danh sách trên 10 ứng cử viên do đảng chọn lựa được phát đến cho cán bộ công nhân viên và được hướng dẫn gạch bỏ một hoặc hai người không được bầu. Gạch bỏ ai, cũng được gợi ý hướng dẫn trước. Sau khi bỏ phiếu xong, thùng phiếu bầu thử được mang về ủy ban Huyện kiểm tra. Huyện sẽ rút kinh nghiệm, tuyên dương khen thưởng những đơn vị bầu cử thử đạt yêu cầu và phê bình các đơn vị không đạt yêu cầu theo chỉ đạo.
Lúc đó tôi đang dạy học tại trường cấp ba Hòa Vang, cuộc bầu cử tập dượt được tổ chức ngay tại cuộc họp toàn thể gíao viên và công nhân viên, buộc trăm phần trăm phải bỏ phiếu thử nên tôi đã tham gia. Đó là lần đi bầu cử (dù là bầu tập dượt) duy nhất của tôi từ sau năm 1975.
Thế là, từ lúc lớn lên cho đến tận bây giờ tôi chưa được tham dự một cuộc bầu cử nào.
Và không lẽ từ bây giờ đến cuối đời, không có một cuộc bầu cử thực sự dân chủ nào để tôi được tham gia hay sao? Như vậy thì bất hạnh quá, không chỉ cho riêng tôi.
HNC
Advertisements

One response to this post.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: