Đại cục của Trung Quốc và lựa chọn của Việt Nam. “TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI” CỦA TRUNG QUỐC

“TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI” CỦA TRUNG QUỐC

Tô Văn Trường

Đại cục của Trung Quốc và lựa chọn của Việt Nam

Bình Lê

 Theo Trần Trọng Kim, triết lý của người Trung Quốc là dùng trực giác để nắm bắt tinh thần, rồi từ đó đúc kết các ý tứ vào mấy câu vắn tắt để làm cốt. Chính vì vậy, nếu chỉ đọc văn từ thì không nắm được hết ý. Điều này khác với logic của phương Tây, đó là lời và ý theo sát nhau, phân minh rõ ràng. Nếu không hiểu sự khác biệt này, chúng ta dễ dàng sa vào phân tích văn bản của người Trung Quốc, dẫn đến đoán ý sai, không nắm được tinh thần của sự việc.

Nói cách khác, để hiểu thâm ý của người Trung Quốc, cần phải hiểu cái tinh thần toàn thể. Vượt qua sự tập trung vào các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, để dùng trực giác minh mẫn nhìn cái tinh thần xuyên suốt của họ. Tuy nhiên, việc dùng trực giác để mà nắm bắt thì vô cùng khó khăn vì nhiều lý do khác nhau. Thứ nhất là người đó tâm phải sáng, nghĩa là phải không bị tư dục làm cho trực giác bị mờ. Thứ hai là trong bối cảnh đơn giản và tĩnh thì trực giác phát huy tác dụng, chứ trong không gian động thì rất khó. Thứ ba nếu đối phương cố tình gây hỏa mù thì việc dùng trực giác thường bị gây cản trở. Đây chính là lý do tại sao người phương Tây và người Việt Nam rất khó định đoán được cái tâm và mưu lược của người Trung Quốc. Triết lý này đơn giản nhưng vô cùng quan trọng để giúp chúng ta hiểu đại cục của người Trung Quốc, phân biệt được đâu là “lợi ích cốt lõi”, đâu là chiến thuật “dương đông kích tây” và đâu là “hoạt động tung hỏa mù” của họ.
Về đại cục, Trung Quốc chắc chắn muốn trở thành bá chủ không những ở châu Á mà trên toàn thế giới. Ngoài việc gây dựng nội lực như kinh tế, quân sự và một tinh thần đại Hán cho dân chúng, chính quyền Trung Quốc đang tạo dựng một thế địa chính trị để thực hiện đại âm mưu này.
Dễ dàng thấy Trung Quốc không có ý định mở rộng về phía Bắc và phía Tây vì họ đã bị chặn bởi Nga và Ấn Độ. Hơn nữa, vùng này là đất liền, phức tạp không có nhiều lợi ích cho việc xâm lấn. Ngược lại, biển và đại dương ở phía Nam và Đông đóng vai trò như cánh cửa cho Trung Quốc kiểm soát thế giới. Chính vì vậy để đạt được giấc mộng bá quyền chắc chắn Trung Quốc cần kiểm soát Biển Đông và Biển Hoa Đông. Đạt được điều này Trung Quốc có thể đi ra đại dương và kiểm soát Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc dễ dàng hơn.
Hiện tại, việc chiếm Đài Loan là chưa khả thi vì Đài Loan là đồng minh của Mỹ và thực lực của Đài Loan cũng rất mạnh. Nhật và Hàn Quốc cũng là đồng minh của Mỹ, và cũng là hai quốc gia mạnh. Chính vì vậy, Philippines và Việt Nam trở thành mục tiêu đầu tiên của Trung Quốc. Trong hai quốc gia này, Việt Nam là điểm xung yếu nhất, một phần vì vị trí chiến lược của Việt Nam, một phần vì Việt Nam là quốc gia không có hiệp ước quân sự với quốc gia khác. Đây chính là bước khởi đầu Trung Quốc chọn cho chiến lược lâu dài của họ – kiểm soát biển Đông!
Có hai cách Trung Quốc có thể kiểm soát Biển Đông của Việt Nam. Một là biến Việt Nam thành đồng minh quân sự “môi hở răng lạnh”. Có nghĩa Trung Quốc xử dụng Việt Nam như căn cứ để kiểm soát Biển Đông và con đường hàng hải huyết mạch, từ đó tăng cơ hội uy hiếp và kiểm soát Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, cách Trung Quốc chọn xây dựng quan hệ với Việt Nam không dựa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi mà muốn Việt Nam bị lệ thuộc về kinh tế, chính trị, an ninh và văn hóa để phải phục tùng Trung Quốc. Trong những năm qua, Trung Quốc không đạt được điều này vì Việt Nam vẫn cố cân bằng quan hệ, đa dạng đầu tư và ngoại giao, từ chối giao các căn cứ hải quân cho Trung Quốc, chính vì vậy họ quyết định xử dụng cách thứ hai: dùng bạo lực để chiếm biển Đông.
Rõ ràng, chiếm Biển Đông là đại cục của Trung Quốc. Họ sẽ dùng mọi cách để chiếm dễ dàng và tốn ít chi phí nhất. Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào phản ứng của Việt Nam và cộng đồng quốc tế.
Việt Nam cần nhận thức rõ điều này để xác lập đại cục của mình. Nếu đại cục của Việt Nam là “quan hệ hữu nghị với Trung Quốc” thì dần dần phải hy sinh Biển Đông, hy sinh chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ/hải, và thậm chí độc lập và tự do có được từ ngàn năm xương máu cha ông để lại. Nếu đại cục của Việt Nam là “chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” thì chắc chắn Việt Nam sẽ phải đối đầu với Trung Quốc vì Trung Quốc cần có Biển Đông để đạt được đại cục của họ. Khi đó, cuộc chiến không chỉ xảy ra trên biển, mà trên cả mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa và ngoại giao.
Liệu có con đường nào khác cho cả Việt Nam và Trung Quốc thoát thế kẹt này?
Rõ ràng, Việt Nam cần phải có một đại cục rõ ràng cho mình và công khai cho người dân cũng như cộng đồng quốc tế biết. Một quốc gia không thể đoàn kết sức mạnh nếu người dân không biết đại cục mà lãnh đạo nhà nước đang theo đuổi là gì. Một quốc gia không thể trở thành “bạn bè của tất cả các nước” nếu không minh bạch và rõ ràng về đường lối ngoại giao. Chính vì vậy, đại cục của Việt Nam cần được công khai càng sớm càng tốt.
Với lịch sử chống ngoại xâm và giá trị dân tộc đề cao độc lập và tự do, rất khó cho Việt Nam hy sinh toàn bộ để theo đuổi “16 chữ vàng và 4 tốt” mà Trung Quốc luôn rao giảng nhưng lại vi phạm trên thực tế. Điều này cũng đã được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở Philippines “không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông”. Quan trọng, Việt Nam cần tạo ra đồng thuận cũng như chuẩn bị tâm thể cho đại cục này càng nhanh càng tốt.
Để tạo thế cho mình, Việt Nam cần vạch rõ âm mưu của Trung Quốc để các nước khác biết việc chiếm biển Đông của Việt Nam chỉ là bước đầu trong đại cục của Trung Quốc, và sau Việt Nam chắc chắn sẽ là Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Việc thay đổi cục diện ở biển Đông không chỉ đơn giản là tranh chấp giữa hai nước, mà là sự gạt bỏ toàn bộ hệ thống pháp luật quốc tế được vận hành bởi Liên hợp quốc, Mỹ, Châu Âu, Úc cũng như các nước khác. Nói cách khác, Liên hợp quốc và các nước phải hiểu và ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc. Ngược lại, Việt Nam cần chứng tỏ mình là một phần của cộng đồng quốc tế, luôn tuân thủ và bảo vệ Luật pháp quốc tế.
Khi Việt Nam ở trong thế chân kiềng với các nước khác, Trung Quốc hiểu cái giá họ phải trả không chỉ nằm gọn trong cuộc chiến với Việt Nam, mà với cả các nước trong khu vực cũng như cộng đồng quốc tế. Đây chính là sự răn đe tốt nhất cho Trung Quốc để họ từ bỏ ý định độc chiếm tài nguyên hàng hải và hàng không cho riêng mình, tuân theo pháp luật quốc tế và trả lại nguyên trạng Biển Đông cho Việt Nam.
Chính vì vậy, Việt Nam phải làm rõ đại cục và mục đích của mình với nhân dân và cộng đồng quốc tế. Sự kéo dài hay chần chừ chỉ có lợi cho Trung Quốc.

 

“TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI” CỦA TRUNG QUỐC

Tô Văn Trường

Đọc Tam Quốc Chí, trong lịch sử trận đồ bát quái do Khổng Minh sáng tạo ra chỉ có hai người có thể phá nổi. Người thứ nhất là Hoàng Thừa Ngạn (bố vợ Khổng Minh) và người thứ hai là Khương Duy (học trò và là người kế tục sự nghiệp của Khổng Minh ). Tướng Ngô là Lục Tốn nếu không có Hoàng Thừa Ngạn chỉ đường chắc chắn sẽ chết tại trận đồ Bát Quái này của Khổng Minh.

Từ lâu, các thế hệ cầm quyền bành trướng Trung Hoa đã bày trận Bát quái này với người “đồng chí” Việt Nam. Ai sẽ là người Việt Nam có đủ tài năng, trí tuệ và bản lãnh phá trận này đây?

Người ta, thường vẫn hay dùng hình ảnh của tảng băng nổi trên mặt biển để nói về phần NỔI (ý là phần lộ diện: nhỏ) và phần CHÌM (ý là phần tiềm tàng: lớn) – đó là theo lý thông thường, nhưng ở ta thì cái tảng băng (cũng hình chóp) đó lại lộn ngược lềnh bềnh nên rất khó đảo lại nhưng lại rất dễ tan, mau tan chảy! Cái hệ thống “lộn tùng phèo” này có vô số thứ để bàn theo kiểu “hội đồng chuột” (bàn cách treo chuông vào cổ mèo) nếu chưa đảo ngược lại được!

Trong phạm vi bài viết này, chúng ta cùng nhau điểm lại việc Trung Quốc dã tâm tấn công một cách có hệ thống như trận đồ bát quái “tám hướng” vào nước ta.

Hướng thứ nhất

Sáu tỉnh biên giới phía bắc của nước ta bị Trung Quốc dùng mọi thủ đoạn chiếm đoạt “gặm nhấm”. Ngày nay, các địa danh Mục Nam Quan, Thác Bản Giốc v.v… chỉ còn là hoài niệm trong sách giáo khoa và những câu ca dao của dân Việt. Chúng ta phải mất 6 năm điều đình, nhún nhường, phân định để xây được hơn 1500 cọc mốc bê tông biên giới Việt Trung cao 10-15 m, sâu trung bình 20 m nhưng vẫn chưa phải là bình yên vì Trung Nam Hải thường đổ lỗi cho dân tại chỗ nếu có “quậy phá” chỉ vì họ cho rằng mồ mả của người dân Trung Quốc vẫn còn nằm trên lãnh thổ Việt Nam!?

Hướng thứ hai

Dùng các thủ đoạn mua chuộc các quan chức, lợi dụng “kẽ hở” của chủ trương đầu tư để thuê dài hạn đến 50 năm các khu vực trọng yếu về kinh tế và quốc phòng từ rừng núi, đến vùng ven biển của đất nước. Hậu họa đã nhãn tiền chẳng cần phải chờ đến 50 năm sau để con cháu lên án cha ông chết vì tham và ngu dại!

Hướng thứ ba

Phía Tây-Nam, ‘phiên dậu” của nước ta ở Campuchia và Lào nhiều vùng đất rộng lớn đã được Trung Quốc đầu tư, mua bán. Trước đây, các du học sinh người Lào còn thích sang Việt Nam học tập nhưng ngày nay địa điểm đến của họ là Trung Quốc vì học bổng cao gấp hơn 30 lần so với Việt Nam, lại còn được cho về phép v.v… Sau tầng lớp cán bộ trung kiên gắn bó với Việt Nam già yếu, mất đi dễ hiểu “đòn xoay trục” của Tầu như thế nào với tầng lớp kế cận ở các nước phía Tây-Nam của nước ta.

Hướng thứ tư

Việt Nam là một trong những quốc gia đang chịu nhiều tác động bởi thiên tai như: bão, lũ lụt, lũ ống, lũ quét, xói lở bờ sông, bờ biển, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và hoang mạc hóa (gần 100% là liên quan đến nước). Hằng năm, nước ta chịu nhiều tác động bất lợi của thiên tai, làm thiệt hại về người và của vô cùng to lớn. Đặc biệt trong những năm qua, thiên tai xảy ra ở khắp các khu vực trên cả nước, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đến môi trường. Trong 20 năm gần đây (1994 – 2013) ở nước ta, thiên tai (chỉ tính riêng bão, lũ lụt, sạt lở đất và lũ quét) đã làm chết và mất tích gần 13.000 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm (đó là chưa nói đến thiệt hại kinh tế, môi trường do ngập úng thường xuyên ở các thành phố).

Hai nguồn nước chính tác động đến Việt Nam cả trong mùa lũ và mùa kiệt là hệ thống sông Hồng và sông Mekong đều bắt nguồn từ Trung Quốc. Quản lý nước là phải quản lý lưu vực sông nhưng Trung Quốc xây dựng tràn lan các đập thủy điện ở thượng nguồn bất chấp đến các hậu quả phải hứng chịu của Việt Nam ở hạ lưu. Tệ hơn, họ còn không cho ta biết quy trình vận hành các hồ chứa thủy điện phía thượng lưu, đây là nguy cơ không nhỏ về “chiến tranh nguồn nước” trong tương lai.

Hướng thứ năm

Hàng hóa từ Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam qua các con đường từ nhập khẩu, tiểu ngạch đến buôn lậu. Chất lượng các sản phẩm qua những hàng hóa đã kiểm nghiệm hầu hết đều vượt mức báo động cho phép, gây tổn hại sức khỏe của nhân dân ta. Thương lái Trung Quốc đi khắp nơi thu mua các sản phẩm không giống ai như lá điều khô, đỉa, móng trâu, hoa thanh Long, lá khoai non, thảo quả, cây culi, cây long khỉ v.v… giá cao bất thường rồi đồng loạt rút bỏ gây điêu đứng cho bà con nông dân thiếu thông tin, nhẹ dạ, gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự xã hội ở các địa phương.

Phần lớn các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kể cả năng lượng, giao thông đều rơi vào tay Trung Quốc do bỏ giá thầu rẻ, và giỏi “đi đêm”, nhưng lúc thực thi lại đưa công nghệ lạc hậu, thi công kéo dài, dùng đủ phép để đội giá đầu tư so với hồ sơ lúc đầu đã được duyệt để lại hậu quả “tiền mất – tật mang” cho Việt Nam.

Hướng thứ sáu

Xâm chiếm Hoàng sa của Việt Nam, tự vẽ ra đường lưỡi bò 9 đoạn chiếm khoảng 90% diện tích Biển Đông bất chấp đạo lý và luật pháp quốc tế. Sự kiện giàn khoan HD 981 càng lột tả bộ mặt thật về thủ đoạn trắng trợn, dã tâm của Trung Quốc đối với Việt Nam. Kế hoạch tiếp tục đưa thêm các giàn khoan khác đến Biển Đông chứng tỏ Việt Nam không còn đường lùi, phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.

Nhà nước Việt Nam cần làm ngay bây giờ là gửi một công hàm phản đối công hàm của Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc. Danh chính thì ngôn thuận, nên nhớ rằng năm 1979 khi ta có sách trắng thì năm 1980 Trung Quốc cũng ra sách trắng gồm tất cả lập luận về công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng rồi. Tiếp đó, ta đã đáp trả bằng sách trắng 1982, 1988. Bây giờ đây, có gì đâu mà sợ. Nếu ai ngăn cản, thì chắc chắn không chỉ vì thiển cận, lú lẫn mà còn là ăn “phải bả” của Tàu!

Hướng thứ bảy

Vịnh Hạ Long đã có đường ranh giới Việt – Trung từ thời người Pháp ông Mac Mohon ký kết với nhà Mãn Thanh. Nhưng thực tế, Trung Quốc cũng tìm cách lấn lướt sang ta đến khoảng 50 km2 và thường xuyên gây khó cho hoạt động của ngư dân Việt Nam vì họ đông người lại có tầu to.

Hướng thứ tám

Đất nước muốn phát triển cần có những người lãnh đạo có phẩm hạnh, trí tuệ và tài năng. Từ lâu, Trung Quốc đã can thiệp vào công tác nhân sự của ta. Thủ đoạn truyền thống của Trung Quốc là “cấy mối thân tình”, mua chuộc bằng mọi cách kể cả hù dọa người yếu bóng vía, tạo nên ân tình từ cấp trung ương đến địa phương. Đối với nhân dân ta không thể mua chuộc được thì họ tuyên truyền thất thiệt gây chia rẽ giữa lãnh đạo Nhà nước và nhân dân. Ngày nay, có thể nói “tai mắt” của Trung Quốc len lỏi khắp nơi, tác động khôn lường đến cả chính trị và kinh tế xã hội của Việt Nam.

Ngẫm suy

Kể từ nhà Hán chiếm nước Âu Lạc thì bản chất xấu của  Đại Hán chẳng những không thay đổi mà còn tăng lên tính tham lam, độc ác và nham hiểm. Kể cả khi là “đồng chí” độ thâm, ác và sự mê hoặc của nó càng tàn độc hơn, lan tỏa cả Đông Nam Á và nhiều quốc gia khác. Nó hoàn toàn đối lập với Đại Việt ta mà nay là Việt Nam, từ chỗ Tổ tiên ta lấy giống nòi (dân tộc) làm bất biến nên không bị đồng hóa; lấy độc lập tự chủ làm lẽ sống để khôi phục giang sơn sau hơn 1.100 năm là quận, huyện của Hán, Đường; biết lấy lòng dân làm sức mạnh vô địch; biết tin dân mà cảnh giác kẻ thù; biết vì dân mà dẹp tư thù và lòng tham ích kỷ cá nhân, dòng họ (Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn)… nhưng rồi vì “đồng chí” mà Việt Nam ta ngày càng tệ hại dưới con mắt của Tàu.

Không minh bạch sòng phẳng với dân

Trong bối cảnh mù mờ, Nhà nước chỉ cho cán bộ và nhân dân biết một phần về những việc làm với tư cách đại diện cho cả một dân tộc, đây là một sự bất công đã kéo dài từ nhiều năm nay. Thủ tướng Phạm văn Đồng đã viết những gì cho ông Chu Ân Lai về biển đảo, lãnh hải của Việt Nam năm 1958, một điều mà chỉ những ai chú ý tìm hiểu lắm mới biết! Hội nghị Thành Đô năm 1990 có những nội dung gì, ngoài những điều mà báo chí đã đưa? Nội dung của việc trao khu khai thác bauxite cho Trung Quốc ở Tây Nguyên là gì, trong bao nhiêu năm, nội dung của việc cho thuê rừng phòng hộ ở biên giới Việt-Trung là thế nào? Rất nhiều người Việt Nam không được biết rõ, và khi đọc từng đoạn trong tin tức từ báo chí “lề trái”, người ta không còn biết tin vào đâu nữa!

Tại sao trước kia công an giải tán các đoàn biểu tình chống Trung Quốc bành trướng tại các biển đảo của Việt Nam, bắt, giết ngư dân, thậm chí còn theo dõi, bắt người Việt Nam vô tội chỉ vì đã có những biểu cảm của lòng yêu nước, và gần đây lúc lại nới lỏng, lúc thắt chặt? Vậy thì phải đợi Trung Quốc hung dữ hơn thì dân ta mới được phép phản đối chăng? Tại sao nhiều vị chóp bu của Việt Nam hầu như không nói gì trước những sự việc trọng đại như Trung Quốc hạ dàn khoan trái phép HD 981, hay những vụ lộn xộn ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Thái Bình, Cần Thơ v.v…?

Vĩ Thanh

Trong “trận đồ bát quái” của Trung Quốc thì hướng thứ tám, can thiệp vào nhân sự mới là hướng chính, quan trọng nhất đánh ta của Trung Quốc để giành thắng lợi cuối cùng.

Đến lúc này, mà người ta vẫn còn gọi nhau là đồng chí. Thực chất chỉ còn là đồng chí “bán phần”, hay là “bán phần đồng chí” như văn phạm Tàu vì  chỉ có nửa phần “vận mệnh tương quan” trong 16 chữ vàng là đồng. Chưa có lúc nào người dân và chính quyền lại sống trong ngờ vực như ngày nay vì Nhà nước không minh bạch với dân và ngay trong nội bộ lãnh đạo cũng không phải tất cả là cùng chí hướng! Trước hết, Ban chấp hành Trung ương và các vị đại biểu Quốc hội có quyền được biết các ý kiến của từng thành viên Bộ Chính trị và Ban bí thư về quan điểm và các đối sách đối với Trung Quốc.

Phương ngôn có câu: “Im hơi, lặng tiếng là một đức hay. Nếu danh dự bắt buộc phải lên tiếng mà lặng im thì là một sự hèn nhát” (La Cordaire): “Ta căm ghét thái độ dửng dưng chỉ cần thêm một bước là dẫn tới phản bội và một bước nữa đã là tội ác trước lương tâm (I.V. Bodarev).

Viết đến đây, tôi nhớ lại câu chuyện một lần Byron, thi hào Anh sau khi đứng làm mẫu cho người bạn là nhà điêu khắc Torvansen tạc tượng chân dung của mình, bỗng nhiên ông kêu lên : “không, bạn không tạc hình tôi mà là hình hài của một anh chàng yên ổn nào đó! Tôi hoàn toàn không giống bức tượng này!” Torvansen hỏi lại: “thế, có gì là xấu nếu ta sung sướng?”

Khuôn mặt Byron vụt tái đi vì tức giận và ông la lớn: “Torvansen! hạnh phúc và sự yên ổn cũng khác nhau như đá hoa cương và đất sét vậy. Chỉ có những kẻ ngu và những người tâm hồn thấp kém mới tìm kiếm sự yên ổn trong thế kỷ chúng ta. Chẳng nhẽ trên mặt tôi không có nét nào nói lên sự cay đắng, lòng can đảm và nỗi đau khổ của suy tư?

Ngày nay, dù cho kẻ bán nước có “thẻ xanh” nhưng dân nước Việt không bao giờ quên lời dạy của tiền nhân – Vua Lê Thánh Tông (1473):

Nếu các ngươi đem một thước sông, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di”

T.V.T.

Tác giả gửi BVN

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: