Vừng ơi, hãy cố lên: “hòa giải, hòa hợp dân tộc” đã thuộc về quá khứ!-Từ chiến tranh du kích đến sân gôn :Sự chuyển đổi của quân đội Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ

Từ chiến tranh du kích đến sân gôn : Sự chuyển đổi của quân đội Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ(ThuyMy.Rfi)

“Đối mặt với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc, Việt Nam ngày nay đang trong một tình trạng có thể so sánh với thời kỳ chiến tranh chống quân đội thực dân Pháp trong thập niên 50, cũng như « David chống lại Goliath » – giáo sư Thayer ví von. Ông khẳng định : « Goliath trấn ở đó, xây dựng các lá chắn và tàu chiến lớn hơn. Nhưng người Việt lại có nhiều khẩu súng cao su tốt ».

           Hạ Đình Nguyên

Chuyện không còn phù hợp với hôm nay!

Có thể gọi một cách không gượng ép rằng, chủ trương “hòa giải, hòa hợp dân tộc” là một “lý tưởng”, bởi lẽ nó chưa tồn tại thật sự như một lực lượng trên thực tế. Lý tưởng này đã xuất hiện cùng với “Lực lượng thứ ba” vài năm trước khi chiến tranh kết thúc. Nó hướng đến Hội đàm Paris để tiến tới Hiệp định chính thức 1973 giữa bốn bên trên danh nghĩa: Bắc Việt Nam – Mỹ – Việt Nam Cộng hòa – Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

“Hòa giải, hòa hợp dân tộc” bao gồm ba yếu tố không vững chắc:

Việt Nam Cộng sản tán thành ý tưởng này là nằm trong sách lược tiến công trên bình diện chính trị rộng lớn, theo phương châm “giành thắng lợi từng bước”, tiến lên thắng lợi hoàn toàn. Một người du kích trong bụi cũng hiểu điều đó, và cũng quyết tâm như thế.

Việt Nam Cộng hòa, có lý tưởng chống Cộng sản. Hiến pháp ghi rõ: Đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Họ không hề tự giác về cái gọi là hòa giải, vì họ cũng biết rõ ý đồ và ý chí của đối phương.

Lực lượng thứ ba, thật ra nó không phải là lực lượng. Nó biểu trưng cho nguyện vọng của đa số nhân dân, muốn chấm dứt chiến tranh, muốn hòa bình và ngưng chết chóc. Họ thấy cuộc chiến này là vô nghĩa, họ chán chê Việt Nam Cộng hòa, họ sợ hãi Việt Nam Cộng sản. Họ chán ghét chiến tranh. Nhạc Trịnh Công Sơn là một tiêu biểu cho tâm tình này. Mặt khác, lực lượng thứ ba, là một đáng tiếc của lịch sử, nó chân chính nhưng là ảo tưởng, nó ra đời trong sự kìm hãm của Việt Nam Cộng hòa, nhưng lại nằm trong sự thúc đẩy và chi phối của Việt Nam Cộng sản.

Những người trong phái thứ ba biết rằng cuộc chiến sẽ kết thúc theo hướng nào, nó tình nguyện làm trái độn, để làm mềm lại cho một sự cọ xát của thịt xương và lửa đạn.

Nhưng sứ mệnh của nó đã kết thúc chóng vánh trong “30 giây” của ngày 30-4. Đó là ngày vui hời hợt của cả dân tộc vì chấm dứt chiến tranh. Đó là ngày vẻ vang nhưng mơ hồ của “bên thắng cuộc”. Đó là ngày đau khổ bão táp và dai dẳng của bên không thắng cuộc. Nhưng đó cũng là ngày tang chế không tên của những tấm lòng thiện nguyện của phái thứ ba. Một lời khiêm tốn “bàn giao” cũng không được chấp nhận, phải thay vào đó là từ “đầu hàng”, tương xứng với tiếng gầm không có đối thủ của chiếc xe tăng đang ở phía trước cổng dinh.

Cụm từ “hòa giải, hòa hợp dân tộc” trở nên trơ trẽn, nó bao gồm nhiều gượng ép và thủ đoạn, có lẽ không cần và không nên nhắc đến nữa.

Vì lẽ gì? Ai hòa giải với ai, và về vấn đề gì?

Đã nói đến hòa giải thì phải nói đến đúng sai, và ít nhất phải có hai chủ thể. Và trọng tài!

Bây giờ thì chỉ còn có một. Bên đối tác, một chủ thể cần có – Việt Nam Cộng hòa – đã không còn nữa như một thực thể pháp lý, tiếng nói hòa giải của phái trung gian cũng đã thật sự đi vào quá khứ.

“Non sông đã quy về một mối”, hiểu theo nghĩa cụ thể, là Đất và Nước, thì quả là một mối, do Đảng Cộng sản Việt Nam nắm giữ đầu dây. Nhưng tâm tư dân tộc ngổn ngang trăm mối lại còn đó.

Lại nói đến chuyện đúng sai của cuộc chiến, thì càng bới ra, càng nát, càng khó cho mục tiêu “hòa hợp dân tộc”, mà ngược lại, khơi thêm hận thù, làm rối thế hệ sinh sau, lại tạo nên tiếng reo vui như “mở cờ trong bụng” của bọn bành trướng phương Bắc.

Nói nôm na theo triết lý mơ hồ của phương Đông: Trong âm có dương, trong dương có âm. Đúng sai đều có, chúng trộn lẫn vào nhau. Cứ cho rằng hai phe đều yêu nước, vì non sông gấm vóc này, thì lịch sử đã tỏ rõ chia hai dòng, khởi đi từ thời cuối Triều Nguyễn.

Vì Độc lập Tự do, mà một bộ phận quyết sống chết, dắt tay nhau lên rừng, theo “Chủ nghĩa Xã hội”, và bị khống chế bởi Tàu (Bắc Việt Nam).

Vì Độc lập Tự do, mà dắt nhau ra biển, theo “Chủ nghĩa Tư bản”, lại bị khống chế bởi Mỹ (Nam Việt Nam).

Bởi sự yếu kém của chính người Việt Nam, những tinh hoa dân tộc đã không vượt lên để thoát được cuộc tương tranh ý thức hệ, như một số quốc gia khác ở Đông Nam Á không bị rơi vào thảm kịch này. Ý nghĩ trên đây không phải là loại tư tưởng “chiết trung” hoặc theo thói “bàn tay sạch”, mà là tư liệu lịch sử nội bộ của mỗi bên được phơi bày. Nhưng phải thừa nhận một cách công bằng, có những cái chết anh hùng, từ cả hai phía, vì lý tưởng chiến đấu của phía mình. Có những cái chết đến từ sau lưng, vì muốn thoát sức ép của ngoại bang, cả Bắc và Nam cũng giống nhau.

Đã không nên bới ra cho những cuộc ném đá thô lậu, vô bổ thì cần “đắp chiếu” lại. Cần gì phải vội vàng khơi dậy đống tro tàn? Nói như các nhà nghiên cứu lịch sử, hãy trả những biến cố lịch sử về cho bối cảnh lịch sử của nó. Hãy để dành nó trong các thư viện, cho các nhà nghiên cứu lịch sử có phẩm chất của hiện tại và tương lai có việc làm. Ngoại trừ những con người trong sáng đi theo, người cơ hội ăn theo, lịch sử sẽ nhặt ra những viên kim cương của tinh thần Việt, để cung cấp cho thế hệ sau cái nhìn công bằng và những bài học đáng giá.

Sự tiến hóa/văn minh sẽ thay cho cách nhìn “hòa giải, hòa hợp” đã bị vượt qua

Chín mươi triệu đồng bào trong nước, bốn hay năm triệu kiều bào ở nước ngoài, có mâu thuẫn gì với nhau không, về ý thức hệ? Dĩ nhiên trong đó sẽ có một số ít người, thậm chí là rất ít, còn yêu mến Chủ nghĩa Cộng sản/ Chủ nghĩa Xã hội, và người hăng say chống Cộng sản. Trong nước có thể kể tượng trưng là ông Nguyễn Phú Trọng (không biết đúng không?), ngoài nước là các ông Chủ tịch các tổ chức gì đó. Với đại đa số trong nhân dân thì khác. Ở các quán nhậu ở Sài Gòn – hằng ngàn quán nhậu đều đông khách và chen chúc như trong các xưởng may – tuyệt nhiên không khám phá ra một điều gì liên quan đến mâu thuẫn của các loại chủ nghĩa! Về bộ môn “Mác-Lê” tôi thăm hỏi sinh viên, họ đều lắc đầu tỏ ý không quan tâm, dù họ được nhồi nhét một cách cần cù khi còn ở cấp tiểu học và trung học. Điều này hơi làm phiền lòng “người yêu mến” (nếu thực sự yêu mến), và lại đỡ lo âu cho “người hăng say” (nếu thực sự là hăng say). Trong các gia đình dân chúng, không thấy phân chia giai cấp, không có mâu thuẫn địch ta, không có chuyện ý thức hệ. Trên đồng ruộng người nông dân dầm mưa dãi nắng và chịu đựng trước sự bóc lột của con buôn độc quyền, và bọn con buôn lừa đảo Trung Quốc. Trong các hãng xưởng sản xuất, thanh niên kiệt sức dần và đang chết trẻ. Trong giới quan chức thì quyết liệt mua bán ghế ngồi, phây phây hãnh tiến. Hình như vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc thì nhân dân đã tự tiện giải quyết.

Nhưng toàn cảnh đất nước có quá nhiều sự kiện và sự cố, trong mọi mối liên quan đến Nhà nước. Không ai có thể hài lòng, nếu không dùng những từ ngữ tiêu cực như: bất mãn, căm ghét, coi thường (tức là không thể kính trọng). Tất cả sự đổ đốn diễn ra hằng ngày không phải là con đẻ,chính phẩm được xuất xưởng từ bộ máy cai trị này, thì là của ai? Người ta hồ đồ đổ cho “thế lực thù địch” núp ở đâu đấy. “Non sông đã thu về một mối”, thì còn ai vào đây?

Dân chủ, dân sinh, dân trí đều đang ở thế đối lập với “thể chế” hiện tại, được gọi tên là Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lập ra và điều khiển. Tình thế đối lập này được minh chứng hằng ngày bởi chính bộ máy cầm quyền: Đàn áp nông dân bằng bạo lực để lấy đất của họ. Thuế khóa khắc nghiệt và tham nhũng làm phá sản và kiệt quệ nền kinh tế quốc dân. Tòa án và công an luôn trấn áp những người có tiếng nói đòi dân chủ, đàn áp một cách ấu trĩ, thô lậu về tư tưởng, cả trong học thuật. Đối với bành trướng phương Bắc thì trải thảm cho chúng vào những nơi trù mật, hiểm yếu. Bên trong, chúng lũng đoạn tài chánh thông qua công trình, dự án…

“Hòa giải” đã thuộc về quá khứ, và quan trọng hơn là không có nền tảng để thực hiện.

Hòa hợp dân tộc

“Hòa hợp dân tộc” còn có thể cứu xét trên một nội dung mới, giữa nhân dân và thể chế, rộng lớn và căn cơ hơn giữa hai phe “thuần Cộng” và “chống Cộng”.

– Một bên là thể chế xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản lập nên và lãnh đạo, đặt cương lĩnh của Đảng mình cao hơn Hiến pháp của toàn dân, cai quản toàn diện xã hội, bằng công cụ cai trị bạo lực, gọi là “Chuyên chính vô sản” (nhưng tất cả người trong bộ máy đều “hữu sản” và “đại hữu sản”), đề cao tầng lớp lao động một cách không trung thực, bao gồm công nhân và nông dân. Về nền tảng triết lý là chủ nghĩa duy vật, lấy vật chất làm nền tảng, và vô thần. Trong bộ máy Đảng và Nhà nước đều có bộ phận chuyên theo dõi, quản lý và chỉ dạy sự suy nghĩ của nhân dân theo ý mình. Tổ chức quái gở này không có trên thế giới, trừ những nước “anh em”. Vì thế, tên gọi đúng thực thế là thể chế “toàn trị”, và vì cùng loại thể chế nên thân thiết với Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, dù Trung Quốc là kẻ xâm lược, đang chiếm đóng một phần lãnh thổ, và đang là mối đe dọa nghiêm trọng nền độc lập của Việt Nam.

– Một bên là nhân dân Việt Nam, có 90 triệu người và 4-5 triệu Việt kiều, có 80% theo các tôn giáo và tôn trọng đời sống tâm linh. Dân tộc Việt Nam thiết tha với độc lập, tự do và dân chủ. Việt Nam có tố chất của tinh thần độc lập (từng trải qua hàng ngàn năm chống ngoại xâm), có tố chất về dân chủ và tinh thần cộng đồng (cơ cấu tổ chức làng xã thời phong kiến chứng minh điều này) là những điều kiện thuận lợi hơn hẳn nếu so sánh với Trung Quốc, để xây dựng một xã hội văn minh. Dân tộc Việt Nam có tư tưởng cởi mở, dễ tiếp cận với thời đại, có tinh thần học hỏi và thông minh, nhưng lịch sử từng lúc bị nghẽn dòng khi lâm vào thời thế khó khăn, gặp phải lúc kẻ cầm đầu u tối, mặc cảm nhược tiểu, thì không thoát khỏi nghịch cảnh, và dân tộc bị trầm luân.

Cùng một thời đại và cùng hoàn cảnh, nước Nhật đã vươn lên hùng mạnh nhờ tư duy “Thoát Á Luận” của Fukuzawa (thoát ảnh hưởng của Trung Quốc), thì triều Nguyễn vẫn bám đuôi theo một Trung Quốc suy tàn và lạc hậu. Khi phong trào Cộng sản quốc tế tan vỡ, và lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản đã phá sản, thì Việt Nam dắt díu nhau qua Thành Đô (Trung Quốc) xin núp bóng làm đàn em, mong “phục hồi’ chủ nghĩa xã hội. Đáng thương hơn nữa, một kẻ kế thừa ngu ngơ, mang theo đệ tử đến tận Cuba toan giương cờ khởi nghĩa, với tầm quốc tế về một thứ chủ nghĩa quốc tế…

Bây giờ thì Việt Nam, nằm trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đang mang thể chế toàn trị xã hội chủ nghĩa – và chừng mực nào đó trong quỹ đạo “đại cục” của bọn Hán tộc.

Hai vấn đề lớn, một chọn lựa

– Việt Nam đang lạc hậu với thời đại về mọi phương diện. Lạc hậu nhất, cũng đồng thời là chướng ngại lớn nhất cho sự phát triển, là thể chế chính trị hiện hành.

– Thể chế chính trị đang đối kháng lại nhân dân.

Nhưng nhân dân là một thực thể rộng lớn, gấp nhiều lần so với nhóm người cai trị, nó tồn tại lâu dài với bản sắc dân tộc, và không dễ gì chuyển đổi theo ai. Tư tưởng của Chủ nghĩa Cộng sản (hay Chủ nghĩa Xã hội), chỉ là trào lưu của một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi đã xuất hiện và cũng đã chóng vánh rời đấu trường. Nó chỉ là một con sóng lăn tăn góp phần vào kho tư duy của nhân loại. Nhờ vào một bối cảnh đặc biệt của Việt Nam, chủ nghĩa ấy đi vào niềm tin của vài thế hệ, nhưng chưa trọn một đời người thì đã bật gốc. Những con người từng tin tưởng, đã từng bước hồi tưởng và tư duy lại. Dù 100 năm cũng không thể “trồng” được người. Làm sao mà một dân tộc có thể uốn mình tuân theo một sự thay đổi máy móc như thế? Còn cái “đại cục’ của Hán tộc cũng chẳng có gì ghê gớm! Trong thâm tâm người Việt chưa từng nể phục, hay khuất phục họ, ngoài cái nghệ thuật xử lý tình huống.

Chỉ còn một cách ngược lại, Đảng Cộng sản Việt Nam cần gỡ bỏ các thứ hóa trang, cấp tốc chuyển đổi từ toàn trị sang dân chủ, đặt Hiến pháp lên cương vị tối cao, mạnh mẽ cải cách các chính sách nhằm đem lợi ích cho toàn dân – thay vì lợi ích cá nhân và phe nhóm –, đem lại công bằng cho xã hội, mở rộng thời cơ cho dân trí phát triển, loại trừ sâu mọt, xây dựng nhà nước pháp quyền, kích hoạt – thay vì kìm chế – tinh thần tự chủ dân tộc, hợp lực cùng nhân dân tạo nên sức mạnh để chấn hưng đất nước. Thực hiện cùng lúc: Thoát Trung, giải Cộng = Giải Cộng, thoát Trung (không phải “chống” Trung, “chống” Cộng).

Gần 100 triệu người Việt Nam, bất kể ở rừng rậm hay ở biển khơi, ở các thủ đô tráng lệ, hay vùng xa hẻo lánh, cứ bình tĩnh bằng từng lời nói, từng hành động đi theo hướng này, ắt sẽ có một Việt Nam tử tế và tốt đẹp.

Trách nhiệm lịch sử đang nằm trên vai của những truyền nhân kế thừa sự nghiệp hôm nay. Chính là những người đang lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ cấp tỉnh, thành, đến trung ương, gồm thế hệ sắp đứng lên rời ghế và thế hệ kế thừa sắp ngồi xuống ghế, phải nhanh chóng thực hiện những thay đổi phù hợp với yêu cầu của nhân dân, phù hợp với sự tiến hóa của thời đại. Các anh đã không có quá khứ để ăn theo, không thể mượn hào quang trong chiến tranh để che lấp những sai lầm và yếu kém, cái uy lực ảo không còn nữa, vì nhân dân có tầm hiểu biết mới. Không thể làm ngơ trước đòi hỏi của nhân dân, không thể “kiên định” trên những ảo ảnh, không thể “cố thủ” trên cái chức vụ rất bấp bênh của mình, không thể tin vào vai trò bạo lực có thể gìn giữ an toàn mọi thứ cho mình.

Tất cả yêu cầu của lịch sử là chuyển đổi theo thời đại.

Vì độc lập và tương lai, hãy gác lại quá khứ, lấy đoàn kết làm phương châm, cùng đấu tranh cho sự chuyển hóa, xây dựng một thể chế dân chủ và tiến bộ. Các thế hệ dính dáng đến chiến tranh, dù hy sinh, đau khổ, mất mát đến đâu, ở bên này hay bên kia, đã đến lượt cái tốp cuối cùng cũng đang trên đà thoi thóp ra đi, chẳng nên để lại lòng thù hận hay tiếc nuối, gây nhiễu cho thế hệ sau.

Vấn đề lớn của của thời đại ngày nay không còn là vấn đề của chủ thuyết nào, lý tưởng nào, mà là vấn đề của Nhân Cách, vấn đề của Văn minh. Vấn đề không phải ở chỗ ngưỡng mộ một nhân cách, mà ở chỗ nhân cách ấy được ngưỡng mộ như thế nào. Người ta không ngưỡng mộ một Putin như một vị Đại đế đem lại lợi ích theo cách không lương thiện cho nước Nga, nhưng người ta ngưỡng mộ một Mandela đem lại một hình ảnh nhẹ nhàng và trong sáng cho nhân loại, động viên một hướng đi lên cao cả. Hành vi từ chức vừa qua của Thủ tướng Hàn Quốc vì chiếc phà chìm, đã nói lên giá trị về tinh thần trách nhiệm với cộng đồng xã hội! Nó không chỉ biểu thị một cá nhân, mà là nhân cách của nhiều cá nhân trong một guồng máy. Một guồng máy như thế nào, để có những con người như thế kia! Một xã hội được lãnh đạo như thế nào, để có một guồng máy như thế nọ! Sự quyên sinh vô cùng xúc động và đáng kính trọng của ông Hiệu phó, người đề xuất và cùng đi chuyến dã ngoại, đã sống sót sau cái chết oan uổng của hàng trăm học sinh của mình. Ông đã không cho phép mình tiếp tục sống với nỗi thương tâm day dứt, vượt lên trên tinh thần trách nhiệm về mặt luật pháp. Ông đã quyên sinh, sau khi được sống sót qua tai nạn. Nó tác động trực tiếp vào trái tim của bao thế hệ trẻ. Nó là giáo dục, chứ không đen tối lầm than như 34.000 tỉ cho sách giáo khoa rất đáng tởm.

Họ đã vượt qua rất xa cái thời rao giảng và bốc phét giả dối.

Các sự cố trên có làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam xúc động? Có ảnh hưởng gì không? Có so sánh và nghĩ ngợi gì không? Cái được xưng tụng là quang vinh, lại cách xa một trời một vực với cái tỏa sáng từ một sự thật không cần trống kèn.

Thật đáng tiếc về một nước Nga vĩ đại và Xã hội chủ nghĩa cao vời, trong thời chiến tranh biết bao anh hùng, nhưng trong thời hòa bình và xây dựng, lại thiếu bóng người anh hùng về nhân cách! Putin đã không phải là người mà thế giới chờ đợi, mà đã là một hình ảnh thất vọng. Trung Quốc thì sao? Càng là không. Một dòng máu của loài quỷ, truyền từ Mao đến Đặng, Hồ, Tập… Họ tắm trong bầu văn hóa máu “xã hội chủ nghĩa”.

Thế mà họ đã từng được ôm hôn thân thiết bởi những lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thế hệ hôm nay hãy đứng lùi lại và giữ khoảng cách, với tư cách của một quốc gia với một quốc gia.

Khủng hoảng đến khốn cùng về mặt lý thuyết, vì bảo thủ nên chống đỡ thụ động và quờ quạng, GS Đỗ Quang Hưng, thuộc “Hội đồng lý luận Trung ương”, đã “thông báo”một sáng chế từ ngữ mới không giống ai. Thay vì gọi, như loài người đang gọi, “Xã hội Công dân”, “Xã hội Dân sự” với nội hàm rất minh bạch, thì gọi “Xã hội Nhân dân”, cũng giống như gọi: đất đai là sở hữu của “toàn dân”. Nhân dân = toàn dân là những từ ngữ được sử dụng một cách bịp bợm. Sự đánh cướp trước hết, bằng từ ngữ. Cướp đất bằng chữ “toàn dân”, nay toan cướp dân chủ bằng chữ nhân dân. “Xã hội nhân dân”, Trời ạ, chỉ có Quỷ Thần mới biết nó ra sao!

Không thể đối phó với nhân dân, chống chế với thời đại, bằng hàng loạt những trò tiểu xảo như đang diễn ra. Biện pháp thế nào, là nhân cách thế ấy. Làm sao mà tồn tại được!

Vừng ơi, hãy tiếp tục và cố lên!

 

2/5/14

H. Đ. N.

Tác giả gửi BVN.

http://www.boxitvn.net/bai/25808

Từ chiến tranh du kích đến sân gôn : Sự chuyển đổi của quân đội Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ

Bài đăng : Thứ bảy 03 Tháng Năm 2014 – Sửa đổi lần cuối Thứ bảy 03 Tháng Năm 2014
Từ hoạt động du kích với những tình nguyện quân trang bị vũ khí thủ công, đến việc quản lý các tập đoàn viễn thông hay sân gôn, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nay trở thành sức mạnh to lớn trong nền kinh tế của đất nước cộng sản, đã thay đổi hẳn bộ mặt 60 năm sau chiến thắng trước Pháp tại Điện Biên Phủ.

Thiếu tướng Vũ Quang Đạo, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam nhớ lại : « Chúng tôi hồi đó chẳng có gì cả : súng ống và chất nổ tự tạo, và những quả mìn chống tăng thô sơ cho đến nỗi nhiều khi sát hại ngay chính người lính đánh mìn ». Chiến thắng Điện Biên Phủ « là một chiến thắng của sự ngoan cường » – ông giải thích với hãng tin Pháp AFP như trên, vào thời điểm chỉ vài ngày nữa là đến dịp kỷ niệm thất bại nổi tiếng của quân đội Pháp trước các chiến binh Việt Minh, ngày 07/05/1954.

Việt Nam ngày nay là một trong những quốc gia Đông Nam Á dành nhiều tiền bạc nhất để phát triển quân đội của mình, chủ yếu là do cuộc xung đột lãnh thổ với Bắc Kinh tại Biển Đông.

Jon Grevatt, chuyên gia về kỹ nghệ quốc phòng tại châu Á-Thái Bình Dương của cơ quan phân tích IHS Jane’s bình luận : « Việc mua các hệ thống thiết bị quân sự hiện đại của Việt Nam tăng lên với mức độ chóng mặt. Vấn đề là phải đảm bảo an ninh lãnh thổ và các lợi ích trên Biển Đông, nhất là các mỏ dầu khí ngoài khơi ».

Khi mua các thiết bị quân sự như thế, chủ yếu là của Nga, và qua việc nhân lên các quan hệ hợp tác chiến lược từ Đức cho đến Hàn Quốc, quân đội Việt Nam đang « chuyên nghiệp hóa », theo ông Grevatt. Theo ước tính của IHS Jane’s, ngân sách quốc phòng dành cho việc mua thiết bị lên đến trên 910 triệu euro trong năm 2014. Nhưng do thiếu minh bạch trong lãnh vực này, số tiền trên còn có thể cao hơn.

Trong ba mươi năm sau này, quân đội Việt Nam còn đầu tư vào kinh doanh, với một hệ thống doanh nghiệp có sức nặng đáng kể.

Quân đội luôn là « một lực lượng chính trị chủ yếu ở Việt Nam », nhưng với các cải cách kinh tế đưa ra vào cuối thập niên 80, « giới quân nhân bắt đầu đóng một vai trò tích cực trong nền kinh tế thị trường » – giáo sư Jonathan London thuộc trường City University của Hồng Kông khẳng định. Ông giải thích : « Bản thân quân đội cũng như các quân nhân cũng đã có thể hưởng lợi từ việc được ưu tiên cấp đất, cấp vốn », bên cạnh vị trí ưu đãi để thắng thầu ».

Quân đội cũng sở hữu nhiều khách sạn, sân gôn, các kênh truyền hình, báo chí, và ngay cả một công ty viễn thông hàng đầu là Viettel hiện đã vươn tay ra đến nước ngoài, từ Cam Bốt láng giềng đến Haiti.

Theo với những thập kỷ chiến đấu ở Việt Nam, các quân nhân có được những khu đất rộng rãi, mà cách sử dụng gây nhiều tranh cãi. Việc xây dựng một sân gôn trên đất quân sự gần sân bay Tân Sơn Nhất ở Saigon cũng bị phản đối. Huỳnh Đăng, một cư dân chỉ trích trên tờ Thanh Niên : « Sân gôn này xây lên để phục vụ cho các đại gia và quan chức tham nhũng hay chăng? Các công dân bình thường không thể nào có điều kiện chơi gôn ».

Đa dạng hóa nền kinh tế mang lại cho quân đội hàng trăm triệu đô la mỗi năm, theo ông Carl Thayer, thuộc trường đại học New South Wales của Úc. Và các doanh nghiệp quân đội thu dụng nhiều cựu binh và thân nhân bộ đội, là một lực lượng vận động hậu trường rất mạnh, trong đất nước độc đảng mà ảnh hưởng của quân đội vẫn rất lớn.

Cho dù việc mua thiết bị tăng lên, tầm vóc quân đội lại thu nhỏ bớt, từ 1,2 triệu quân vào cuối thập niên 80 xuống còn dưới 600.000 quân hiện nay, trong một đất nước có 90 triệu dân. Giáo sư Thayer nhấn mạnh, tuy vậy còn phải tính thêm 5 triệu quân dự bị.

Đối mặt với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc, Việt Nam ngày nay đang trong một tình trạng có thể so sánh với thời kỳ chiến tranh chống quân đội thực dân Pháp trong thập niên 50, cũng như « David chống lại Goliath » – giáo sư Thayer ví von. Ông khẳng định : « Goliath trấn ở đó, xây dựng các lá chắn và tàu chiến lớn hơn. Nhưng người Việt lại có nhiều khẩu súng cao su tốt ».

http://thuymyrfi.blogspot.com/2014/05/tu-chien-tranh-du-kich-en-san-gon-su.html

Bùi Chí Vinh – Nhớ những cái phông-tên nước Sài Gòn ngày chưa giải phóng

Bùi Chí Vinh

(Hàng năm cứ vào ngày nghỉ lễ 30-4 là Sài Gòn lại đổ mưa sùi sụt. Có người nói do trời khóc thương cho dân nghèo miền Nam bị đày đọa hết chế độ này đến chế độ khác nhưng tôi thì nghĩ ngược lại. Tôi nghĩ ông trời thấy dân miền Nam khát nước nên đổ mưa xuống thay cho những cái phông-tên nước trước 30-4-1975 đã bị hủy diệt trước làn sóng văn minh đô thị thực dụng và tha hóa)

Sau 39 năm giải phóng miền Nam
Tự nhiên thèm những cái phông-tên nước ở Sài Gòn ghê gớm
Những cái phông-tên cứu người giữa trưa nắng gắt
Nước sạch trong không ô nhiễm bụi trần
Ai cũng được uống nước tự do và ai cũng có phần
Không phân biệt ranh giới màu da, địa phương, quốc tịch
Uống không cần xếp hàng, uống hả hê sở thích
Nếu cần tắm luôn cho mát cuộc đời phàm
Những cái phông-tên nước của miền Nam ra đời không cần nghị quyết, chủ trương
Không cần Đảng ban ơn, không cần thông qua Quốc hội
Những cái phông –tên nước tự do được quyền lên tiếng nói:
Chúng tôi mọc lên khắp xó chợ, đầu đường
Chúng tôi sừng sững giữa ngã tư, kiêu hãnh giữa tình thương
Chúng tôi cung cấp nước cho những người say nắng
Chúng tôi khước từ nước sâm Bắc Kinh, chê Cocacola hảo hạng
Nước của chúng tôi là nước của Sài Gòn
Nước nuôi sống dân nghèo thuở Nam Bắc phân tranh
Và chỉ bị ô nhiễm sau 39 năm giải phóng

Ôi nhớ quá những cái phông-tên nước ngày xưa làm nên sự sống
Bị bốc hơi giữa thời đại săn người
Thời đại của tiền, vàng và giả dối lên ngôi
Nhưng nước để uống miễn phí đã trở thành cổ tích
Không có nước thì làm sao các sử gia viết hịch
Đại Cáo Bình Ngô giờ biến mất tiêu rồi
Đã tiêu tùng như những phông-tên nước của tôi !
3-5-2014
BCV

https://www.danluan.org/tin-tuc/20140503/bui-chi-vinh-nho-nhung-cai-phong-ten-nuoc-sai-gon-ngay-chua-giai-phong

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: