Những sự thật về sân bay Tân Sơn Nhất….

+NẾU GIẢI TỎA TOÀN BỘ TÂN SƠN NHẤT, CÓ THỂ THU VỀ 375 TẤN VÀNG (16,4 TỶ USD)
+189 TẤN CHẤT ĐỘC – THUỐC TRỪ SÂU ĐỔ XUỐNG SÂN GOLF TÂN SƠN NHẤT MỖI NĂM
+SỰ THẬT VỀ KHOẢNG CÁCH GIỮA HAI ĐƯỜNG BĂNG SONG SONG
+SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT: SỰ THẬT VỀ CÂU CHUYỆN “TẮC NGHẼN BẦU TRỜI”, “CHỒNG LẤN VÙNG TRỜI”, VÀ “KHU VỰC CẤM BAY CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

NẾU GIẢI TỎA TOÀN BỘ TÂN SƠN NHẤT, CÓ THỂ THU VỀ 375 TẤN VÀNG (16,4 TỶ USD)

TS Nguyễn Bách PhúcTrần Đức Thịnh (*)

26-03-2015

Hiện nay có nhiều con số khác nhau về diện tích đất của sân bay Tân Sơn Nhất (TSN), những con số này có trong báo chí truyền thông, trong các báo cáo của các cơ quan nhà nước, của các Doanh nghiệp liên quan, thay đổi từ 650 ha (6,5 Km2) đến 1.500 ha (15 Km2).

Chúng tôi đã căn cứ vào lịch sử phát triển của vùng đất mà người Pháp gọi là Khu căn cứ quân sự phía Bắc Sài Gòn, và Căn cứ quân sự Tân Sơn Nhất, tham khảo và đo đạc theo ảnh vệ tinh, xin đưa ra những con số tương đối chính xác như sau:

Nửa đầu thế kỉ XX. Người Pháp xây dựng Khu căn cứ quân sự phía Bắc Sài Gòn rộng 20 Km2 (2.000 ha), thiết lập sân bay Tân Sơn Nhất ở trung tâm Khu căn cứ.

Phần phía Nam của Khu căn cứ này là Căn cứ quân sự TSN, rộng 15 Km2 (1.500 ha) bao gồm vùng đất với biên giới ngày nay là các đường Quang Trung, Nguyễn Kiệm, Hoàng Văn Thụ, Ngã tư Bảy Hiền, Trường Chinh, Tân Sơn. Sân bay TSN nằm ở phía Bắc của Căn cứ quân sự TSN, trên vùng đất cao nhất của TP.HCM.

Sân bay TSN, được bao bọc bởi vòng tường sân bay, với diện tích tổng cộng khoảng 900 ha (9 km2). Sân bay này dùng chung cho cả quân sự và dân sự. Trong 900 ha này, tuy không phân biệt hai phần dân sự và quân sự nhưng có thể thấy phần đất dùng cho các hoạt động bay là 600 ha, và dùng cho các đơn vị quân đội là 300 ha (gần đây, Quân đội đã quyết định 157 ha làm sân golf).

Khu căn cứ quân sự phía Bắc Sài Gòn được chính quyền Pháp, chính quyền SG trước năm 1975, duy trì như một căn cứ quân sự rất mạnh, đặc biệt trong Căn cứ quân sự TSN còn có cả Bộ Quốc phòng, Bộ tổng tham mưu quân đội.

Sau năm 1975 chúng ta vẫn duy trì nguyên vẹn Khu căn cứ quân sự phía Bắc này. Nhưng từ năm 1986 Nhà nước ta quyết định thu hẹp các căn cứ quân sự bằng cách cấp đất quân sự cho sĩ quan Quân đội Nhân dân VN. Đất của Căn cứ quân sự TSN được tách ra khoảng 500 ha (5 Km2) để Cấp cho sĩ quan, bao gồm vùng đất hiện nay là Phường 13, phường 9, phường 2 và một phần phường 12, phường 4, phường 3 của Quận Tân Bình.

Đất của Căn cứ quân sự TSN hiện nay chỉ còn lại 15 Km2 – 5 Km2 = 10 Km2, gồm 9 Km2 trong vòng tường sân bay và khoảng 1 Km2 (100 ha) nằm ngoài tường sân bay (dải đất phiá Bắc đường Cộng Hòa) vẫn do các đơn vị quân đội quản lý. Thực tế trên diện tích 100 ha của quân đội cho đến nay vẫn chưa có công trình xây dựng nào đáng kể.

Rất nhiều chuyên gia đã kiến nghị di chuyển các đơn vị quân đội, để dành trọn 10 Km2 (1000 ha) cho việc nâng cấp TSN lên 70 triệu – 80 triệu hành khách/ năm, mà không cần di dời, đền bù, giải tỏa 500.000 dân như Bộ GTVT nói.

Mọi người đều thấy xu hướng đề xuất hiện nay của Bộ GTVT và Bộ Quốc phòng là sẽ thu hẹp dần hoạt động của TSN. Trước mắt Bộ Quốc phòng đã giành 157 ha trong khuôn viên sân bay để làm sân golf, còn Bộ GTVT thì khẳng định không thể nâng cấp lên quá 25 triệu hành khách/ năm. Chúng tôi cho rằng xu hướng giải quyết này của hai Bộ cũng có phần đúng ở chỗ, nếu giải tỏa TSN thì sẽ thu về một khoản tiền đất rất lớn.

Giá đất ở khu vực TSN hiện nay khoảng 1 cây vàng/m2. Nếu giải tỏa 10 Km2 thì sẽ thu được: 10 Km2 = 10 triệu m2

Số vàng sẽ thu được: 10 triệu m2 x 1 cây vàng/m2 = 10 triệu cây vàng

Mỗi cây vàng nặng 37,5 gr

10 triệu cây vàng sẽ là: 10 triệu cây x 37,5gr/cây = 375 triệu gr vàng = 375 Tấn vàng

Tóm lại phương án giải tỏa TSN cũng mang lại một nguồn tài chính rất lớn.

Hiện nay, giá vàng khoảng 35,2 triệu đồng/cây, vậy 10 triệu cây vàng tương đương:

35,2 triệu đồng/cây x 10 triệu cây = 352 triệu triệu đồng = 352 ngàn tỷ đồng

Tỷ giá USD hiện nay là 21.500 đồng/USD

352 ngàn tỷ đồng tương đương: 352 ngàn tỷ đồng / 21.500 đồng/USD = 16,4 tỷ USD.

_____

(*) Tác giả: TS Nguyễn Bách Phúc là Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON, Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI. Trần Đức Thịnh: Phó Chủ tịch thường trực, kiêm Tổng thư ký Hội Tư vấn HASCON.

 

SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT: SỰ THẬT VỀ CÂU CHUYỆN “TẮC NGHẼN BẦU TRỜI”, “CHỒNG LẤN VÙNG TRỜI”, VÀ “KHU VỰC CẤM BAY CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

TS Nguyễn Bách Phúc (*)

26-03-2015

Một lý do “nặng ký” mà Bộ giao thông vận tải đưa ra cho Dự án xây dựng sân bay Long Thành là “lỗi” của sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất, việc mở rộng nâng công suất cảng hàng không này để đáp ứng nhu cầu 40-50 triệu hành khách/năm trong giai đoạn 2025-2030 là không khả thi”. Minh chứng điều này, Bộ đã đưa ra 4 cái lỗi.

Bài này xin bình luận lỗi thứ 2.

Về lỗi thứ 2, Bộ nói: “Hạn chế về khai thác vùng trời: Khu vực vùng trời tiếp cận dành cho tàu bay cất hạ cánh của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất hiện tại chồng lấn với vùng trời tiếp cận của căn cứ không quân Biên Hòa ở phía Bắc. Mặt khác, khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay phía Nam của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nên đã hạn chế rất nhiều không gian sử dụng cho tàu bay cất hạ cất cánh, đặc biệt khi có hoạt động bay quân sự tại khu vực Tân Sơn Nhất và Biên Hòa.

Thứ trưởng GTVT Phạm Quý Tiêu phát biểu tại tọa đàm về dự án đầu tư sân bay Long Thành, do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức ngày 17/10. Thứ trưởng Phạm Quý Tiêu khẳng định lại việc cần thiết phải đầu tư xây dựng sân bay Long Thành, bởi Tân Sơn Nhất đã quá tải: “Sân bay Tân Sơn Nhất tắc nghẽn bầu trời, trong nhiều năm không quản lý được tĩnh không sân bay”.

Câu chuyện “TSN bị tắc nghẽn bầu trời”:

Nghe Bộ GTVT nói TSN “tắc nghẽn bầu trời”, chắc mọi người hình dung ra cảnh tượng cả đàn máy bay ùn tắc chen lấn nhau trước lối vào TSN, giống như xe Honda chen chúc trước đèn đỏ, giành nhau từng centimet đường!

Hàng trăm sân bay trên thế giới, số lượng hành khách nhiều hơn TSN, 80-100 triệu HK/năm, tần suất cất hạ cánh lên đến 60 chuyến/giờ hoặc hơn, đều không hề có khái niệm tắc nghẽn bầu trời, tại sao chỉ có bầu trời TSN bị tắc nghẽn khi tăng hơn 20 triệu HK/năm?

Thử tính xem mức độ tắc nghẽn của TSN như thế nào, liệu có bao nhiêu máy bay chen lấn nhau, chúng giành nhau bao nhiêu centimet không gian:

+ Tần suất lớn nhất hiện nay của TSN, theo Cục trưởng Cục Hàng không VN là 29 chuyến/giờ.

Với tần suất này, TSN có thể đưa đón tới 80 triệu hành khách/năm, chứ không phải chỉ hơn 20 triệu. (tham khảo bài “Có thể nâng Tân Sơn Nhất lên 80 triệu hành khách/năm, không cần giải phóng mặt bằng di dời dân cư, với tổng vốn đầu tư chỉ khoảng 3 tỷ USD)

+ Với tần suất 29 chuyến/giờ này thì số chuyến máy bay xếp hàng để cất cánh hoặc hạ cánh trong 1 giờ là: 29/2 = 14,5 chuyến.

+ Thời gian dãn cách giữa hai chuyến máy bay kế tiếp nhau là 1/14,5 = 0,07 giờ

+Máy bay dân dụng hiện nay khi cất cánh hoặc hạ cánh thường bay với tốc độ 250 Km/giờ.

+ Tính ra cự li xếp hàng dọc giữa hai máy bay kế tiếp nhau là (250 Km/giờ) x (0,07 giờ) = 17,5 Km.

Hóa ra máy bay xếp hàng dọc trước cửa TSN, khi lên xuống cấp tập nhất, 2 chiếc liên tiếp nhau vẫn cách nhau hơn 17 Km, chứ không phải mấy centimet như honda trước đèn đỏ, sao lại gọi là tắc nghẽn bầu trời?

Câu chuyện “chồng lấn vùng trời với sân bay Quân sự Biên Hòa”:

  • TSN và Biên Hòa nằm cạnh nhau hơn nửa thế kỷ nay, chưa nghe ai nói “chồng lấn vùng trời”, kể cả những năm chiến tranh ác liệt, máy bay lên xuống “nhiều như chuồn chuồn”, cớ sao hôm nay lại đẻ ra việc “chồng lấn vùng trời”?
  • TSN cách Biên Hòa 25 Km, trong khi sân bay Changi của Singapore chỉ cách sân bay quân sự Paya Lebar 8 Km, nhưng không ai nói sân bay Changi của Singapore chồng lấn với sân bay quân sự Paya Lebar, cớ sao lại nói TSN chồng lấn với Biên Hòa?
  • Vùng trời tiếp cận cất hạ cánh, là vùng trời tiếp giáp với đường băng sân bay, với chiều dài 40 dặm (khoảng 72 Km), chiều rộng khoảng 9 Km, chiều cao dưới 3000 mét, là vùng trời được quốc tế quy định giao cho Trạm kiểm soát APP điều khiển không lưu, tức là APP hoàn toàn chịu trách nhiệm điều khiển các máy bay chuẩn bị hạ cánh hoặc sau khi cất cánh. Như vậy “Vùng trời tiếp cận cất hạ cánh” thực chất chỉ là một vùng quy ước, là vùng được kiểm soát chặt chẽ bởi APP chứ không phải là vùng cấm máy bay qua lại.

Ở Việt Nam có 3 Trạm APP, trong đó Trạm APP ở miền Nam, kiểm soát vùng trời tiếp cận của tất cả sân bay ở miền Nam. Hai sân bay ở gần nhau đều được một Trạm APP kiểm soát, nếu vùng tiếp cận có chồng lấn lên nhau đi nữa thì vẫn do cùng một Trạm APP kiểm soát, nên sẽ không có bất cứ phiền toái nào.

Ngoài ra, vùng trời tiếp cận của TSN nằm giữa 2 vùng trời tiếp cận của sân bay Biên Hòa và của sân bay Long Thành, khoảng cách từ vùng trời tiếp cận của TSN đến vùng trời tiếp cận của Long Thành gần hơn của Biên Hòa, cớ sao Bộ GTVT chỉ nói TSN và Biên Hòa chồng lấn, mà bỏ qua chồng lấn giữa TSN hiện hữu và Long Thành tương lai? Nếu sự chồng lấn này là thực sự nguy hiểm thì cớ sao Bộ lại chấp nhận sự nguy hiểm đó khi quyết định xây dựng sân bay Long Thành.

Câu chuyện “khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh”

Khi nghe Bộ GTVT nói như vậy, ai cũng ngỡ ngàng không biết khu vực cấm bay của TP.HCM là khu vực nào, rộng hẹp bao nhiêu, cấp nào ra quyết định cấm bay, cấm bay vì mục đích gì?

Chúng tôi may mắn được Cụ Lê Trọng Sành, Nguyên trưởng phòng Quản lý bay sân bay TSN giải thích cho như sau: Khi hạ cánh, những máy bay cỡ nhỏ với sức tự hãm trên đường băng tương đối kém nên Trạm APP phải “lựa theo chiều gió” để chọn cho những máy bay này hướng hạ cánh sao cho ngược với chiều gió. Chẳng hạn ở TSN máy bay thường xuyên hạ cánh theo chiều từ Đông sang Tây, nhưng đôi khi các máy bay nhỏ phải bay vòng vượt qua sân bay TSN rồi quay ngược lại để hạ cánh theo hướng từ Tây sang Đông. Với những máy bay nhỏ, vòng lượn này thường nhỏ,đoạn song song với đường băng thường cách đường băng 5 đến 7 km, sau khi máy bay vượt quá đường băng chừng 10 km thì sẽ quay vòng lại để hạ cánh. VÙng mặt đất được giới hạn bởi đường quay vòng hạ cánh tạm gọi là Vùng quay vòng hạ cánh.

Thông thường Vùng quay vòng hạ cánh nằm hai phía của sân bay. Với sân bay TSN là vùng phía Bắc và phía Nam, hiện tại vùng đất kế cận đường băng ở phía Nam là khu vực có rất nhiều nguy cơ cháy nổ, như kho chứa xăng máy bay, bãi đậu của hầu hết các loại máy bay, bãi đậu của máy bay trực thăng, đều là vùng nguy hiểm cháy nổ, nếu máy bay khi quay vòng bay trên vùng này có thể xuất hiện nguy cơ cháy nổ khi không may gặp sự cố. Vì vậy cơ quan Quản lý Hàng không VN quy định Vùng quay vòng hạ cánh phía Nam TSN là vùng cấm bay.

Như vậy, Bộ GTVT gọi vùng cấm bay này là “Vùng cấm bay của TP.HCM” là hoàn toàn không đúng, bởi vì TP.HCM không có vùng cấm bay nào cả.

Nhưng điều quan trọng nhất là, vùng cấm bay này không ảnh hưởng gì đến mật độ và lưu lượng lên xuống của máy bay ở sân bay TSN, không ảnh hưởng gì đến công suất của TSN, bởi một lẽ đơn giản rằng TSN vẫn còn vùng quay vòng ở phía Bắc không bị cấm, và giả sử một lúc nào đó, vùng quay vòng ở phía Bắc quá chật chội thì APP vẫn có thể cho phép máy bay quay vòng về phía Nam, chỉ cần nằm ngoài phạm vi cấm bay, tức là cách xa đường băng trên 7 Km.

Thật tình chúng tôi không thể nào hiểu nổi, tại sao Bộ GTVT lại trình Quốc hội rằng “khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay phía Nam của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nên đã hạn chế rất nhiều không gian sử dụng cho tàu bay cất hạ cất cánh”?

____

(*) Tác giả: TS Nguyễn Bách Phúc là Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCM HASCON và là Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: