Formosa cần bồi thường 1.000 tỷ USD và đóng cửa Formosa Hà Tĩnh

Kẻ đào mồ chôn Biển, Cá và Người Việt tên là MCC

Thục Quyên (SAVE VIETNAM´s NATURE)clip_image002

 

Formosa cần bồi thường 1.000 tỷ USD và đóng cửa Formosa Hà Tĩnh

TS Nguyễn Thị Hải Yến, CHLBĐ

Cơ sở khoa học tính toán thiệt hại thảm họa sinh thái tại vùng biển miền Trung Việt Nam từ thảm họa Formosa Vũng Áng: 1000 tỷ USD và không Formosa.

Cấu trúc bài viết này gồm 5 phần:

Phần 1: cung cấp thông tin về lượng và chất các hệ sinh thái biển Việt Nam, đặc biệt là ở dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung nơi bị ảnh hưởng trực tiếp từ thảm họa Formosa Vũng Áng. Mục đích cung cấp cho cơ sở tính toán thiệt hại;

Phần 2: cung cấp phương pháp tính toán các giá trị của các hệ sinh thái biển làm cơ sở chuyển đổi sang các giá trị thiệt hại;

Phần 3: cung cấp chi tiết tính toán thiệt hại về mặt sinh thái của các hệ sinh thái dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung làm cơ sở để Việt Nam yêu cầu Formosa bồi thường thiệt hại. Đồng thời cũng cung cấp thông tin để thấy rằng sự thiệt hại môi trường và tài nguyên khủng khiếp như thế nào, từ những chính sách đầu tư ngu xuẩn. Cũng là thông điệp để các nhà đầu tư đã, đang và muốn có đầu tư vào Việt Nam cần phải cẩn trọng cam kết bảo vệ môi trường thay vì lợi dụng chính quyền, qua mặt người dân;

Phần 4: cung cấp thông tin về việc sử dụng tiền cho việc đền bù, đặc biệt là công việc bảo đảm an sinh của ngườì dân và nghiên cứu khoa học nhằm phục hồi lại chức năng sinh thái của các hệ sinh thái biển;

Phần 5: kết luận và yêu cầu.

1. Phân bố và những giá trị của các hệ sinh thái biển (rừng ngập mặn, cỏ biển và san hô) của Việt Nam

1.1. Đa dạng sinh học biển Việt Nam

Vùng biển Đông Nam Á được đánh giá là vùng biển bậc nhất của của hệ sinh thái biển trên thế giới về mức độ đa dạng thành phần loài sình vật. Hình 1 bản đồ hệ số đa dạng sinh học dựa trên chỉ số Shannon’s Index (SI) (hệ số đo lường mức đa dạng về thành phần giống loài các sinh vật biển) được Tổ chức Môi trường Thế giới UNEP đánh giá và xếp loại năm 2014. Nằm giáp ngay với Philippines và gần với Indonesia, tuy nhiên, mức độ đa dạng sinh học của hệ sinh thái biển của Việt Nam lại kém hơn rất nhiều so với mức độ đa dạng sinh học của Philippines và Indonesia. Điều này là do yếu tố kiến tạo địa tầng tự nhiên. Vùng biển từ Quảng Ngãi ra tới Quảng Ninh và vùng biển Kiên Giang chỉ số SI được đánh giá từ 5,4 đến 6,5 với vùng mở rộng ra cả vùng bên ngoài quần đảo Hoàng Sa hoặc sang tới vùng biển của Campuchia. Tuy nhiên, vùng từ Quảng ngãi trở vào Vũng Tàu, chỉ số SI không thay đổi nhưng chỉ một dải hẹp sát bờ, còn lùi ra vài chục km mức độ đa dạng sinh học đã giảm xuống chỉ ở mức 4,3 đến 5.4. Đặc biệt vùng biển của vùng ĐBSCL (Đồng bằng sông Cửu Long), chỉ số SI chỉ còn đạt 3,2 đến 4.3 [1].

clip_image002Hình 1: Bản đồ biểu diễn chỉ số Shannon’s Index of Biodiversity năm 2014 (Nguồn UNEP)

1.2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển kéo dài dọc đất nước lên đến 3290 km. Tuy nhiên, sự phân bố và độ phủ (diện tích) cũng như năng suất sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM) của Việt Nam lại rất hẹp và thấp. Hình 2. Phân bố và năng suất sinh học (NSSH) RNM chủ yếu phân bố ở vùng ĐBSCL. NSSH của RNM ở vùng ĐBSCL và vùng miền Trung từ Nghệ An đến Đà Nẵng tuy chỉ ở mức trung bình của thế giới nhưng lại là những vùng có NSSH cao của RNM Việt Nam. Vùng RNM của các tỉnh ven biển phía bắc NSSH tương đối thấp. Ở Việt Nam đã ghi nhận 35 loài chủ yếu và 40 loài tham gia rừng ngập mặn [2]. Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (BTB), gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế) có 30.974 ha đất ngập mặn, trong đó có 1.885 ha có RNM, 2.505 ha đất nuôi trồng thủy sản (NTTS), và 26.584 ha đất tiềm năng trồng RNM hoặc NTTS [3].

clip_image003Hình 2: Bản đồ phân bố và năng suất sinh học rừng ngập mặn Việt Nam năm 2014 (Nguồn: UNEP) [4].

1.3. Hệ sinh thái cỏ biển

Khác với các loài rong biển là thực vật bậc thấp. Cỏ biển là những thực vật bậc cao, tổ chức cơ thể phân chia thành thân rễ lá. Hệ sinh thái cỏ biển thường phân bố rất rải rác nơi nền đáy cát, hoặc cát với rất ít bùn, nhiều ánh sáng. Cỏ biển phân bố ở vùng nước sâu thường không quá 6 m. Thành phần loài cỏ biền rất ít. Hình 3 cho thấy ở vùng biển đa dạng nhất Philippines chỉ đạt 12-15 loài. Ở vùng biển Bắc Trung Bộ của Việt Nam số loài chỉ đạt ở mức 3-6, vùng từ Phú Yên đến Ninh Thuận thành phần loài có thể tăng lên đến 7-9. Trong khi đó vùng bờ biển của ĐBSCL nơi biển đục do phù xa nhiều không là môi trường thích hợp cho những loài cỏ biển sống đáy cần nhiều ánh sáng để quang hợp phát triển. Ở Việt Nam đã tìm được 16 loài cỏ biển. Diện tích cỏ biển tại 4 tỉnh miền Trung nơi bị ảnh hưởng trực tiếp từ thảm họa Formosa Vũng Áng là 2.170 ha (Bảng 1)

Bảng 1: Diện tích cỏ biển phân bố ở vùng biển 4 tỉnh miền Trung Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng [5].

clip_image005

clip_image007

Hình 3: phân bố (năm 2015) và mức độ đa dạng thành phần loài (năm 2003) của hệ sinh thái cỏ biển ở Việt Nam (Nguồn: UNEP) [6].

1.4. Hệ sinh thái san hô

Hệ sinh thái san hô, đó là một hệ sinh thái đặc thù, ở đó san hô là những loài động vật phát triển nên một nền đáy đá, đá vôi, là động vật nhưng các loài san hô đều phải sống cộng sinh với các loài tảo (ngoại trừ các loài san hô sừng phát triển ở các vùng biển sâu). Chính vì thế, hệ sinh thái san hô thường phân bố ở những vùng biển có độ sâu không quá 30 m, nơi cường độ ánh sáng trong nước có thể đáp ứng như cầu quang hợp của các loài tảo sống cộng sinh. Hình 4 biểu diễn sự phân bố của san hô ở biển Việt Nam và ở 4 tỉnh miền Trung từ Nghệ An đến Đà Nẵng [7].

clip_image009Hình 4: Phân bố của hệ sinh thái san hô ở vùng biển Việt Nam và 4 tỉnh miền Trung năm 2015 (Nguồn: UNEP)

Theo số liệu của UNEP thì tổng diện tích phân bố của san hô toàn cầu là 284.300 km2. Indonesia và Philippines là hai quốc gia có diện tích san hô lớn nhất khoảng hơn 20.000 km2. Trong đó Việt Nam đứng ở vị trí 35 về diện tích san hô trên thế giới, với tổng diện tích là 1270 km2 so với Indonesia và Philippines. Trung Quốc đứng thứ 31 với diện tích là 1510 km2 [8].

Vùng biển Việt Nam tập trung khoảng 340 loài san hô trong tổng số 800 loài của thế giới, phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam. Rạn san hô biển tập trung với mật độ cao ở vùng biển Nha Trang, Trường Sa, Hoàng Sa, biển Hòn Mun-Khánh Hòa. Sống cùng với hệ sinh thái này là trên 2000 loài sinh vật đáy và cá trong đó khoảng 400 loài cá san hô cùng nhiều hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, bào ngư, trai ngọc, hải sâm… Ở Vịnh Hạ Long, phát hiện được 205 loài san hô cứng, 27 loài san hô mềm. Ở Côn Đảo, có 219 loài san hô, tập trung thành khu vực lớn kèm theo 160 loài cá san hô [9].

Cùng với hai hệ sinh thái RNM và cỏ biển, hệ sinh thái san hô đóng góp giá trị kinh tế cao nhất hành tinh về giá trị sinh thái. Nếu quản lý tốt 1 km2 hệ sinh thái san hô hàng năm có thể cung cấp 15 tấn cá và các loại đặc hải sản. Giá trị sinh thái và giá trị về đa dạng sinh học của hệ sinh thái san hô (TEEB = the Economisc of Ecosystems and Biodieversity) là khoảng 1.25 USD/ha/năm từ dịch vụ du lịch, bảo vệ đới bờ, bảo vệ sinh học và nguồn lợi thủy sản [10].

2. Phương pháp đánh giá các giá trị kinh tế của các hệ sinh thái biển

Một nghiên cứu tổng kết đánh giá những giá trị sinh thái của 9 hệ sinh thái đặc biệt toàn cầu dưới sự kết hợp giữa các trường đại học đến từ Mỹ, Anh, Châu Âu và các tổ chức Liên Qiệp Quốc như UNEP và Viện Nghiên cứu Tài nguyên môi trường của Châu Âu năm 2012 đăng trên tạp chí Ecosystem Service, Elsevier [11]. Dựa vào kết quả của 320 nghiên cứu cho 300 điểm nghiên cứu cứu trên toàn cầu, với bốn nhóm thông số của 22 thông số (Bảng 2) và chi tiết hóa thành 90 thông số cụ thể để đo lường giá trị sinh thái của 10 loại hình sinh thái.

Bảng 2: Các nhóm và thông số đánh giá giá trị

clip_image011

10 loại hình sinh thái đặc trưng được tổng kết từ 300 điểm nghiên cứu bao gồm: 1) Vùng biển xa bờ = open sea (14); 2) Hệ sinh thái san hô = coral reefs (94); 3) Hệ sinh thái ven bờ = coastal systems (28); 4) Hệ sinh thái đất ngập nước ven biển = coastal wetlands (139); 5) Hệ sinh thái đất ngập nước ngọt = inland wetlands (168); 6) Hệ sinh thái sông hồ = Rivers and lakes (15); 7) Hệ sinh thái rừng nhiệt đới = tropical forest (96); 8) Hệ sinh thái rừng ôn đới = temperate forest (58); 9) Hệ sinh thái rừng gỗ = woodlands (21); 10) Hệ sinh thái đồng cỏ = grass lands (32). Các giá trị trung bình, lớn nhât và nhỏ nhất của mỗi loại hình sinh thái biểu diễn ở Bảng 3. Bốn hệ sinh thái trong khung màu đỏ là các hệ sinh thái biển. Sẽ được sử dụng để thảo luận và tính toán cho Phần 3 áp dụng cho đánh giá thiệt hại của thảm họa Formosa Vũng Áng.

Bảng 3: Giá trị sinh thái của 10 loại hình sinh thái (USD/ha/năm tính vào thời điểm giá USD năm 2007)

clip_image013

Việc tính toán này được tính theo các tỷ số để cần bằng tôi đa giữa các vùng miền, giữa các hệ sinh thái, và được qui đổi từ tiền địa phương ra đồng Đô la tại thời điểm năm 2007.

Như vậy:

Hệ sinh thái vùng biển xa bờ có tổng số giá trị kinh tế là 491 USD/ha/năm, thấp nhất trong 4 hệ sinh thái biển và ven bờ. Trong đó có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số từ 1 đến 4 là: 491 USD = 102 + 65 + 5 + 315 USD.

Hệ sinh thái san hô có giá trị vượt lên rất nhiều so với các hệ sinh thái khác. Trong đó tổng giá trị và lần lượt các giá trị đóng góp cho các nhóm thông số từ 1 đến 4 là: 352.249 USD = 55.724 + 171.478 + 16.210 + 108.837 USD.

Hệ sinh thái ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 28.917 USD = 2.396 + 25.847 + 375 + 300 USD.

Hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 193.845 USD = 2.998 + 175.515 + 17.138 + 2.193 USD

Kết quả chi tiết giá trị đóng góp của mỗi loại hình sinh thái ứng với mỗi thông số của 4 nhóm thông số và 22 thông số chi tiết với giá trị trung bình. Đây là bảng dữ liệu thuyết phục để sử dụng tính toán cho thảm họa Formosa Vũng Áng thiệt hại lên các hệ sinh thái ven biển 4 tỉnh miền Trung, và cũng là cơ sở tính toán phân phối tiền đền bù cho người dân, cũng như tiền lưu trữ cho an sinh xã hội liên quan đến sự mất mát cho đến khi phục hồi của các hệ sinh thái này. Đa dạng sinh học và mức độ phân bố của các hệ sinh thái biển Việt Nam hầu hết đều nằm ở ngưỡng trung bình so với thế giới. Vì thế giá trị trung bình ở Bảng 4 là thuyết phục áp dụng cho thực tế ở Việt Nam.

Bảng 4: Tính toán chi tiết giá trị sinh thái cho mỗi 22 thông số của mười loại hình sinh thái (USD/ha/năm)

clip_image015

3. Tính toán thiệt hại sinh thái do thảm họa Formosa Vũng Áng

Theo thông báo của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà ngày 30 tháng 6 về thảm họa Formosa Vũng Áng, thì tổng thiệt hại diện tích san là 400 ha, chiếm 50% diện tích san hô phân bố ở 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng. Mặc dù ông Trần Hồng Hà cùng quan chức Chính phủ cho rằng hệ sinh thái RNM không bị ảnh hưởng và không tính hệ sinh thái cỏ biển trong khu vực. Nhưng kết quả người dân cho biết nhiều nơi RNM bị chết. Vì thế trong bài này việc tính toán được dựa trên diện tích thống kê của các báo cáo khoa học trong nước.

Vùng biển xa bờ, tại thời điểm này chưa có đánh giá về ảnh hưởng của chất thải Formosa đến vùng biển xa bờ.

Hệ sinh thái san hô: 400 ha san hô đã bị chết, tại thời điểm chính quyền Hà Nội điều tra, tháng 5 và tháng 6 năm 2016. Tuy nhiên, việc đánh giá ảnh hưởng lên hệ sinh thái san hô sẽ còn phải tiếp tục. Những chỗ san hô chết hiện nay là do nồng độ quá cao của độc tố, chết do sốc. Nhưng dư lượng của chất độc vẫn còn tồn dư nhiều trong trầm tích đáy và rất nhiều hấp thụ vào những khoang cơ thể của san hô. Chỉ cần một lượng rất nhỏ [độc tố này – BVN] san hô sẽ âm thầm chết. Việc đánh giá ảnh hưởng của độc tố từ xả thải của Fomosa xảy ra hồi đầu tháng 4 năm 2016 cần phải tiến hành lên hàng chục năm. Việc tính toán thiệt hại ở bài viết này đối với hệ sinh thái san hô mới chỉ dừng lại ở mức thiệt hại trước mắt. Dựa vào thông tin Phần 2, 1 ha san hô một năm cung cấp 352.249 USD = 55.724 + 171.478 + 16.210 + 108.837 theo 4 nhóm thông số đánh giá ở trên ta sẽ có kết quả áp dụng cho 400 ha, san hô bị phá hủy do thảm họa Formosa Vũng Áng và áp dụng cho 50 năm với hy vọng sự phục hồi của hệ sinh thái san hô, kết quả thu được như ở Bảng 5.

Hệ sinh thái ven bờ, chỉ môi trường ven bờ nói chung. Với 20 hải lý (= 37,04 km) chiều ngang tính từ bờ biển ra. Vùng ảnh hưởng mà độc tố đã quét dọc theo bờ biển 4 tỉnh miền Trung là 250 km. Như vậy tổng diện tích vùng ven bờ cũng là hệ sinh thái ven bờ là 30,04 km (rộng) × 250 km (dài) = 9.260 km2 (=926.000 ha). Tính toán cho mặt nước, thì tổng diện tích mặt nước sẽ là 926.000 ha. Và với hệ sinh thái ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 28.917 USD = 2.396 + 25.847 + 375 + 300 USD. Vì dòng hải lưu và biển mở, nên trường hợp này tính toán áp dụng cho 1 năm. Kết quả ở mục 3.1 Bảng 5. Tuy nhiên, ảnh hưởng vùng này đối với hệ sinh thái nền đáy sẽ được trù đi diện tích cỏ biển là 2.170 ha, và 800 ha san hô, và cũng áp dụng cho ít nhất là 30 năm (cơ sở từ thảm họa Minamita). Ta có kết quả thiệt hại đối với hệ sinh thái ven biển từ thảm họa Formosa Vũng Áng như mục 3.2 Bảng 5.

Ở Bảng 1, ta có 2.170 ha hệ sinh thái cỏ biển nằm trong vùng bị tàn phá bởi thảm họa Formosa Vũng Áng. Với kết quả từ Phần 2: Hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ có giá trị tổng và các giá trị cho các nhóm thông số là: 193.845 USD = 2.998 + 175.515 + 17.138 + 2.193 USD. Và cũng áp dụng cho 30 năm (cơ sở từ thảm họa Minamita). Ta có kết quả như ở Bảng 5.

Ở mục 1.2, ta có có 30.974 ha đất ngập mặn nằm trong vủng Bắc Trung Bộ, trong đó có 1.885 ha có RNM, 2.505 ha đất nuôi trồng thủy sản (NTTS), và 26.584 ha đất chưa sử dụng. Và cũng áp dụng với hệ sinh thái đất ngập nước ven bờ, và 30 năm như tình toán cho cỏ biển. Ta sẽ có kết quả lần lượt cho giá trị thiệt hại lên RNM, đất NTTS và đất chưa sử dụng như mục 4.2, 4.3 và 4.4 Bảng 5 như sau.

Bảng 5. Thiệt hại sinh thái của thảm họa Formosa Vũng Áng lên hệ sinh thái biển đọc 4 tỉnh miền Trung (đơn vị: USD)

clip_image017

Ghi chú: (NA: không áp dụng)

4. Sử dụng và quản lý tiền đền bù

Theo phương pháp tính toán như ở Phần 2 và kết quả ở Bảng 5, thì:

4.1. Sử dụng

+ Số tiền thiệt hại hơn 70 tỷ USD ở cột (1) Bảng 5, là những giá trị được tính bằng những giá trị hàng hóa, có giá cả trực tiếp ở thị trường (direct market values). Phần này chính là nguồn tài nguyên phục vụ trực tiếp cho những người dân có những hoạt động liên quan đến đánh bắt và tiêu thụ các sản phẩm do đánh bắt từ biển ít nhất 50 năm, nghĩa là 3 thế hệ người Việt phải tối thiểu đam bảo cuộc sống cũng gia đình như việc học hành của con cái. Phần này bổ sung cho phần tính toán của luật sư Lê Văn Luân và Trịnh Mộc Thường [12, 13]. Một phần sẽ được dùng chi trả cho việc nghiên cứu phục hồi nguồn dược liệu và phục hồi nguồn gene từ môi trường biển.

Trong khi đó số thiệt hại ở các cột (2) (3) (4) là những giá trị không trực tiếp từ thị trường (indirect maker values), nó mang nặng giá trị chức năng phục vụ của các hệ sinh thái.

+ Số tiền thiệt hại hơn 889 tỷ USD ở cột (2) Bảng 5, chính là sự thiệt hại vì mất đi qui luật tự nhiên về chức năng cân bằng sinh thái. Nghĩa là sau khi bị thảm họa, các hệ sinh thái biển này không còn chức năng tự nhiên của nó. Khoản thiệt hại này chiến gần hết số tiền thiệt hại. Số tiền thiệt hại này sẽ được dùng trong các hoạt động nghiên cứu và xây dựng cho mục đích phục hồi các chức năng tự nhiên của các hệ sinh thái.

+ Số tiền thiệt hại hơn 27 tỷ USD ở cột (3) Bảng 5, chính là số sự thiệt hại do các sinh vật mất đi vùng sinh sản, và sâu xa hơn là mất đi nguồn gene khi quá trình sinh sản đã bị ảnh hưởng. Số tiền này sẽ được sử dụng trong các nghiên cứu phục hồi các bãi sinh sản và vườn ươm sinh thái dưới đáy biển.

+ Số tiền thiệt hại hơn 12 tỷ USD ở cột (4) Bảng 5, chính là số tiền thiệt hại đối với các dịch vụ du lịch và liên quan du lịch biển, và các nhu cầu về giải trí nghệ thuật liên quan biển. Một phần số tiền này sẽ được sử dụng để chi trả cho các hoạt động du lịch biển, và các dịch vụ phục phụ du lịch kèm theo. Một phần số tiền này sẽ được sử dụng cho các hoạt động nhằm duy trì và phát triển các loại hình nghệ thuật liên quan đến biển.

4.2. Quản lý

– Số tiền này sẽ được quản lý bằng một ủy ban độc lập do dân bầu ra, thành phần là những người đại diện của những nhóm bị tổn thương bao gồm cả các ngư dân, nhà khoa học, nhà nghệ thuật…

– Nhóm đại diện quản lý đại diện này phải xây dựng lộ trình và kế hoạch sử dụng số tiền này và các hoạt động đảm bảo an sinh và phục hồi sinh thái cho chặng đường 30 và 50 năm.

– Tất cả mọi hoạt động của ủy ban này cùng việc sử dụng số tiền này phải được trưng cầu và giám sát của người dân.

5. Kết luận và yêu cầu

– Áp dụng 50 năm phục hồi của san hô và 30 năm phục hồi của các hệ sinh thái cỏ biển, RNM (chủ yếu là nền đáy) thì tổng thiệt hại qui ra USD sẽ là 1.000.553.486.297 (1000 tỷ USD) không bao gồm tiền nạo hút cải tạo môi trường. Yêu cầu chính quyền Hà Nội cung cấp báo cáo điều tra chi tiết để các nhà khoa học đánh giá độ tin cậy về thông báo kết quả của chính quyền. Nếu không người dân có quyền đòi Formosa bồi thường như tính toán trong bài viết này. Và quan trọng là KHÔNG FORMOSA.

– Việc áp dụng 30 năm cho sự phục hồi đối với các hệ sinh thái cỏ biển, RNM, vùng ven biển và đất ngập nước khác, là dựa trên cơ sở dữ liệu từ thảm họa thủy ngân ở Vinh Minamita. Mức thiệt hại này sẽ giảm đi theo số năm, tùy thuộc vào mức độ hút nạo đáy biển rửa tấy chất độc mà Formosa thực hiện.

– Yêu cầu chính quyền Hà Nội cung cấp tên theo danh thức hóa học của gần 300 loại hóa chất mà Formosa nhập và sử dụng. Từ đó sẽ giúp người dân và các nhà khoa học giám sát việc tẩy rửa chất độc mà Formosa sẽ thực hiện.

– Bản tính toán này được dựa trên mức tái tạo của hệ sinh thái san hô là 50 năm, và với diện tích 400 ha. Tuy nhiên, thực tế việc chính quyền Hà Nội kết luận chỉ 400 ha san hô bị ảnh hưởng là không thỏa đáng. Những mảng san hô chưa bị chết trắng đang đứng đó đã không còn chức năng sinh thái nữa, chúng có thể sẽ chết dần mòn trong tương lai.

– Việc bỏ qua thiệt hại về RNM và hệ sinh thái cỏ biển cũng như các hệ sinh thái khác, càng chứng tỏ chính quyền Hà Nội không thực tâm trong việc kiềm soát xả thải của Formosa cũng như việc bảo về tài nguyên thiên nhiên của VN.

N.T.H.Y.

__________

Chú thích:

[1] http://data.unep-wcmc.org/

[2] (http://de.slideshare.net/NinhHuong/rng-ngp-mn)

[3] http://xttm.agroviet.gov.vn/Site/vi-vn/76/tapchi/141/145/824/Default.aspx

[4] http://data.unep-wcmc.org/datasets/39

[5] http://lrc.tnu.edu.vn/upload/collection/brief/46439_842015103129hesinhthaicobien.pdf.

[6] http://data.unep-wcmc.org/datasets/9

[7] http://data.unep-wcmc.org/datasets/1

[8] http://coral.unep.ch/Coral_Reefs_files/reef%20area%20by%20country%20.jpg

[9] http://www.biendong.net/the-gioi-dai-duong/tai-nguyen-bien/1366-tim-hiu-h-sinh-thai-rn-san-ho.html

[10] http://coral.unep.ch/Coral_Reefs.html

[11] http://ac.els-cdn.com/S2212041612000101/1-s2.0-S2212041612000101-main.pdf?_tid=8e95a3cc-41b5-11e6-9be1-00000aab0f02&acdnat=1467616051_aac27473c311f348bf70cf7bb9040a6b.

[12] và [13] https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/03/8999-uoc-tinh-mot-phan-thiet-hai-kinh-te-do-formosa-gay-ra/

Nguồn : https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/05/9022-formosa-can-boi-thuong-1-000-ty-usd-va-dong-cua-formosa-ha-tinh/

 

Kẻ đào mồ chôn Biển, Cá và Người Việt tên là MCC

Thục Quyên (SAVE VIETNAM´s NATURE)

MCC là Metallurgical Corporation of China Ltd. Tập đoàn Công ty Luyện kim Trung Hoa.

Tất cả tin tức liên quan đến vai trò của MCC trong dự án Khu liên hợp Gang Thép và Cảng Sơn Dương Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh, được đăng tải rõ ràng, không thiếu phần kiêu hãnh, trên trang nhà của MCC.

MCC là một doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc có trụ sở ở Bắc Kinh, chuyên ngành về thiết kế, đấu thầu và xây dựng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất giấy, chế tạo thiết bị, phát triển địa ốc. MCC là một trong những nhà sản xuất thiết bị lớn nhất, là nhà tiên phong cũng như sức mạnh chính của nền công nghiệp luyện kim Trung Quốc và là doanh nghiệp nhà nước duy nhất được vận chuyển những công ty sản xuất bột làm giấy và giấy tại Trung Quốc và ở nước ngoài.

Ngày 08/12/2015, MCC sáp nhập và trở thành công ty thuộc toàn quyền sở hữu của China Minmetals.

MCC dưới lớp vỏ Công ty trách nhiệm hữu hạn Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh

1. Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa (Formosa Hà Tĩnh) là chi nhánh của Tập đoàn Nhựa Formosa Đài Loan (FPG Formosa Plastics Group) thành lập từ năm 1958 nguyên là một công ty sản xuất nhựa nhiệt dẻo và PVC, nay trở thành một công ty tổ hợp công nghiệp đa ngành, có mạng lưới 4 đơn vị lớn và hàng trăm công ty con.

Lĩnh vực làm việc truyền thống của 4 đơn vị lớn nhất của Tập đoàn FPG bao gồm:

– Formosa Plastics Corp và Nan Ya Plastics (sản xuất nhựa);

– Formosa Petrochemical (hóa dầu); và

– Formosa Chemicals &Fibre (sợi nhựa, vải).

2. Nhà thầu chính của Formosa Hà Tĩnh là MCC

Một buổi lễ long trọng được tổ chức tại trụ sở chính của MCC ngày 10/10/2012 chào mừng việc ký kết Ý định thư (Letter of Intent) giữa Tập đoàn MCC và Formosa Hà Tĩnh.

Theo đó, khởi đầu, 3 công ty con của MCC là:

1. Công ty Kỹ thuật CISDI (CISDI Engineering Group);

2. Công ty Cổ phần Quốc tế Kỹ thuật Changtian của MCC (CIE /Changtian International Engineering Corporation of MCC); và

3. Công ty Tư vấn Kỹ thuật công trình Luyện coke và Chịu nhiệt thuộc MCC (Coking & Refractory Engineering Consulting Corporation of MCC (ACRE)

sẽ lần lượt phụ trách những dự án khác nhau của Formosa Hà Tĩnh bao gồm:

– xây lò luyện sắt;

– thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và xây dựng lò sưởi;

– thiết kế thiêu kết;

– trang thiết bị và mở lớp huấn luyện;

– xây dựng, thiết kế và trang bị lò coke. (link)

clip_image002

Lễ ký Ý định thư (Letter of Intent) tổ chức tại trụ sở chính của MCC.

3. Trên trang nhà của Công ty con MCC Shangai Baoye Group Corp.,Ltd, trong phần giới thiệu các dự án xây cất tại nước ngoài, đã trưng hình ảnh Dự án Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa Hà Tĩnh Steel Corporation) cũng như Nhà máy Giấy Chánh Dương (Zheng yang) tại Việt Nam. (link)

clip_image004

Formosa Ha Tinh Steel Corporation Converter & Continuous Casting Project 2013.05-2015.11

clip_image006

Formosa Ha Tinh Steel Corporation Converter & Continuous Casting Project 2013.05-2015.11

clip_image008

Vietnam Zhengyang Paper Plant Project 2015.12-2016.12

Ngày 18/9/2013, Công ty Baoye Thượng Hải (Thuộc MCC) đăng tuyển nhân viên trên Facebook và tự mô tả như sau:

Công ty cổ phần tập đoàn Zhongye (MCC) với vị trí đang là một trong những tập đoàn thầu công trình luyện kim lớn nhất trên thế giới. Tính tới thời điểm hiện tại, những hạng mục công trình lớn của Trung Quốc đều cho MCC phụ trách. MCC hiện nay có rất nhiều văn phòng đại diện và các dự án lớn ở các quốc gia khác nhau, MCC hiện đứng thứ 280 trong top 500 tập đoàn lớn mạnh nhất thế giới.

Công ty Baoye Thượng Hải (thuộc MCC) hiện là nhà thầu chính của Dự án Formosa xây dựng nhà máy gang thép tại tỉnh Hà Tĩnh. Dự án Formosa hiện là dự án có tổng số vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam.

Hình thức liên hệ:

Ms Quỳnh: Email: quynhtran.ulis@gmail.com

Mr Chen: Email: 1436328351@qq.com

4. Cuộc viếng thăm Tập đoàn Nhựa Formosa (FPG) và Formosa Hà Tĩnh của ông Guo Wenqing, Chủ tịch MCC (link)

Ngày 23-24/04/2015, Chủ tịch MCC Guo Wenquing đã thân chinh đến gặp ông William Wang, Chủ tịch và bà Susan Wang, Phó chủ tịch FPG cũng như ông Chen Yuang Cheng, Chủ tịch Formosa Hà Tĩnh.

Cuộc gặp gỡ nhằm mục đích kiểm lại mối quan hệ lịch sử giữa hai tập đoàn và bàn soạn những hợp tác mới trong tương lai. Quan hệ lịch sử vì năm 1989, sau “Cuộc thảm sát Thiên An Môn”, trong khi toàn thế giới ngưng thở vì sự tàn bạo của Chính phủ Trung Quốc, và tất cả mọi động thái thương mại và đầu tư nước ngoài dừng lại, thì Tập đoàn Nhựa Formosa Đài Loan FPG trở thành đại công ty đầu tiên đầu tư vào Trung Quốc, bất cần suy nghĩ hay lưu tâm đến những vi phạm nhân quyền trầm trọng của nước này.

Sau những lời quảng cáo hoa mỹ về MCC như là một hình ảnh tiêu biểu của ngành công nghiệp luyện kim Trung Quốc, cung cấp tất cả những dịch vụ từ khảo sát,thiết kế, xây dựng, sửa chữa tới điều phối, Guo Wenqing đã khen ngợi tình thần trách nhiệm cuả FPG đã phản ánh tinh thần yêu nước của mình và tình cảm anh em hướng tới các công dân Trung Hoa lục địa nhân những cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam năm 2014, và đã cho thấy sự liên quan chặt chẽ cùng mục tiêu chung của hai tập đoàn.

Guo nhấn mạnh sự kiện hai dự án luyện kim duy nhất trên thế giới ở mức 10 triệu tấn là dự án Formosa Hà Tĩnh và dự án Zhanjang Quảng Đông đều được ký hợp đồng với MCC (dự án Zhanjang do công ty Baosteel phụ trách), chứng tỏ khả năng cạnh tranh của MCC trong lĩnh vực xây dựng các công ty luyện kim cũng như sự tin tưởng của FPG vào MCC.

Mặc sự cố bất lợi đã xảy ra, cùng với môi trường địa lý, khí hậu và hậu cần cụ thể của Việt Nam đặt ra những thách thức cho MCC, tiến độ của dự án Formosa Hà Tĩnh hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Với phân tích cẩn thận, quy hoạch khoa học và quản lý, MCC tự tin có thể đảm bảo với FPG rằng phần chính của dự án Formosa Hà Tĩnh sẽ được hoàn tất trước tháng mười năm nay và nhà máy sẽ đi vào hoạt động vào đầu tháng Ba năm sau.

Guo hứa hẹn, MCC sẽ hết sức nổ lực hỗ trợ FPG, để đáp lại tinh thần trách nhiệm của FPG đối với công nhân MCC. (1)

MCC sẽ cử các tài năng tuyệt vời và các nhóm làm việc, dùng những sáng kiến để khắc phục những khó khăn khách quan và hoàn thành dự án Formosa Hà Tĩnh đúng tiến độ. MCC cũng sẽ liên tục tối ưu hóa kỹ thuật và xây dựng để giúp Formosa Hà Tĩnh trở thành một gương sáng thế giới trong ngành công nghiệp luyện kim.

Ngoài ra, sau khi nhà máy đi vào hoạt động, MCC sẽ để nhân sự lại bảo đảm một số kỹ thuật rường cột và về mặt xây dựng. Công ty TNHH Dịch vụ Công Nghệ Baosteel (Baosteel Technology Services Co., Ltd) sẽ được chỉ thị cử đội chuyên nghiệp để thành lập Công ty Dịch vụ MCC FPG Hà Tĩnh (MCC FPG Ha Tinh Steel Service Company) để cung cấp theo dõi các dịch vụ như sản xuất, bảo trì, phối hợp và đảm bảo hoạt động trơn tru cho công ty luyện kim.

Ông Guo Wenqing kết luận, FPG và MCC ngoài các dự án hiện tại còn cần đẩy mạnh chiều sâu hợp tác trong tương lai để làm tăng tối đa lợi nhuận của mỗi bên.

Về phía FPG, Chủ tịch William Wang và Phó chủ tịch Susan Wang mô tả dự án Formosa Hà Tĩnh như một gương sáng về sự hợp tác giữa hai tập đoàn FPG và MCC, và rất khen ngợi kế hoạch hình thành Công ty dịch vụ MCC-FPG-Formosa Hà Tĩnh để theo dõi và điều động sự vận hành của nhà máy.

Ông Chen Yuang Cheng, Chủ tịch Formosa Hà Tĩnh, ngỏ ý mong mỏi MCC phân bổ các nguồn lực như nhân lực và thiết bị /công cụ hiệu quả hơn để nổ lực hoàn thành các công trình chính trước mùa mưa sắp tới và để đảm bảo rằng dự án sẽ được đưa vào hoạt động vào tháng Ba năm sau như dự kiến.

Trong cuộc tiếp xúc giữa FFG/Formosa Hà Tĩnh với nhà thầu chính MCC, có mặt đại diện những nhà thầu phụ là các công ty con của MCC hoạt động trong dự án Formosa Hà Tĩnh:

– Zhang Mengxing, Chủ tịch và Kế toán trưởng của MCC quốc tế;

– Xiao Xuewen, Chủ tịch nhóm CISDI/MCC;

– Tian Ye, Chủ tịch Công ty The China 19th Metallurgical Corporation;

– Zhou Qing, Chủ tịch Công ty TNHH Dịch vụ Công Nghệ Baosteel (Baosteel Technology Services Co., Ltd);

– Wang Shilei, Chủ tịch Công ty TNHH Baoye Thượng Hải (Shanghai Baoye Group Corp., Ltd.) -Xu Yongjie, giám đốc Vụ Quản lý dự án MCC tại nước ngoài;

– Fan Yaozhong, Tổng đại diện MCC tại Việt Nam;

– Wu Guoxiong, Tổng giám đốc Công ty Công nghiệp nặng Formosa (Formosa Heavy Industry);

– Hong Chongfa, Phó tổng giám đốc Công ty Công nghiệp nặng Formosa; và

– Zhang Funing, Phó tổng giám đốc Formosa Hà Tĩnh.

Bước đầu của tự vệ là trực diện mối nguy

– Trang nhà của MCC cho biết sự có mặt đa dạng của Tập đoàn này không chỉ giới hạn tại Formosa Hà Tĩnh mà trong gần như tất cả các dự án công nghiệp lớn của Việt Nam.

– Nhà nước Việt Nam trong quá trình thành lập Formosa Hà Tĩnh đã đồng thuận trong việc FPG đứng làm vỏ bọc cho MCC và các công ty con của MCC nắm hoàn toàn quyền quyết định về nhân lực, thiết bị và công cụ để vận hành Formosa Hà Tĩnh.

– Nhà nước Việt Nam do đó biết rõ phải đối phó với Chính phủ Trung Quốc ngay từ phút đầu của thảm họa môi trường biển Việt Nam vì MCC và tất cả các công ty con của MCC đều là doanh nghiệp nhà nước. Đó là lý do của sự trì trệ trong việc khởi sự tìm thủ phạm ô nhiễm môi trường, từ chối đề nghị giúp đỡ điều tra của Liên Hiệp Quốc và Mỹ.

– Cần tìm hiểu tại sao âm mưu ém nhẹn vụ việc và đàn áp sự kháng cự mãnh liệt của người dân Việt của Trung Quốc (mượn tay nhà cầm quyền Việt Nam) bắt buộc phải đổi dạng thành vở kịch Formosa Hà Tĩnh nhận tội và hứa bồi thường số tiền lố bịch 500 triệu Mỹ kim?

T.Q.

__________

(1) http://www.reuters.com/article/us-metallurgical-cn-vietnam-idUSBREA4K02720140521

Sau những cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam tháng 4 năm 2014, FPG đã hợp tác với MCC đưa 307 công nhân Trung Hoa về Chengdu và 3,567 về Hainan. Con số 3874 công nhân Trung Hoa tại thời điểm này là bằng chứng hiển nhiên cho số lượng lớn những công nhân không có giấy phép làm việc mà vẫn có mặt tại Formosa Hà Tĩnh. Nhà nước Việt Nam không dám lên tiếng chất vấn nhưng chấp nhận ngồi vào bàn thương lượng đền bù tổn phí cho Formosa Hà Tĩnh.

Chủ tịch Formosa Hà Tĩnh Lin Hsin-I cho tờ The Wall Street Journal biết tổn phí này được tính là 10 triệu đô la Mỹ cho mỗi ngày công ty không làm việc cộng thêm 3 triệu đô la đền bù cho những hư hại vật chất (link).

Tác giả gửi BVN.

http://www.boxitvn.net/bai/43719

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: