– ‘Cải cách hay là chết’: Cuộc chiến hệ tư tưởng ngay trong Bộ Chính trị

VNTB– ‘Cải cách hay là chết’: Cuộc chiến hệ tư tưởng ngay trong Bộ Chính trị & Phải truy cứu hình sự cựu Bộ Trưởng Vũ Huy Hoànghttps://dantri4.vcmedia.vn/k:534992cb49/2016/03/17/vu-huy-hoang-1458162466376/bo-truong-vu-huy-hoang-chi-thi-3-thanglan-bao-cao-giam-sat-ban-hang-da-cap.jpg

 VOA
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

Chẵn ba thập kỷ sau thời “Đổi mới” 1986, đòi hỏi “cải cách hay là chết” ở Việt Nam bùng nổ hơn bao giờ hết.
Áp lực nội bộ ‘cải cách lần 2’
Thành tựu cá nhân không thể cứu vãn chế độ. Ngay sau Đại hội XII, bất chấp thắng lợi huy hoàng của Tổng Bí thư Trọng “đã loại được một nhà độc tài”, nhân vật hồn nhiên tuên bố “Tôi bất ngờ!” trước thành tích tái cử đang đứng khựng trước ngã ba đường: cho dù ông là nhân tố vượt trội để “giữ gìn đoàn kết trong đảng” vào thời gian này, tình đoàn kết đó sẽ chẳng có một chút giá trị nào nếu tự thân đảng không cải cách.
Quá nhiều yêu cầu và đòi hỏi về “cải cách lần 2” đang bùng nổ từ lớp người thân cận nhất của đảng là giới cán bộ lão thành, tướng lĩnh về hưu và cả một số quan chức vừa mãn nhiệm hoặc còn đương nhiệm.
“Không cải cách thì chỉ có chết!” – giờ đây rất nhiều người thốt lên như thế.

Kinh tế quyết định chính trị – những nhà lý thuyết Mácxit như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thấm nhuần điều này hơn bất cứ ai.
Khác hẳn thời “hoàng kim” của những năm 2006-2007, chính phủ mới 2016 lại phải kế thừa di sản ghê rợn từ thời cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng chế độ đảng trị: tham nhũng kinh hoàng, kinh tế lụn bại và bị trói chặt bởi Trung Quốc, nợ công và nợ xấu ngập đầu, phản kháng xã hội tràn ngập cùng một nền đạo đức tiệm cận đáy, và quá nhiều quyền con người bị chính thể chà đạp tận bùn đen.
Tất nhiên Tổng Bí thư Trọng có quyền bảo lưu quan điểm “đổi mới chính trị không phải là thay đổi bản chất chế độ”, nhưng nếu khăng khăng không chịu cải cách, ông Trọng làm thế nào để có tiền trả cho đội ngũ công chức viên chức lên đến 3 triệu người cùng hàng triệu quân nhân trong lực lượng vũ trang của ông?
Chỉ cắm đầu thu thuế và tăng thuế bổ đầu dân?
Phản kháng và biến loạn xã hội sẽ là tất yếu, như đã từng tất yếu trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Dập thuế liên tục với cường độ ngày càng tăng là phương thức nhanh nhất để tự sát chính trị, hoàn toàn không phải là cách để duy trì một chế độ trường tồn và trên hết là “chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” theo đúng mong muốn của đảng.
Tăng thuế, in tiền hay tiếp tục vay nợ?
Bài toán ngân sách và tài chính của Việt Nam là quá phức tạp, nhưng lại rất dễ giải quyết: hoặc là in tiền, in thật nhiều tiền để lấp đầy những vực thẳm ngày càng bị nạn chi tiêu vô tội vạ, lãng phí và tham nhũng đào sâu thêm; hoặc vay mượn nước ngoài.
Nhưng in tiền tất sẽ dẫn đến lạm phát. Đã có những chuyên gia bắt đầu cảnh báo về tỷ lệ lạm phát năm 2016 có thể trở lại như năm 2011, tức vọt đến 20%. Quốc hội lại đang tỉnh giấc đòi chính phủ phải “trả lại” cho cơ quan này quyền xem xét  và quyết định ngân sách. Do vậy khả năng in tiền vô tội vạ là khó xảy ra.
Nguồn tài chính dồi dào và đỡ biến loạn hơn nhiều đến từ các định chế tài chính quốc tế và cũng là những chủ nợ lớn nhất của ngân sách Việt Nam: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Á châu và những quốc gia giàu có như Nhật Bản, Hoa Kỳ.
Nhưng vào tháng 3/2016, Tổng giám đốc IMF Christine Lagarde thăm Việt Nam đã lần đầu tiên đưa ra khuyến nghị “Việt Nam cần cải cách lần 2”.
Dù IMF không nói rõ ra, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam tất ngầm hiểu nhiều khuyến nghị, được đưa ra trong nhiều lần, của WB và IMFvề những nội dung thiết yếu cần cải cách kinh tế và cải cách thể chế: bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, tăng độ minh bạch thị trường tài chính và minh bạch ngân sách, cải cách luật theo hướng dân chủ hơn, phải chống tham nhũng một cách có hiệu quả, chấp nhận Công đoàn độc lập và Xã hội dân sự. Kể cả tự do lập hội và tự do báo chí…
Sang tháng 4/2016, Victoria Kwa Kwa – nữ đại diện của WB đã chính thức nêu 3 khuyến nghị cụ thể đối với Tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc liên quan đến 3 vấn đề: Biến đổi khí hậu, doanh nghiệp tư nhân và chống tham nhũng.
Vào tháng 12 năm ngoái, chính bà Victoria Kwa Kwa đã đặt cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một câu hỏi chết người “Việt Nam lấy đâu ra nguồn lực để phát triển?”, sau khi nghe báo cáo tràng giang đại hải của ông Dũng về “phấn đấu tăng trưởng đến năm 2020 và những năm sau”. Ngay sau đó, WB đã lần đầu tiên trao cho chính phủ Việt Nam một bản khuyến nghị 7 điểm, với khuyến nghị đầu tiên là hết sức đặc biệt: Việt Nam phải nhanh chóng ban hành Luật Lập hội.
Giờ đây, Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức rời khỏi chính trường. Sau Đại hội XII, điểm khác biệt cơ bản của Bộ Chính trị mới với dàn nhân sự cũ là tỷ lệ nhân vật nhận thức “không còn cách nào ngoài cải cách” đã tăng lên đáng kể.
Có khoảng 8 – 9 gương mặt trong Bộ Chính trị mới lại là những người làm chuyên môn ngành nghề và có thể mang hơi hướng “kỹ trị”, dù rằng từ ngữ này vẫn còn quá xa xỉ nếu được gán ghép cho lớp chính khách còn bị “cầm tù” bởi thói quen cai trị quá tối tăm ở Việt Nam.
Có nổ ra cuộc chiến phủ nhận quyền lực?
Trong lớp chính khách “kỹ trị”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là nhân vật sẽ phải chịu “tổn thọ” nhiều nhất bởi di sản kiệt quệ từ thời thủ tướng cũ và quá nhiều vấn nạn cấp bách quốc gia cần phải xử lý ngay. Nếu như trước đây, thiên hạ cứ nhè Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để đổ hết “trách nhiệm điều hành yếu kém” cho ông ta, thì tương lai rất cận kề cũng sẽ tương ứng đối với Thủ tướng Phúc nếu chính phủ mới không có bất cứ cải cách nào.
“Kỹ trị” chủ yếu thể hiện bên chính phủ – địa chỉ phải hành pháp chứ không phải chỉ tay năm ngón như bên đảng. Nhân vật thứ hai có đầu óc quản lý là Vương Đình Huệ – từng một thời “ngồi chơi xơi nước” ở Ban Kinh tế trung ương, nhưng lại có thâm niên giữ chức bộ trưởng tài chính trước đây nên càng thấu hiểu nỗi khổ của ngân sách sẽ đến mức nào nếu rỗng ruột.
Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam cũng là những người có chuyên môn nhưng chưa có môi trường để thoát lộ. Đặc biệt, Phạm Bình Minh được đào tạo ở Mỹ và có lẽ không quên quá nhanh những gì ông đã học về làm thế nào để cải cách khu vực hành chính công.
Những nhân vật khác như Hoàng Trung Hải, Đinh La Thăng, Nguyễn Văn Bình… hay cả Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Thị Kim Ngân, Võ Văn Thưởng cũng có thể được xếp vào “phái kỹ trị”. “Trung thành chừng mực” với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, song sẽ chẳng có đức tin nào tồn tại quá một tuần nếu không có gì nhét vào bụng trong ba ngày.
Chính tầng lớp “kỹ trị” ấy, chứ không phải các cơ quan đảng, mới phải đau đầu và cực khổ nhất để tìm cách vay tiền và tìm mọi cách giữ cho con tàu chế độ khỏi bị lật đắm. Không còn cách nào khác, chỉ có cải cách mới mang lại tiền bạc và “sự tồn vong của chế độ”.
Thời gian và tình thế sẽ dẫn đến một hệ lụy khó tránh: nếu khăng khăng không muốn cải cách hoặc chỉ cải cách hết sức nửa vời, Tổng Bí thư Trọng sẽ phải đối mặt với ít nhất một nửa Bộ Chính trị mới. Việc trì hoãn càng lâu hành động cải cách, đặc biệt là cải cách để làm sao vay được tiền và tốt hơn nữa là được giảm nợ, xóa nợ theo yêu cầu của WB và IMF, sẽ càng khiến nảy sinh tâm lý bất mãn và dẫn đến phản ứng công khai ngay trong nội bộ Bộ Chính trị.
Đã có bài học nhãn tiền. Trong hai năm 2012 và 2013, một Miến Điện cải cách thể chế và cải cách nhân quyền đã được Câu lạc bộ Paris và hàng loạt quốc gia tên tuổi như Đức, Nhật, Na Uy, Pháp… xóa khoản nợ đến 6 tỷ USD.
Còn ngay trong năm 2016, Việt Nam phải trả đến 7 tỷ USD cho các khoản vay quốc tế. Những năm sau còn phải trả nợ nhiều hơn. Hãy nhớ lại cái cách trần tình rất thành thực của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh vào cuối năm 2015 trước khi mãn nhiệm: ngân sách trung ương chỉ còn 45.000 tỷ đồng. Trả nợ xong thì không còn tiền để đầu tư.
Cải cách, cải cách và cải cách – đó không chỉ là một cuộc chiến về hệ tư tưởng mà còn có thể kéo theo cuộc chiến quyền lực và phủ nhận quyền lực ngay trong lòng đảng, dù Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng “sắp nghỉ” hay còn muốn tại vị đến 5 năm nữa.
* Blog của Phạm Chí Dũng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Phải truy cứu hình sự cựu Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng

Phạm Chí Dũng (Người Việt)

Quan chức Vũ Huy Hoàng

Vào thời điểm kết thúc “chế độ Nguyễn Tấn Dũng” và cũng chấm dứt vai trò bộ trưởng công thương của ông Vũ Huy Hoàng, trên mặt báo chí nhà nước bất chợt rộ lên một chiến dịch lên án “những dự án nghìn tỷ đắp chiếu gây lãng phí, lãi mẹ đẻ lãi con, ngân sách thất thoát… thiệt hại lớn hơn cả tham nhũng.”
Ông Vũ Huy Hoàng là một bộ trưởng đã tồn tại đủ lâu dưới thời một thủ tướng bị bị quá đủ chỉ trích “phá chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.”
https://dantri4.vcmedia.vn/k:534992cb49/2016/03/17/vu-huy-hoang-1458162466376/bo-truong-vu-huy-hoang-chi-thi-3-thanglan-bao-cao-giam-sat-ban-hang-da-cap.jpg
Ông Vũ Huy Hoàng
Những dẫn chứng điển hình về nạn lãng phí chỉ có ở Việt Nam là nhà máy xơ sợi 7,000 tỷ đồng ở Hải Phòng “đắp chiếu” và dự án nhà máy lên đến 8,104 tỷ đồng đang phơi mưa nắng của công ty cổ phần gang thép Thái Nguyên (TISCO).
Con số 15,000 tỷ đồng bốc hơi lên trời ấy có thể xây được vài chục trường trung học khang trang hoặc hàng trăm trạm xá, cùng vô số nhà tình thương.
Cái gì xéo lắm cũng quằn. Nếu trước đây, báo chí và giới chuyên gia chỉ dè dặt khi nêu về các vụ việc lãng phí, thì nay bắt đầu có nét truy buộc “trách nhiệm các khâu phải rõ và ai vi phạm phải truy cứu, xử nghiêm. Nhà máy 7,000 – 8,000 tỷ đồng bằng tiền thu ngân sách nhiều tỉnh trong nhiều năm.”
Ít nhất đã có vài chuyên gia như ông Trần Ngọc Hùng, chủ tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam, có yêu cầu truy cứu trách nhiệm như trên khi trả lời công khai với báo giới nhà nước.
Ông Hùng tiết lộ: Không chỉ dự án của TISCO mà nhiều dự án “có yếu tố Trung Quốc” đều chậm tiến độ, bị đội vốn và sản phẩm làm ra không đạt thông số ban đầu… Ngay từ khâu làm hồ sơ mời thầu và thương thảo hợp đồng, nhiều chủ đầu tư Việt Nam đã bị “quả đắng,” bị tăng vốn, chậm tiến độ, nhà máy khó khăn. Tuy nhiên, điều đáng nói là khi làm dự án, các cán bộ liên quan rất hay đi nước ngoài tìm hiểu… mô hình, thường do chính một nhà thầu nào đó mời. Không những giới thiệu rất hay, các nhà thầu này thường chiêu đãi vô cùng long trọng từ ăn uống, đi lại, tham quan, quà cáp… Do đó trong thương thảo hợp đồng nhiều điều khoản bị hớ, nhất là vấn đề điều chỉnh giá cả, tiến độ thực hiện, các điều khoản về phạm vi hợp đồng.
Trong vực thẳm lãng phí vô cùng tận ở Việt Nam, nguồn vốn ODA “từ trên trời rơi xuống” lại là cái đáy tận cùng của mọi loại đáy. Năm 2015, báo chí phản ánh công trình cầu vượt Giá Rai (thị xã Giá Rai, Bạc Liêu) được xây dựng với tổng vốn đầu tư 290 tỷ đồng rồi… bỏ không khoảng ba năm nay do hết vốn làm đường dẫn, gây lãng phí. Hoặc dự án trích dầu cám ở Bến Tre, dự án dây chuyền dệt bao đay ở Sài Gòn, dự án nhà máy thủy sản đông lạnh Hạ Long, chương trình phát triển dâu tằm tơ ở Lâm Đồng và hàng loạt dự án cơ khí, cấp nước, nông nghiệp vay vốn ODA từ Pháp, Đức không hiệu quả.
Một loạt dự án sử dụng vốn ưu đãi, nhất là lĩnh vực giao thông, chậm tiến độ và đội vốn lớn so với tổng mức dự kiến đầu tư ban đầu như dự án tuyến metro Nhổn – Ga Hà Nội, dự án xây dựng tuyến metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) và dự án metro tuyến Bến Thành – Tham Lương ở Sài Gòn.
Nhân nào quả đó. Từ năm 2013, hàng loạt quốc gia viện trợ ODA cho Việt Nam đã quyết định ngừng một phần hoặc toàn phần viện trợ của họ.
Lãng phí và vi phạm đã quá rõ. Nhưng truy cứu và xử lý cán bộ lãnh đạo nào? Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có chống được tham nhũng như đã tuyên thệ trước Quốc Hội hay không?
Với tư cách từng là người lãnh đạo cao nhất ngành công thương vào thời tham nhũng và lãng phí “quyết liệt” nhất, cựu Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng là người đầu tiên phải được đưa ra để truy cứu trách nhiệm, đặc biệt về trách nhiệm hình sự. Trong những năm qua, quan chức này đã hoàn toàn phớt lờ phản ứng dữ dội của dư luận về quá nhiều sự việc do hai nhóm lợi ích tung hoành là Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam (EVN) và Tập Đoàn Xăng Dầu Việt Nam (Petrolimex) gây ra.
“Tận trung:” Những kẻ nối giáo cho Trung Quốc
EVN, từng được một tờ báo Anh vinh phong là “cậu ấm hư hỏng” do người mẹ đỡ đầu của nó là Bộ Công Thương, là tiếp dẫn ngoan ngoãn vô song cho chiến dịch tiếp tay cho Trung Quốc đến mức phản nghịch tình dân tộc.
Thậm chí, EVN mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào, vin vào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thái độ kinh doanh bất chấp này đã bất chấp một thực tế là trong thời gian gần đây, nguồn điện trong nước được tăng cường nhiều hơn, nhiều nhà máy điện ngoài EVN chưa huy động hết công suất, có thời điểm điện dư thừa, giá lại rẻ hơn nhiều giá điện Trung Quốc bán cho Việt Nam. Nhưng bởi lối hành xử đầy ngờ vực “dưới gầm bàn” về bao thư và cả những ẩn giấu chính trị, EVN đã cố tâm mua điện trong nước với giá chỉ bằng 1/3 giá mua điện của Trung Quốc, kèm theo các điều kiện rất khắt khe.
Ở Việt Nam, EVN là một trong những dẫn chứng sống động và dối trá nhất về việc người ta đã mượn lý thuyết kinh tế chỉ huy thời chiến để trục lợi như thế nào vào thời bình. Trong điều kiện nền chính trị độc đảng, thủ đoạn lợi dụng càng trở nên thâm ý hơn. Độc quyền và đặc lợi cũng vì thế đồng nghĩa với tội đồ, đối với nền kinh tế và đời sống dân sinh.
Đó chính là tội ác.
Năm 2011, vào lúc nền kinh tế Việt Nam dợm chân vào suy thoái, sự đổ bể của hai thị trường chứng khoán và bất động sản đã kéo theo một phát minh không tiền khoáng hậu kể từ thời mở cửa 1990: Những doanh nghiệp nhà nước đặc trưng bởi chủ thuyết “giá chỉ có tăng chứ không giảm” như EVN và Petrolimex đã tạo thành cặp song sinh có chung hậu môn. Hàng loạt chiến dịch đầu tư trái ngành của các tập đoàn này vào chứng khoán, bất động sản và bảo hiểm rốt cuộc đã tích đọng gánh nợ đến trên 40,000 tỷ đồng.
Trong suốt năm năm qua, toàn bộ số nợ nần đó đã được EVN và Petrolimex tuồn qua tuyến đại tràng để đổ lên đầu người dân đóng thuế.
Nhưng cũng trong suốt năm năm qua, bất chấp những đợt tăng giá điện vô tội vạ của EVN, đã không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được làm tới nơi tới chốn.
Vào năm 2013, một cuộc thanh tra của thanh tra chính phủ đã phát hiện trong bảng giá thành của mình, EVN đã hạch toán cả các công trình xây bể bơi, sân quần vợt và biệt thự vào giá bán điện. Giá bán điện lại được phổ cập cho mặt bằng dân trí thấp kém trong dân chúng. Và thêm một lần nữa, người ta có được bằng chứng về cái được coi là “trận đánh đẹp” của EVN: Cuộc chiến bù lỗ vào dân.
Nhưng sau đó, đã không có bất kỳ “phản tỉnh” nào từ phía cơ quan thanh tra và chính phủ. Mọi thứ đều chìm xuồng.
Tất cả những dấu hiệu khuất lấp về tài chính và số lương “nghèo khổ” ít nhất vài chục triệu đồng theo đầu người ở EVN mà dư luận bức xúc từ năm 2011, đã hầu như không bị cơ quan chủ quản của EVN là Bộ Công Thương có phản ứng gì.
Cùng với EVN, cựu Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng còn phải chịu trách nhiệm về một thực tế quá khốn quẫn: Nền kinh tế và sản xuất của Việt Nam đã phụ thuộc ghê gớm vào Trung Quốc.
Xét về giá trị, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc tăng gần 26 lần sau 13 năm, từ $1.4 tỷ năm 2000 lên $36.9 tỷ. Trong khi đó, giá trị hàng xuất cảng chỉ tăng khoảng chín lần, từ mức $1.5 tỷ năm 2000 lên $13.3 tỷ năm 2013.
Nếu năm 2002, nhập cảng từ Trung Quốc chiếm 8.9% tổng nhập cảng, thì đến năm 2011, tỷ lệ này đã là 23.3% và tăng lên 27% vào năm 2013.
Quá nhiều thứ phải nhập từ Trung Quốc. Chỉ còn thiếu việc nhập cảng người.
Những kẻ “giết sống” dân nghèo
Nhưng một sự việc khủng khiếp mà đã hoàn toàn chìm xuồng là cú xả lũ đồng loạt của 15 nhà máy thủy điện của EVN ở miền Trung vào cuối năm 2013 đã “giết sống” đến năm chục mạng người nghèo nơi rốn lũ.
Tất cả đều biết cấp trên trực tiếp của các nhà máy thủy điện là EVN, còn thủ trưởng trực tiếp của EVN là Bộ Công Thương. Tuy nhiên, sau vụ “giết sống” trên, nhiều phóng viên báo chí quốc doanh đành nuốt nhục vì bị cơ quan tuyên giáo “chặn họng.” Công lý đã trở nên trơ trẽn nhất khi đã không có bất kỳ một quan chức vô cảm và vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa, mặc dù chính vào lúc người dân chết chìm trong nước lũ xả trắng mênh mông, Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng còn bận “công du” ở nước ngoài.
Sau năm năm kể từ lúc các chiến dịch “thủ ác” được kích phát dồn dập và bất chấp oán thán dân tình, kẻ tội đồ EVN đã có đủ thời gian chứng tỏ nó có năng lực gây ra tội ác ghê gớm đến thế nào, kể cả thành tích nối giáo ngoại xâm kinh tế.
Nếu chính phủ Nguyễn Xuân Phúc không bắt đầu chống tham nhũng từ việc tổ chức điều tra cựu Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng và những thủ hạ liên đới, chính phủ mới này sẽ chẳng mấy chốc đi vào lối mòn tham nhũng và mị dân thời chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Phạm Chí Dũng

(Người Việt)

http://www.ijavn.org/2016/04/vntb-phai-truy-cuu-hinh-su-cuu-bo.html

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: