Thư của Quỹ Bảo vệ Biển Đức gửi ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng TN-MT -Những nguy cơ “chưa lường hết” từ dự án Formosa

Tranh luận giữa TS Nguyễn Đức Thắng và kỹ sư Nguyễn Minh Quang

TS NGUYỄN ĐỨC THẮNG PHÚC ĐÁP BÀI NGHI VẤN VỀ “CHÂN LÝ KHOA HỌC” CỦA NGUYÊN NHÂN CÁ CHẾT HÀNG LOẠT Ở MIỀN TRUNG CỦA KỸ SƯ NGUYỄN MINH QUANG

Những nguy cơ “chưa lường hết” từ dự án Formosa

TS. Nguyễn Thành Sơn

Thư của Quỹ Bảo vệ Biển Đức gửi ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng TN-MT

Quỹ Bảo vệ Biển Đức

Dịch giả: Trần Đức

28-7-2016

Ảnh chụp bức thư. Nguồn: dịch gia

Ảnh chụp bức thư. Nguồn: dịch giả gửi tới.

Lời người dịch: Việc Formosa gây ra ô nhiễm biển miền Trung không còn là điều tranh cãi. Vấn đề các nhà khoa học còn tranh luận là các kết quả xét nghiệm chưa nói lên quá trình sinh, hóa học nào đã dẫn đến cái chết hàng loạt của cá. Phát biểu của tiến sỹ Schroeder, người đã tham gia tư vấn cho chính phủ Việt Nam sau khi trở về Đức đã tạo thêm một số đề tài cho các cuộc tranh luận trên mạng:

– Vì sao các chuyên gia quốc tế không được phép lấy mẫu mang về kiểm nghiệm độc lập.

– Fomosa không phải là thủ phạm duy nhất đổ nước thải không lọc vào môi trường.

– Ở Việt Nam, tuy có các chính sách và luật môi trường, nhưng trong thực tế, hoạt động bảo vệ môi trường không tồn tại (Nguyên văn: Eine derart lange Regenerationszeit hält auch Dr. Schroeder – zumindest für die geschädigten Korallenriffe – nicht für ausgeschlossen, ursächlich dafür allerdings sieht er nicht den Einzelfall der jetzigen Katastrophe, sondern generell den praktisch nicht vorhandenen Umweltschutz in Vietnam.)

Hôm nay Quỹ nước Đức Bảo vệ biển DSM đã gửi thư khẩn cấp đến ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, kêu gọi chính phủ Việt Nam thi hành nghiêm túc các quy định hiện hành. Một bức thư tiếng Đức với nội dung tương tự cũng đã được gửi đến Đại sứ Việt Nam tại Berlin.

Kính gửi:

Bộ Trưởng Trần Hồng Hà
Bộ Tài nguyên và Môi trường
(Ministry of Natural Resources and Environment)
10 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy
Hà Nội, Việt Nam

Kính thưa ông Bộ trưởng Trần Hồng Hà,

Chúng tôi, Quỹ nước Đức Bảo vệ Biển (tiếng Đức: Deutsche Stiftung Meeresschutz / DSM), vô cùng bàng hoàng và lo ngại về thảm họa môi trường do Công ty Thép Formosa Hà Tĩnh gây ra trong tháng Tư, thảm họa đã được biết đến từ một lượng cá chết khổng lồ. Công ty Thép Formosa Hà Tĩnh đã gây ô nhiễm nặng nề vùng nước ven biển dọc theo bốn tỉnh của Việt Nam là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên – Huế và Quảng Trị, bằng cách xả nước thải không qua xử lý, nước thải nhiễm độc cao ra biển. Vì vậy, Formosa đã và sẽ tàn phá môi trường biển trong nhiều thập kỷ tới, cũng như đã huỷ hoại sinh kế của hàng trăm ngàn ngư dân, người dân nuôi trồng thủy sản cùng gia đình họ.

Theo thông tin từ truyền thông Việt Nam, Công ty Thép Formosa đã nhận trách nhiệm chính là tội phạm về môi sinh, đã xin lỗi, và xin bồi thường thiệt hại cho các gia đình bị ảnh hưởng cũng như bồi thường cho việc làm sạch biển. Tuy vậy, một số chuyên gia cho rằng có thể có nhiều hơn một thủ phạm vì rất nhiều nhà máy trong khu vực cũng xả thẳng nước thải chưa qua xử lý xuống biển.

Do đó chúng tôi kêu gọi ngài Bộ trưởng cam kết một cách chắc chắn rằng:

– Thảm họa trên một lần nữa được điều tra thật kỹ lưỡng, trong đó có cả việc điều tra các nguồn nước thải khác có thể gây ô nhiễm, có sự giúp đỡ của các nhà khoa học nước ngoài.

– Các biện pháp làm sạch biển phải được khởi xướng dựa trên điều tra toàn diện như trên, đồng thời phải sử dụng công nghệ tân tiến nhất.

– Chúng tôi cũng kêu gọi ngài Bộ trưởng bảo đảm rằng, những ai gây ra thảm họa môi trường này phải chịu trách nhiệm và nhận hình phạt nghiêm khắc nhất và chính họ phải chi trả cho những thiệt hại đã gây ra cùng chi phí cho việc làm sạch biển.

– Những người bị ảnh hưởng phải được nhận đền bù thỏa đáng cho thiệt hại của mình,

– Các cơ sở xử lý nước thải hiện đại phải được lắp đặt trên toàn quốc,

– Việc tuân thủ pháp luật về môi trường ở Việt Nam phải được theo dõi chặt chẽ và mọi vi phạm sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc để bảo đảm rằng thảm họa khủng khiếp như trên, thảm họa đã đẩy bao cuộc sống của thường dân và môi trường của Việt Nam vào mức rủi ro rất cao, phải được ngăn chặn trong tương lai.

Điều cần nhấn mạnh là: một môi trường lành mạnh là sống còn cho điều kiện làm việc và cuộc sống nhân bản cũng như cho sự phát triển của một nền kinh tế lành mạnh.

Các bài viết về thảm họa môi trường nói trên đã được công bố trên trang mạng của chúng tôi

(*) www.stiftung-meeresschutz.org/themen/verschmutzung-muell/101-formosa-steel-verursacht-umweltkatastrophe-in-vietnam

(**) www.stiftung-meeresschutz.org/themen/verschmutzung-muell/103-fischsterben-vietnamesische-kueste-grossflaechig-verseucht

Chúng tôi sẽ theo dõi chặt chẽ tiến triển của sự việc.

Chúng tôi sẽ đánh giá cao nếu ngài Bộ Trưởng có thể thông báo cho chúng tôi về các bước mà ông và chính phủ của mình có ý định làm để giải quyết vấn đề này.

Chúng tôi rất mong được trả lời của ngài Bộ Trưởng.

Chân thành cám ơn sự quan tâm của quý ngài!

Trân trọng,

Ulrike Kirsch and Ulrich Karlowski 

Tổng Giám Đốc

Quỹ Nước Đức Bảo vệ Biển/ German Foundation for Marine Conservation/Deutsche Stiftung Meeresschutz (DSM)

Địa chỉ: Deutsche Stiftung Meeresschutz (DSM)
German Foundation for Marine Conservation
Der Vorstand/Board of Directors
Ulrike Kirsch & Ulrich Karlowski
Badstr. 4
81379 Munich
Điện thoại: ++49 89/200 199 -70 / -68
Email:info@stiftung-meeresschutz.org
Website:www.stiftung-meeresschutz.org
Facebook:www.facebook.com/meeresschutz.org

____

Nguyên văn tiếng Anh: Letter to Minister Tran Hong Ha

To: Minister Tran Hong Hà

Bo Tài nguyên và Môi truong

(Ministry of Natural Resources and Environment)

10 Ton That Thuyet-Cau Giay

Ha Noi VIETNAM

Dear Minister Tran Hong Hà,

We, the German Foundation for Marine Conservation (Deutsche Stiftung Meeresschutz/DSM), are deeply shocked and concerned about the environmental disaster caused by Formosa Steel Company in Ha Tinh in April, which became known due to a massive fish die-off. Formosa Steel heavily polluted the coastal waters along four Vietnamese provinces, Ha Tinh, Quang Binh, Thua Thien-Hue and Quang Tri, by discharging untreated, highly toxic waste water into the sea, thus devastating the marine environment for decades to come and destroying the livelihoods of hundreds of thousands fishermen, aquafarmers, and their families.

According to Vietnamese media reports, Formosa Steel has assumed responsibility for the ecological crime; apologized; and offered to pay damages to the affected families and for the clean-up. However, some experts think that there might be more than one culprit because there are many factories in the area which discharge their wastewater untreated into the sea.

Therefore, we kindly urge you to make sure

that the incident is again thoroughly investigated, including investigation of other possible polluters and including the help of foreign scientists; that cleaning-up measures are initiated based on such comprehensive investigation, using state-of-the-art technology; that those responsible for the environmental disaster are held accountable and receive harsh penalties; that they pay for the damage they have caused and the clean-up; and that the people affected receive adequate compensation for their losses; that modern waste-water treatment facilities are introduced nation-wide; that the adherence to environmental laws in Vietnam is strictly monitored and that violations are harshly punished to ensure that such horrible incidents putting the lives of Vietnam’s citizens and Vietnam’s environment at extreme risk are prevented.

Not least, a healthy environment is vital for humane living and working conditions and the growth of a healthy economy.

Articles about the environmental disaster have been published on our website (www.stiftung-meeresschutz.org/themen/verschmutzung-muell/101-formosa-steel-verursacht-umweltkatastrophe-in-vietnam and www.stiftung-meeresschutz.org/themen/verschmutzung-muell/103-fischsterben-vietnamesische-kueste-grossflaechig-verseucht )

We will closely follow the developments.

We would appreciate it if you could inform us on the procedures that you and your government intend to take to address this issue.

We are looking forward to your kind reply.

Thank you for your attention.

Yours sincerely,

Ulrike Kirsch and Ulrich Karlowski

Board of Directors German Foundation for Marine Conservation/Deutsche Stiftung Meeresschutz (DSM)

————————-

Deutsche Stiftung Meeresschutz (DSM) German Foundation for Marine Conservation Der Vorstand/Board of Directors Ulrike Kirsch & Ulrich Karlowski Badstr. 4 81379 Munich

Tel. ++49 89/200 199 -70 / -68

info@stiftung-meeresschutz.org www.stiftung-meeresschutz.orgwww.facebook.com/meeresschutz.org

_____

Mời xem lại: Quỹ bảo vệ biển Đức: Bờ biển Việt Nam bị ô nhiễm diện rộng – Không hề có giải pháp làm sạch môi sinh   —  Quỹ bảo vệ biển Đức phê phán: Công ty thép Formosa gây ra thảm họa môi trường ở Việt Nam (Stiftung Meeresschutz/ BS).

https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/30/9354-thu-cua-quy-bao-ve-bien-duc-gui-ong-tran-hong-ha-bo-truong-tn-mt/

Những nguy cơ “chưa lường hết” từ dự án Formosa

TS. Nguyễn Thành Sơn
Chuyên gia tư vấn độc lập
New Technology Solutions

Thưa các quý vị,

Tôi xin phép gửi tới các quý vị trong file kèm theo bài viết thứ hai của tôi về Formosa (sau khi đã gửi cho anh Nguyễn Chân – nguyên Bộ trưởng Bộ Mỏ và Than và đã nhận được phản hồi của anh Chân). Với hy vọng có được nhiều ý kiến tư vấn khách quan cho Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT), tôi xin bầy tỏ một số ý như sau:

1/ Tôi hy vọng Bộ TNMT không tiếp tục “sờ đít voi” trong bảo vệ môi trường đối với dự án Formosa như vừa qua.

2/ Tôi thấy cách tiệm cận của phía Việt Nam khi xẩy ra sự cố môi trường Formosa như vừa qua hoàn toàn không ổn, bị Formosa đang “cười thầm trong bụng” và sẽ tiếp tục qua mặt.

3/ Cá chết chỉ là hậu quả (phần ngọn của vấn đề). Chúng ta phải truy từ nguồn gốc: từ khâu lập dự án, triển khai dự án, quy trình công nghệ, giải pháp xử lý chất thải v.v.

4/ Từ trước (1963) đến nay, ngành luyện kim đen của Việt Nam quá non trẻ và vô cùng nhỏ bé. Bây giờ phải đương đầu với một dự án lớn như Formosa, nếu không tiệm cận bài bản thì chỉ là “sờ đít voi”. Tôi thấy, cán bộ quản lý và khoa học kỹ thuật (KHKT) của Việt Nam hiện đương chức không còn ai chuyên về lĩnh vực luyện kim có đủ kiến thức để “đương đầu” với sự cố Formosa cả. Anh Trần Hồng Hà cũng chỉ là ngành khai khoáng (sau này là nghiên cứu sinh cùng trường và cùng thầy hướng dẫn với tôi là Giáo sư Viện sỹ A. Putracop).

5/ Trong công nghiệp luyện kim đen, lĩnh vực ô nhiễm độc hại nhất là “lò coke” thuộc lĩnh vực hóa-than. Về lĩnh vực này, cán bộ KHKT của chúng ta được đào tạo còn rất ít. Cả ngành khai khoáng từ thời Bộ Công Thương ngày xưa, chứ không phải Bộ Công Thương ngày nay (trước năm 1960) số cán bộ về hóa-than ít hơn hóa-dầu, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Riêng ở Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) trước năm 2005, như tôi biết cũng chỉ có một người tốt nghiệp trường Đại học Hóa Mendeleev Moscow đúng chuyên ngành hóa-than, nhưng được TKV giao làm công tác tổ chức-cán bộ ở một viện nghiên cứu. Khi được giao triển khai thử nghiệm công nghệ khí hóa than ngầm (UCG) ở bể than Đồng bằng sông Hồng, tôi tìm thì anh ấy đã về hưu mất rồi.

6/ Trong số cán bộ KHKT tham gia “Chương trình nguyên tử” (bí mật) ngày xưa có nhiều người cũng được đào tạo về hóa công nghiệp, có nhiều kinh nghiệm, nhưng chương trình đã bị giải tán và họ nay cũng U80 cả rồi.

Kính,

Nguyễn Thanh Sơn
Đặt vấn đề
Về phía cơ quan quản lý: Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã được Formosa mời đi khảo sát, và đã chứng kiến Formosa chỉ là một tập đoàn mạnh về nhựa, nhưng vẫn ưu tiên để Formosa triển khai đại dự án mang tính tổng hợp đa ngành (luyện coke, luyện gang, nấu thép, phát điện, dịch vụ cảng biển) lớn nhất trong lịch sử đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đây là việc làm vô trách nhiệm của lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh. Lý do tại sao thì chỉ có những người trong cuộc như Võ Kim Cự mới trả lời được. Gần đây, trên VTV1, ông Võ Kim Cự đã chối tội là: “không lường hết được”. Dư luận có quyền đặt câu hỏi: một cán bộ cao cấp, chắc cũng được bổ nhiệm đúng quy trình, đã được luân chuyển tới nhiều vị trí công tác như ông Cự lại không “lường” được tác hại của việc “rước voi về dầy mả tổ” như vậy? Tại sao một đại biểu Quốc hội như ông Cự lại cố tình không chấp hành luật về đất đai?
Trong ngành khai khoáng và ở Hà Tĩnh, ai cũng biết, trước khi được bổ nhiệm làm lãnh đạo tỉnh, ông Võ Kim Cự đã có “thành tích” nổi bật là làm cho ngành khai thác titan ở Hà Tĩnh trở thành con số 0. Ngoài titan, ở Hà Tĩnh còn lại một nguồn tài nguyên khoáng sản đáng kể khác là mỏ sắt Thạch Khê. Sau khi được bổ nhiệm, chính ông Võ Kim Cự đã “rước” về một dự án gang-thép khổng lồ (“voi”), nhưng quặng sắt lại “chủ yếu được nhập khẩu từ thị trường quốc tế trước hết là Úc, Ấn Độ, Brazin…” về để dùng (tr.20 của Báo cáo đầu tư). Sai lầm này đang chính thức “khai tử” mỏ sắt Thạch Khê vừa mới được triển khai – niềm hy vọng cuối cùng của ngành thép Việt Nam.
Về phía chủ đầu tư: Như mọi người đều biết, từ khi thành lập đến nay, tập đoàn Formosa – công ty “mẹ” của Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (sau đây gọi tắt là Formosa) không phải là doanh nghiệp có năng lực/kinh nghiệm về gang thép. Tại sao Formosa lại bỗng nhiên “nhẩy” vào lĩnh vực gang thép vốn không phải thế mạnh của mình? và lại “nhẩy” vào ngay khi thị trường thép thế giới bắt đầu lao dốc? Nếu nghiêm túc, có trách nhiệm và không lừa đảo, không có doanh nghiệp nào đầu tư như Formosa Hà Tĩnh. Nhưng Formosa đã dám đầu tư, vì tập đoàn này đã lựa chọn ngành nghề đầu tư không bình thường và theo “thế mạnh cạnh tranh cốt lõi” của mình – đó là kinh doanh môi trường bẩn. Trong khi ngành thép thế giới (trong đó có Đài Loan) càng đang bị thu hẹp, những doanh nghiệp thiếu nghiêm túc sẽ càng nghĩ ngay đến việc tiết giảm chi phí về bảo vệ môi trường. Theo hướng này, Formosa đã chọn những công đoạn độc hại nhất trong chuỗi sản phẩm của thép để đưa vào Hà Tĩnh, đó là: luyện than thành coke và luyện quặng sắt thành gang. Một “mũi tên” Hà Tĩnh của Formosa đã trúng cả “ba đích” đó là: giảm thua lỗ, đưa ô nhiễm ra khỏi Đài Loan và duy trì được thị phần thép (trong bối cảnh khủng hoảng thừa của công nghiệp thép hiện nay).
Bản chất của dự án Formosa là dựa vào sự buông lỏng quản lý và sự ấu trĩ của UBND tỉnh Hà Tĩnh (đứng đầu là ông Võ Kim Cự), núp dưới tên gọi dự án rất “sạch” là “Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương” để nhập khẩu loại than rẻ tiền để luyện coke và nhập khẩu quặng sắt để luyện gang ở Hà Tĩnh. Đây chỉ là một dự án “lớn” về ô nhiễm, chứ hoàn toàn không phải là một dự án “lớn” về lợi ích mang lại cho Hà Tĩnh, và càng không phải là một dự án đáng được tồn tại lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam tới 70 năm.
Công nghệ luyện than thành coke (thuộc lĩnh vực hóa-than) trên thế giới đã và đang để lại những khối lượng chất thải độc hại khổng lồ trên trái đất. Ở Việt Nam, chỉ riêng năm 2015, theo số liệu Hải quan Việt Nam, Formosa đã nhập khẩu gần 220 nghìn tấn than bitum từ Úc, Nga, Canada vào Hà Tĩnh để luyện coke. Như vậy, riêng năm 2015 tổng lượng chất thải (rắn, lỏng, khí) độc hại từ lò luyện coke của Formosa đã lên tới trên 50.000 tấn gồm xỉ than, khói than, bụi than, khí độc, nhựa than, dầu than. Trong đó, sẽ phải thải ra môi trường nhiều chất thải loại cực độc (lẽ ra phải chôn cất vì chưa có công nghệ xử lý).
Nguy cơ gây ô nhiễm của Formosa: Ngành luyện kim đen đã có lịch sử lâu đời hàng trăm năm. Chỉ có những người vô trách nhiệm mới không “lường hết” những nguy hại có thể mang đến cho môi trường sống từ những dự án như Formosa.
Công nghệ hóa than nói chung, và công nghệ luyện than thành coke nói riêng, được coi là rất độc hại về mặt môi trường. Ví dụ: giai đoạn 2008-2010, trong quá trình chuẩn bị triển khai thử nghiệm công nghệ khí hóa dưới lòng đất (ở Khoái Châu, Hưng Yên) khoảng 50.000 tấn than loại subbitum-B (theo chuẩn phân loại của Mỹ và có chất lượng thấp hơn loại than bitum do Formosa nhập khẩu vào Hà Tĩnh), TKV đã được phía đối tác (Công ty Linc Energy của Úc) yêu cầu lập đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trong đó phải có giải pháp chôn cất (lưu giữ vĩnh viễn) khoảng 1200-1500 lít nhựa than cực độc – chất thải sau khi xử lý của công nghệ hóa than có chứa các cacbon hydro thơm nhiều vòng. Loại chất thải này luôn đồng hành với các quá trình khí hóa than, coke hóa than, hóa lỏng than hay sản xuất than hoa (dùng nướng thức ăn) từ gỗ. Giải pháp được phía đối tác Linc Energy tạm chấp nhận là chứa vào các thùng phi loại 200 lít để chôn cất và giám sát.
Bài viết “Những bất cập trong triển khai dự án Formosa Hà Tĩnh” đăng ngày 6/5/2016 tại địa chỉ http://boxitvn.blogspot.com/2016/05/nhung-bat-cap-trong-trien-khai-du.html đã lưu ý đến nguồn gốc ô nhiễm từ việc Formosa nhập khẩu than rẻ tiền vào Việt Nam để luyện coke. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu cụ thể hơn về những nguy cơ ô nhiễm từ công nghệ luyện than thành coke (lò coke) và luyện quặng sắt thành gang (lò cao) như đang được Formosa áp dụng ở Hà Tĩnh.
Nội dung dưới đây còn góp phần làm rõ các câu hỏi đang được dư luận quan tâm như:
– Tại sao Formosa đã cố tình đưa chất thải ra chôn ở bên ngoài? Đó là những chất thải gì? Mức độ độc hại của chúng như thế nào?;
– Tại sao lại có những thùng phi chứa chất thải được một công ty môi trường đưa về tận miền trung du của Việt Nam để “xử lý”? Liệu công ty này có đổ hết xuống biển những thứ cực độc chứa trong các thùng phi đó hay không?; Và đặc biệt,
– Tại sao Formosa đã rất quyết tâm và gấp rút chuyển những công đoạn độc hại nhất của ngành gang-thép từ Đài Loan sang Vũng Áng?

Nguy cơ ô nhiễm chung của các dự án gang-thép

Về tổng thể, công nghệ luyện kim đen (gang thép) sẽ thải ra môi trường đủ loại chất thải (rắn, lỏng, khí), và làm ô nhiễm tất cả các môi trường sống của con người (đất, nước, không khí). Về nguyên lý, phần lớn chất thải có thể được xử lý và tận dụng. Tuy nhiên, chi phí cho các khâu xử lý này rất tốn kém. Vì vậy, lượng các chất độc hại phải thải ra môi trường sống vẫn rất lớn và liên tục.
Theo thống kê, ngành mỏ-luyện kim thải ra môi trường khoảng 800 loại chất thải khác nhau có chứa đầy đủ các nguyên tố trong Bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố của Mendeleep. Đặc biệt, trong bùn thải, nước thải và bụi thoát ra từ luyện kim còn chứa nhiều chất như: BOD, SS (chất rắn lơ lửng- tạo nhũ tương), CO2, HF, H2S, NH3, NO2, SO2, Zn, ZnO. Nguy cơ gây ô nhiễm cụ thể cho các môi trường (không khí, nước, đất) của một liên hợp gang-thép được tổng hợp như sau:
Công đoạn Môi trường bị ô nhiễm: tác nhân gây ô nhiễm chính
Vận chuyển quặng sắt, than, đá vôi Không khí: bụi.
Nghiền quặng Không khí: bụi, tiếng ồn
Tạo hạt cho quặng sắt Không khí: bụi, CO2, SO2, NO2, HF, hydrocacbon; tiếng ồn
Luyện than thành coke Không khí: bụi, CO2, NH3, SO2, NO2, H2S, hydrocacbon.Nước: SS, BOD, CN, NH3, phenol
Nung đá vôi Không khí: bụi, NO2, SO2
Nghiền coke Không khí: bụi coke
Luyện gang Không khí: bụi, CO2, SO2, NO2, ZnO, hydrocacbon, tiếng ồn.Nước: SS, BOD, NH3, clorua các loại, xyanua các loại, sunfat các loại, cặn các loại.
Làm nguội gang Không khí: H2SNước: SS
Nghiền xỉ Đất: xỉ lò cao
Xử lý sơ bộ gang Đất: xỉKhông khí: bụi, tiếng ồn
Sản xuất thép Không khí: bụi, Zn, CO2, SO2, NO2, HF, hydrocacbon.Nước: SS, BOD, clorua các loại.

Đất: xỉ lò thép

Nấu chảy thép Không khí: bụi, ồn.Đất: xỉ lò
Đúc, cán Không khí: bụi, SO2, NO2, tiếng ồn.Nước: SS, dầu mỡ.

Đất: cặn thải.

Nguồn: UNEP 1986
Trong một khu liên hợp gang thép, có hai nguồn gây ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng là lò luyện than thành coke (lò coke) và lò luyện quặng sắt + coke thành gang (lò cao). Các khâu tiếp theo (từ gang thành thép và từ thép thành các hợp kim v.v.) có nguy cơ ô nhiễm ít hơn. Vì vậy, trong khuôn khổ có hạn của bài báo, chúng tôi chỉ xin đề cập dưới đây đến các nguy cơ gây ô nhiễm của lò coke và lò cao.

Nguy cơ ô nhiễm từ lò luyện coke

Quá trình chế biến than thành coke được thực hiện trong lò luyện coke ở điều kiện nhiệt độ 1000oC và không có ô xy. Kết quả thu được gồm sản phẩm chính là coke (rắn và rỗ xốp) và các sản phẩm phụ được hình thành từ thành phần chất bốc vốn có trong than thoát ra. Những thành phần chất bốc của than này khi được làm nguội đến 25÷75oC sẽ tạo thành đủ các loại chất thải: rắn (nhựa than đá), lỏng (nước chứa amoniac) và chất thải khí.
Cân bằng sản phẩm bình quân của lò luyện coke như sau: 1 tấn phối liệu (than) vào lò sẽ cho ra = 750÷800 kg coke sản phẩm + 320÷330 m3 khí thải + 33 kg nhựa than + 80 kg nước từ nhựa than + 11 kg benzene + 3 kg amoniac. Trong đó, khí thải của lò coke có nhiệt năng tương đối cao, bình quân >17 MJ/m3, vì vậy, ở các dự án có công nghệ tiên tiến, khí thải này có thể được sử dụng để phát điện bằng tuabin khí.
Vì vậy, các lò luyện coke được coi là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất và đa dạng nhất. Mặc dù trong dây truyền công nghệ thường áp dụng các giải pháp kỹ thuật để giảm thiểu ô nhiễm, nhưng tổng lượng chất thải (rắn + lỏng + khí) của lò luyện coke thải ra môi trường vẫn rất lớn (bình quân khoảng 5÷6 kg/tấn coke) và rất độc hại. Cụ thể như sau:
Chất thải rắn của lò coke: Chủ yếu là nhựa than. Dưới tác dụng của các nhiệt độ khác nhau (xẩy ra trong quá trình vận hành của lò coke) nhựa than sẽ tạo thành các chất thải khác nhau dưới dạng dầu, gồm:
– ở nhiệt độ <170oC: dầu nhẹ có chứa các vòng carbon hydro thơm (benzene-C6H6, toluen- C6H5CH3, các axit) và các chất khác;
– ở nhiệt độ 170÷230oC: dầu trung bình nhẹ có chứa phenol, naptalin anthrasen, phenaren;
– ở nhiệt độ 230÷270oC: dầu nặng có chứa naptalin, các chất đồng đẳng của naptalin và các chất khác.
Các chất thải dạng khí của lò coke:
Khói của lò luyện coke có chứa các thành phần: bụi, sunfua dioxide (SO2), carbon dioxide (CO2), hydro sunfua (H2S), các oxides nitơ (NOx), cyanides (CN xyanua), amoniac (NH3), phenol (C6H6O), các nhựa than, benzene, và các chất nhiều vòng thơm của carbon hydro (CnH2n+2 trong đó cực độc là các chất 3, 4 benzpiren). Hàm lượng SO2 trong khói lò luyện coke bình quân là 2,5÷3 g/m3, và sau khi được khử, hàm lượng còn phát thải ra ngoài bình quân là 0,7÷1 g/m3. Lượng phát thải SO2 bình quân khoảng 1370 g/tấn coke.
Trong khí thải từ lò luyện coke đã qua bộ lọc có chứa dung dịch amoniac (với hàm lượng khoảng 0,02÷0,03 g/m3), các chất nhựa than (0,04÷0,06 g/m3), các oxide nitơ – NOx. Tổng hàm lượng các chất thải này khoảng 0,15÷0,18 g/m3, và lượng thải bình quân của chúng khoảng 200g/tấn coke.
Các chất khí này sau khi được làm sạch (lọc ra khỏi amoniac, dihidro sunfua và các hợp chất xyanua) thường được tái sử dụng cho lò coke khoảng 13%, còn 87% sẽ được thải ra ngoài. Về nguyên lý, 87% chất khí thải này có thể sử dụng như xăng thô để điều chế ra các chất có ích khác (như carbon hydro, nhựa cumaron). Lượng bụi sau khi lọc vẫn còn bị thải ra ngoài bình quân 0,9 kg/tấn coke.
Ngoài ra, trong khu vực xung quanh lò luyện coke còn có nhiều nguồn gây ô nhiễm khác như các quá trình nạp liệu vào lò; tháo coke và dập cháy coke; nung nóng lò luyện coke v.v. Lượng bụi phát sinh từ các khâu này bình quân khoảng 0,4kg/tấn coke.
Đặc điểm của lò luyện coke là tính đa dạng của các chất được thải ra (có đủ các thành phần rắn, lỏng, khí), và các chất thải này đều chứa các thành phần độc hại (bụi, SO2, CO2, H2S, NH3, C6H6O, v.v). Tính độc hại của các chất thải này rất cao. Vì vậy, ở tất cả các phân xưởng/nhà máy luyện coke đều phải được trang bị hệ thống lọc (bụi, nước, và không khí).
Đặc biệt, trong số các chất thải ra môi trường từ quá trình luyện coke thường xuất hiện các chất thuộc nhóm hydrocarbons có chứa nhiều (từ hai trở lên) vòng thơm (Polynuclear Aromatic Hydrocarbons) như được tổng hợp trong bảng dưới đây.
Bảng kê các chất nhiều vòng thơm của carbon hydro có thể chứa trong chất thải của lò luyện coke:
Hydrocarbons Vòng thơm Hydrocarbons Vòng thơm
Naptalin C10H8 clip_image002[1] Fenantren C14H10 clip_image004[1]
Antraxen C14H10 clip_image006[1] Chrizen C18H12 clip_image008[1]
Tetraxen C18H12 clip_image010[1] Piren C16H10 clip_image012[1]
Pentanxen C22H14 clip_image014[1] Коronen C24H12 clip_image016[1]
Trifenylen C18H12 clip_image018[1] Ovalen C32H14 clip_image020[1]
Benzantraxen C18H12 clip_image022[1] Benzpiren C20H12 clip_image024[1]
Keculen C48H24 clip_image026[1] Коranulen C20H10 clip_image028[1]
Nhiều trong số các chất thống kê trong bảng trên (được gọi chung trong tiếng Latin là các chất thuộc nhóm cancer – chất gây ung thư) sẽ rất dễ xâm nhập vào tất cả các môi trường sống của con người (đất, nước, và không khí). Trong đó, đặc biệt cần quan tâm là các chất như C18H12, C20H12, C32H14. Các chất này vừa có tính gây ung thư, vừa có ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản, và ảnh hưởng tới khả năng phát triển thể chất và sinh học của con người.
Các chất này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các đường ăn, uống, và hô hấp. Theo qui định của EC (quy chế EC 1881/2006), hàm lượng các chất nhiều vòng thơm này trong thực phẩm nướng, sấy, khô (thịt, cá và đồ biển) không được vượt quá 5*10-9 gam/kg thực phẩm tươi.
Một ví dụ khác: theo tiêu chuẩn của Liên bang Nga (ГН 2.1.6.695-98 và ГН 2.1.6.1338-03), nồng độ tối đa cho phép của C20H12 chứa trong không khí là 0,1 micro gram/100m³= 10−9g/m3.
Chất thải lỏng từ lò luyện coke: thường có khối lượng lớn, chiếm khoảng 38% khối lượng của phối liệu than đưa vào lò, tức khoảng 0,3÷0,35m3/tấn phối liệu khô. Trong đó, 30% là nước hình thành từ phía trên của nhựa than. Loại nước này có chứa các thành phần chất bốc và các chất phenol khó bay hơi với hàm lượng đến 3 g/lít. Hàm lượng này lớn hơn nhiều so với mức cho phép. Vì vậy, nước thải từ lò luyện coke cần được xử lý sinh-hóa. Đầu tiên, nước thải được cho chảy qua các bộ lọc bằng thạch anh, rồi được đưa sang máy khử amoninac, và được đưa qua máy khử phenol. Sau đó, nước được làm mát và đưa qua bộ phận phối trộn để hòa với các loại nước thải khác. Để nước thải ra không còn độc hại, nồng độ phenol trong nước thải ra phải dưới 10-4% (0,0001%). Để đạt chỉ tiêu này, người ta phải sử dụng các phương pháp khử lỏng và khử bằng hơi tuần hoàn rất tốn kém.
Thông thường, nước gom từ lò luyện coke phải được tái sử dụng (tới 95÷97%) để dập cháy coke, và chỉ còn 3÷5% được thải ra ngoài.
Thông thường, sau khi được xử lý, chất thải từ các lò luyện coke phải được chôn cất ở bãi thải tập trung vì chúng còn chứa các chất độc với hàm lượng lớn, như phenol (<880mg/kg), xyanua (>120mg/kg), rodanit (>10mg/kg). Vì vậy, để phòng ngừa nguy cơ phát tán, gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh và để bảo vệ cư dân gần khu vực đổ thải, các lò luyện coke phải xử lý tối đa chất thải khi vận hành và sau khi xử lý, các chất còn lại không xử lý được phải thực hiện chế độ thống kê rất nghiêm ngặt trước khi đưa đi chôn cất. Việc chôn cất chất thải của lò luyện coke phải được thực hiện đúng tiêu chuẩn. Theo đó, các chất thải sau khi xử lý cần được đưa vào các thùng kim loại có nắp đậy chặt và kín. Các thùng kim loại này phải được lưu giữ trong một khu vực đặc biệt. Khu vực lưu giữ chất thải của lò luyện coke này cần được chống thẩm thấu nước ra bên ngoài bằng các lớp cách ly (vải địa công nghệ). Việc vận chuyển chất thải từ khu vực lò luyện coke ra nơi lưu giữ phải được thực hiện bằng các phương tiện chuyên dùng và theo thời gian biểu nhất định.

Nguy cơ ô nhiễm từ lò cao

Ô nhiễm môi trường không khí
Sản phẩm (đầu ra) chính của lò cao là gang, sản phẩm phụ thu được gồm xỉ và khí lò cao. Nguyên liệu đầu vào của lò cao là quặng sắt, coke, không khí. Khí lò cao khi thoát ra có nhiệt độ khoảng 300÷350oC, có nhiệt năng khoảng 3,96MJ/m3 và có khối lượng rất lớn. Bình quân 3400m3 khí lò cao/tấn coke cháy, hay 3880m3/tấn coke ẩm, hay 4000m3/tấn coke khô (tương đương với 2000÷2500m3/tấn gang). Khí lò cao khi thoát ra khỏi lò sẽ mang theo bụi lẫn vào phối liệu trong quá trình nghiền (chủ yếu là bụi coke) và bụi hình thành khi phối liệu được nạp vào lò. Nồng độ bụi lớn nhất hình thành khi đổ gang và thải xỉ ra khỏi lò (bình quân 150÷1500 mg/m3). Trong đó, tại các vị trí làm việc của công nhân thành phần CO2 khi gang ra lò đạt mức bình quân 125÷250 mg/m3 và thành phần khí thải SO2 có thể đạt 30 mg/m3.
Tổng lượng bụi thoát ra từ lò cao bình quân khoảng 20÷100kg/tấn gang. Nồng độ chứa bụi trong khí lò cao bình quân 9÷55g/m3. Trong các trường hợp sự cố, nồng độ này có thể lên tới 200g/m3.
Thành phần phát thải khí lò cao tính bình quân cho 1 tấn gang như sau: bụi – 100 kg; CO2 – 640 kg; O2 – 0,08÷0,45kg. Khi lò cao hoạt động bình thường thì mức độ phát thải bụi bình quân chỉ 4 kg/tấn gang. Nhưng bụi hình thành nhiều nhất trong khâu nạp liệu (250÷700g/m3). Đối với lò cao có dung tích 930÷2700m3 mức độ phát thải bụi bình quân là 0,17÷0,60 tấn/ngày đêm và phát thải các ô xít carbon là 5÷19 tấn/ngày đêm. Đối với các loại lò lớn (1033÷5000m3) khối lượng phát thải được tổng hợp như sau:
Dung tích lò, m3 Công suất lò, tấn/ngày đêm Khối lượng chất thải, kg/tấn gang
Bụi CO2 SO2
1033 1720 0,7 1,1 0,165
1513 2520 0,6 0,95 0,15
2000 4350 0,5 0,85 0,13
2700 5500 0,4 0,70 0,115
5000 11500 0,4 0,70 0,11
Thành phần của bụi (%) thường thay đổi trong giải rộng và thường chứa SiO2, MgO, Al2O3, CaO, S, MnO, Fe2O3, Fe3O4. Thành phần cỡ hạt của bụi bình quân như sau:
Cỡ hạt, micron 200 200÷100 100÷60 60÷20 20÷10 10÷1
Khối lượng, % 34.5 12.3 19.0 25 7.5 1.7
Ngoài lò cao, nguồn phát thải bụi lớn khác là khâu xử lý quặng sắt. Chỉ tính trong khâu tiếp nhận/chuyển tải quặng, lượng bụi phát thải vào không khí bình quân là 70 kg/tấn gang. Nồng độ bụi ở khâu này khoảng 17÷1000 mg/m3 (phụ thuộc vào qui trình công nghệ). Trong gian bunke chứa quặng, nồng độ bụi trong không khí đạt 500 mg/m3 và lượng bụi phát sinh bình quân 2,5 kg/tấn gang, và sau khi qua hệ thống lọc, lượng bụi phát thải (vào không khí) bình quân khoảng 90 g/tấn gang.
Trong phân xưởng đúc/cán: lượng phát thải bình quân như sau: bụi – 400÷700 g/tấn gang; CO2 – 0,7÷1,15 kg/tấn gang; SO2 – 120÷170 g/tấn gang.
Khí lò cao thường chứa tới 35% thành phần là các chất cháy được. Vì vậy, khí lò cao được tận dụng làm nguồn nhiệt cho các công đoạn khác (cho lò coke, hay cho vòi đốt của bộ sấy không khí của lò cao v.v.). Khi lò cao được vận hành với áp suất lên miệng lò lớn, nồng độ các chất cháy được lẫn trong bụi đạt 50÷60 g/m3 bụi (khi vận hành với áp suất bình thường, nồng độ này đạt 15÷20g/m3) đòi hỏi phải lọc bụi ra khỏi khí lò cao trước khi đưa đi tái sử dụng. Để lọc khí lò cao đến nồng độ bụi rất thấp (dưới 10mg/m3 cho các mục đích tái sử dụng) người ta áp dụng các sơ đồ lọc nhiều tầng tổng hợp.
Tầng lọc đầu tiên là các bộ khử bụi khô có đường kính 5÷8m. Ở tầng lọc này, nhờ lực trọng trường và lực quán tính (xuất hiện khi luồng khí lò được quay 180 độ), các hạt bụi >50µm sẽ được giữ lại tới 70÷90% và được đưa ra ngoài bằng băng tải vít có thấm nước. Nồng độ bụi còn lại không vượt quá 3÷10 g/m3.
Tầng lọc thứ hai là lọc ướt. Tại đây, các hạt bụi có kích thước >20µm và khí sẽ được lọc đến nồng độ 0,6÷1,6 g/m3. Sau đó, việc lọc tinh tiếp sẽ được thực hiện trong các máy lọc ướt dạng Venture (khí lò cao có tốc độ 1÷2m/s và với lưu lượng nước tiêu hao 3÷6kg/m3 khí). Qua tầng lọc này, nhiệt độ của khí sẽ giảm từ 250÷300oC xuống còn 40÷50oC và được ngậm nước hoàn toàn. Hiệu suất lọc ở đây khoảng 60÷70%. Vì vậy, khí lò cao được lọc tiếp và triệt để ở tầng thứ ba cũng trong các máy lọc dạng ướt Venture, nhưng với tốc độ của khí 50÷80 m/s và với lưu lượng tiêu hao nước 0,2 kg/m3.
Việc lọc khí lò cao có chứa dưới 10mg/m3 bụi sẽ được thực hiện trong các máy lọc cấp 1 (lọc tinh) để có thể sử dụng cho phát điện bằng công nghệ tuabin khí không có máy ép. Vì vậy, phụ thuộc vào khả năng tận dụng khí lò cao để phát điện bằng tuabin khí, người ta thường phân thành 2 sơ đồ lọc khí lò cao như sau:
1. Khí lò cao => Lọc bụi khô => lọc vòi => lọc ống => khử nước => lọc van bướm => khử nước => khí sạch cho bộ sấy không khí lò cao.
2. Khí lò cao => lọc bụi khô => lọc vòi => lọc ống => khử nước => lọc ướt => khí sạch cho phát điện bằng tubin khí.
Chi phí cho khâu xử lý (làm sạch) bụi và khí lò cao thường chiếm khoảng 15÷20% tổng chi phí đầu tư của phân xưởng lò cao.
Ô nhiễm môi trường đất và nước
Tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất và nước chủ yếu là xỉ của lò cao.
Phụ thuộc vào công nghệ và loại lò, chất thải xỉ được chia thành các dạng như: xỉ lò cao; xỉ lò nấu thép (lò Mác-tanh, lò chuyển-lò thổi converter, lò điện); xỉ lò đúc hợp kim; v.v. Trong đó, xỉ lò cao chiếm tỷ lệ lớn nhất (khoảng 0,6÷0,7 tấn xỉ/tấn gang). Trong quá trình luyện thép, lượng xỉ thải ra ít hơn (bằng lò Mác-tanh 0,2÷0,3 tấn/tấn; lò điện 0,04÷0,1 tấn/tấn). Lượng thải xỉ của quá trình đúc hợp kim không đáng kể.
Thành phần hóa học của xỉ lò cao chủ yếu gồm 4 loại ô xít: CaO (29÷30%); MgO (0÷18%); Al2O3 (5÷23%) và SiO2 (30÷40%). Ngoài ra, còn chứa các ô xít sắt (0,2÷0,6%), ô xít mangan (0,3÷1%), và lưu huỳnh (0,5÷3,1%). Thành phần hóa học của xỉ lò thép thường chứa các ô xít sắt (<20%) và ô xít mangan (<10%).
Thành phần hóa học của xỉ có ảnh hưởng quyết định trước hết đến các qui trình công nghệ (chất lượng) của sản phẩm, và sau đó, ảnh hưởng đến đặc tính độc hại hay khả năng xử lý/tái sử dụng của xỉ. Ví dụ, ở nhiệt độ cao (>1300oC) thành phần CaO sẽ làm giảm độ chảy (nhớt) của hợp kim, và ngược lại, ở nhiệt độ thấp – lại làm tăng đáng kể độ nhớt.
Các ô xít chứa trong xỉ lò cao tạo ra các khoáng chất khác nhau (phụ thuộc vào công nghệ áp dụng) như: anortite (CaOAl2O3-2SiO2), diopxit (CaOMgO-2SiO2), gelenit (2CaO-Al2O3SiO2), okermanit (2CaOMgO-2SiO2), mervinit (3CaOMgO-2SiO2), silicat (2CaOSiO2) v.v. Sự phân hủy các khoáng chất này sẽ xẩy ra trong các điều kiện khác nhau và do đó, chúng có những tác hại khác nhau đến môi trường xung quanh.
Thành phần của xỉ lò luyện thép thường phức tạp hơn so với xỉ lò cao vì các ô xít sắt, ô xít mangan và lưu huỳnh thường tạo ra các dung dịch của các chất rắn chứa các khoáng chất nằm trong các pha độc lập (các hợp chất của sắt, lưu huỳnh và mangan). Khi được thải ra, trong quá trình làm lạnh từ từ, ngoài việc tạo ra các khoáng chất, xỉ lò còn bị chuyển hóa đa dạng dẫn đến phân rã và tự vón cục thành dạng hạt (hay bột). Quá trình này dẫn đến những thay đổi (chuyển hóa) về thành phần của xỉ. Ví dụ, thành phần silicat là kết quả phân rã/chuyển hóa của P-2CaOSiO2 thành Y-2CaOSiO2 ở nhiệt độ 525oC. Quá trình này làm tăng khối lượng của xỉ thêm 10% và sẽ xẩy ra khi thành phần CaO trong xỉ vượt quá 44÷46%. Trong thực tế, người ta có thể khống chế quá trình này bằng cách làm nguội xỉ đột ngột và bằng cách tạo hạt cho xỉ. Đối với lò luyện gang, khi thành phần FeO lớn hơn 3%, và thành phần lưu huỳnh sulphat lớn hơn 1% thì xỉ cũng bị phân rã/chuyển hóa. Việc đổ thải xỉ ra có thể thực hiện được bằng cách thủy hóa các thành phần CaO và MgO.
Trong tất cả các xỉ thải ra từ quá trình luyện kim, ngoài các sản phẩm của quá trình tinh thể hóa còn có chứa pha thủy tinh với khối lượng nhất định. Khi được thải ra bãi chứa và được làm nguội từ từ, thành phần pha thủy tinh trong xỉ không đáng kể, nhưng trong xỉ đóng hạt của lò cao thành phần này có thể lên tới 98%. Thủy tinh là pha không bền nhiệt, có ảnh hưởng lớn đến độ hoạt hóa của xỉ. Thực tế cho thấy, xỉ chứa pha thủy tinh sẽ tác động với nước mạnh hơn các tinh thể của khoáng vật khác. Trong các dạng xỉ thải ra từ các dự án luyện thép, xỉ lò cao được ứng dụng rộng rãi để sản xuất ra các loại vật liệu xây dựng vì có tỷ trọng lớn, có thành phần gần với thành phần của các hỗn hợp trong sản xuất xi măng và vì khi được làm nguội nhanh, xỉ lò cao sẽ có tính thủy hóa cao.
Về bản chất, xỉ lò cao là sản phẩm được tạo ra trong quá trình phản ứng của carbonat canxi và ma nhê với quặng sắt và với tro của coke. Vì vậy, quặng sắt và coke của các dự án khác nhau sẽ tạo ra các loại xỉ lò cao có thành phần khác nhau. Mặc dù vậy, phương pháp xử lý xỉ lò cao được áp dụng rộng rãi nhất là phương pháp tạo hạt. Bản chất của phương pháp tạo hạt là làm nguội hỗn hợp xỉ đột ngột bằng nước (hay hơi nước, hoặc không khí) để tạo ra các hạt có kích thước <10mm. Có 2 phương pháp tạo hạt: khô và ướt.
Phương pháp “ướt” là làm lạnh xỉ nóng chảy đột ngột trong các bể bê tông cốt thép chứa nước dung tích đến 800m3 và phân rã chúng bằng hơi nước được tạo ra và bằng các chất khí thoát ra từ quá trình nung chảy. Phương pháp này có ưu điểm đơn giản về thiết bị, năng suất cao, ít nặng nhọc. Nhưng các hạt xỉ có độ ẩm cao (10÷30%) dễ bị kết dính, làm tăng chi phí vận chuyển và tăng chi phí làm khô. Phương pháp tạo hạt có hiệu quả nhất là “nửa khô”: kết hợp việc làm nguội xỉ ban đầu bằng nước, sau đó bằng không khí. Khi đó, độ ẩm của xỉ kết hạt giảm xuống chỉ còn 4÷7%.
Ở hầu hết các nước, người ta thường xử lý xỉ lò cao bằng cách tạo hạt để làm nguyên liệu sản xuất các sản phẩm như: xi măng porlan, chất kết dính không có clinker, bê tông xỉ kiềm tính, bông khoáng chất, và các vật liệu phối trộn cho xi măng và bê tông nhựa (atphan).
Thành phần độc hại trong xỉ lò cao là các kim loại nặng. Các kim loại nặng được phân thành 3 nhóm (phụ thuộc vào mức độ nguy hại đối với sức khỏe con người) như sau:
Nhóm 1 (cực độc): acsen (thạch ngân); thủy ngân; chì; kẽm.
Nhóm 2: coban; niken; molipden, crom.
Nhóm 3: vanadi; mangan.
Giới hạn cho phép của các kim loại nặng thải vào môi trường (không khí, nước và đất) như sau:
Kim loại nặng Không khí, mg/m3 Nước, mg/lít Đất, mg/kg
Chì 0,003 0,03 6,0
Cadimi 0,003 0,001 2,0
Đồng 0,001 1,0 3,0
Kẽm 0,050 1,0 23,0
Thủy ngân 0,003 0,0005 Không cho phép

Tóm lại

Hóa than là một lĩnh vực lâu đời trên thế giới, nhưng ở Việt Nam còn rất non trẻ, và chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm về quản lý.
Các chất thải từ khâu luyện than thành coke và luyện quặng sắt + coke thành gang rất lớn, đa dạng, rất khó xử lý và đặc biệt, rất khó quản lý.

Kết luận và kiến nghị

Dự án gang-thép Formosa Hà Tĩnh về bản chất công nghệ, thuộc loại những dự án rất “bẩn” về môi trường. Trên thế giới, các nước đang tìm mọi cách đẩy ra khỏi biên giới của mình các dự án về luyện kim vì vấn đề xử lý chất thải rất tốn kém, không hiệu quả về kinh tế. Ở Hà Tĩnh, Formosa đã và đang “ký hợp đồng” với các “doanh nghiệp môi trường” Việt Nam đưa chất thải từ dự án ra “chôn cất” ở bên ngoài là một hành vi không nghiêm túc và vô trách nhiệm.
Sự có mặt của Formosa ở Hà Tĩnh sẽ làm cho dự án sắt Thạch Khê của Việt Nam sẽ sớm phải đóng cửa và làm cho ngành gang-thép của Việt Nam ngày càng khó tồn tại, càng không thể cạnh tranh phát triển được. Mặc dù diện tích chiếm đất rất lớn, sự lan tỏa của dự án rất thấp, lợi ích mang lại của dự án hầu như không có. Vì vậy, Chính phủ nên xem xét lại quy mô (không nên quá 7,5 tr.tấn/năm) và thời gian tồn tại của dự án Formosa (không nên quá 25-30 năm – là vòng đời kinh tế của các dự án công nghiệp). Đồng thời Chính phủ cũng nên xem xét lại chủ trương đầu tư vào dự án sắt Thạch Khê để tránh không lặp lại bài học chưa thuộc của dự án gang-thép Thái Nguyên – càng đầu tư càng lỗ nặng.
Ngoài ra, nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý của Hà Tĩnh là cảng biển nước sâu Sơn Dương cũng đã bị Formosa khống chế và độc quyền khai thác. Chi phí cơ hội của cảng biển Sơn Dương rất lớn. Hiện Việt Nam còn đang lúng túng trong việc xây dựng cảng trung chuyển để cung cấp than cho các dự án nhiệt điện từ miền Trung trở vào. Các phương án được đối tác JICA và Sumitomo của Nhật đưa ra về cảng nhập khẩu than đều có tổng mức đầu tư thấp nhất 2,070÷2,389 tỷ USD. Việc sử dụng cảng biển Sơn Dương phục vụ cho mục đích an ninh năng lượng này là rất cấp thiết và sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế.
N.T.S.
__________
Tài liệu tham khảo:
  • Fetzer J. C. The Chemistry and Analysis of the Large Polycyclic Aromatic Hydrocarbons. — New York: Wiley, 2000.
  • Клар Э. “Полициклические углеводороды”. – Т. 2. – М.: Химия, 1971
  • Dự án “Cảng trung chuyển cung cấp than” của JICA và Sumitomo
Tác giả gửi BVN.

Tranh luận giữa TS Nguyễn Đức Thắng và kỹ sư Nguyễn Minh Quang

TS NGUYỄN ĐỨC THẮNG PHÚC ĐÁP BÀI NGHI VẤN VỀ “CHÂN LÝ KHOA HỌC” CỦA NGUYÊN NHÂN CÁ CHẾT HÀNG LOẠT Ở MIỀN TRUNG CỦA KỸ SƯ NGUYỄN MINH QUANG

TS Nguyễn Đức Thắng

29-7-2016

Chào anh Minh Quang và xin chào tất cả,

Tôi là Nguyễn Đức Thắng, rất vui phúc đáp bài phản biện dài và fuzzy của anh Minh Quang về bài viết của tôi, có tiêu đề “Cần trả lại chân lý khoa học cho kết luận về nguyên nhân cá chếthàng loạt trong sự cố môi trường biển lịch sử ở 4 tỉnh miền Trung. Để cho bạn đọc dễ phân biệt đâu là anh Minh Quang viết và đâu là tôi viết, tôi tạm qui ước như sau:

Phần không tô mầu là anh Minh Quang viết, Phần tô hồng là anh Minh Quang trích dẫn những điều tôi viết, Phần tô xanh là tôi viết phúc đáp phản biện của anh Minh Quang.

Bài tôi viết có tham vọng làm sao cho người dân bình thường đọc xong tự họ có thể kết luận đúng/sai nhưng lại muốn phân tích sâu đôi chút về khoa học vì gần 8 Bộ, ngành khoa học của Nhà nước và 12 sở ban ngành ở 4 tỉnh miền Trung (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp) với hàng trăm cán bộ khoa học trực tiếp tham gia điều tra. Ngày 30/6/2016 Văn phòng Chính phủ đã họp báo và công bố.

Do phenol (C6H5-OH), xianua (CN-) là những độc tố làm chết cá.

Còn anh Minh Quang đã kết luận bài viết của mình bằng cho rằng ammonia (NH3+NH4) làm chết cá: “Mọi bằng chứng khoa học của nguyên nhân cá chết hàng loạt ở miền Trung đều hướng về phía… ammonia chứa trong nước thải xả từ nhà máy luyện than coke của Formosa”

Nguyên nhân làm cá chết cấp tính hàng loạt chia làm 2 loại cụ thể sau:

a) Bị tiếp xúc/phơi nhiễm với độc tố, đến đủ nồng độ gây chết LC50.

b) Bị chết do thiếu oxy hòa tan trong nước.

Hai nguyên nhân này khác nhau cơ bản về bản chất hóa học và cơ chế gây chết.

Như vậy cả anh Minh Quang và Chính phủ lựa chọn nguyên nhân a) chỉ có khác nhau ở độc tố cụ thể mà thôi.

PHẦN DẪN NHẬP

Trong một bài viết khoa học khá dài có tựa đề “Cần trả lại chân lý khoa học cho Kết luận về nguyên nhân cá chết,” [1] Tiến sĩ (TS) Nguyễn Đức Thắng đã “vận dụng thông lệ của thế giới” và “kiến thức Hóa học 8 và Toán 6” để tìm ra “chân lý khoa học cho nguyên nhân cá chết” hàng loạt ở miền Trung vào đầu tháng 4 năm 2006 vừa qua.

Thưa anh Minh Quang, tôi cố viết để người đọc bình thường có thể hiểu được với điều kiện là đọc chậm, không đọc lướt. Còn người viết phải có kiến thức sâu về toxicology, water chemistry, environmental accidents, wastewater treatment, water quality, hay environmental health.

Theo TS Thắng, 2.500 m3 nước thải – qua quá trình xúc rửa, tẩy gỉ các đường ống kim loại nhưng không được “xử lý… thành công… do lỗi của các nhà thầu phụ và lỗi ở mất điện 5 ngày” – do công ty Formosa xả ra biển ngày 6/4/2016 đã làm cho cá bị ngạt thở mà chết vì có khoảng 5 tấn Fe2+ trong nước thải “… đã làm cạn kiệt oxy và đã tạo nên một vùng chết rộng lớn dài 150km x rộng 60m x sâu 3m. Những con cá chưa chết ngay, còn ngắc ngoải cùng những hydroxit sắt Fe(OH)3 chưa lắng đọng tiếp tục trôi dạt vào Huế, rồi chết và dừng lại ở đó. 5 tấn kation Fe+2 này cũng đã tạo ra 9,6 tấn hydroxit sắt Fe(OH)3 , một “màng rất rất mỏng” lơ lửng, hấp phụ phenol hay xianua (lắng đọng làm chết san hô rải rác một số nơi). Giải thích nguyên nhân cá chết là do ‘ngạt thở’ thiếu oxy là hoàn toàn phù hợp với thông lệ thế giới.” [1]

Trong tinh thần cầu tiến khoa học, chắc TS Thắng sẽ rất vui lòng để giải thích thêm – như TS đã làm đối với TS Tô Văn Trường [2] – trên phương diện khoa học, một số nghi vấn khoa học mà người đọc có thể có về cái “chân lý khoa học” mà TS đề cập trong bài viết của mình. Bài viết nầy nhằm mục đích thảo luận những nghi vấn đó.

Như vậy anh và TS. Tô Văn Trường (TVT) có cùng chuyên môn với nhau. TS. TVT đã từng nhiều năm làm Viện trưởng Viện quy hoạch thủy lợi miền Nam, các anh một cặp song trùng, đều là VUA thủy lợi. Tôi nghĩ các anh không phải VUA trong lĩnh vực toxicology, water chemistry, environmental accidents, wastewater treatment, water quality, hay environmental health. Theo tôi các anh nên hỏi về lĩnh vực này thay vì là người phản biện. Phản biện một lĩnh vực ngoại đạo của mình nghe nó thế nào ấy. Ngoài ra TS. TVT đã nhận được “chỉ đạo” của anh Trần Huân (chắc là đàn anh, chuyên gia lâu năm của Bộ Công thương) như sau: “Có điều, chính phủ đã công bố nguyên nhân thì phải cố bảo vệ, còn không thì ‘mất mặt’ với dân, với thế giới. Cho nên những ý kiến nói khác là dễ bị loại bỏ”. Anh TVT đã trích dẫn câu ấy gửi cho tôi trong email. TS. TVT đã kích động anh Nguyễn Ngọc Kính (đã từng nhiều năm là Vụ trưởng Vụ KH&CN thuộc Bộ Nông nghiệp, cấp trên của anh TVT), làm cho anh Kính mất ngũ nữa, đã viết email cho anh TVT, yêu cầu phải báo cáo với cơ quan nơi tôi công tác và bắt gỡ bỏ khỏi mạng (anh TVT gửi email cho tôi những điều này). Duy nhất TS. TVT phản biện, bác bỏ mạnh mẽ nhất bài viết cùa tôi như hất cả xô nước lên bức tranh mà tôi vẽ, dưới cái “ô khoa học của anh ấy”, với những lập luận tiểu tiết và fuzzy.

Thậm trí anh ấy còn gọi điện thoại cho bạn bè lâu năm của tôi (nhưng cũng là bạn ít năm của TS. TVT) để ép ra “đòn” đối với tôi. Đúng là anh ấy ra đòn một cách tổng lực. Còn tôi với TS. TVT mới quen biết nhau qua email khoảng 2 tháng nay và có gặp mặt nhau 1 lần, khi anh ấy ra Hà Nội có công việc. Tôi tạm gọi các anh ấy là phe “Phenol và xianua”, phe của núi Thái Sơn vĩ đại. TS. TVT còn gửi cho tôi câu của Steve Marabeli nói “Nếu bạn kết thân với loài gà bạn sẽ quen dần với tiếng cục tác. Nếu bạn kết thân với đại bàng bạn sẽ bay cao“. Tôi đã trả lời là “đại bàng chỉ cần 1 con đã đánh được gà, không cần đến cả đàn đại bàng đâu”.

Đã là Vua thủy lợi, các anh điên tiết lên với lũ, lụt. Như siêu nhân Thánh Gióng, các anh quyết cưỡi lên thiên nhiên, trinh phục và chế ngự thiên nhiên. Nhưng tại sao các anh không đẩy lũ lên Trời? hay đẩy ra biển? các anh đã tham mưu cho Chính phủ bỏ nhiều trăm nghìn tỷ đồng để xua lũ từ vùng này sang vùng khác, làm gia tăng phân hóa giầu nghèo, bất công trong xã hội, mang lại tiện nghi cho vùng đã giàu lại giàu hơn. Cả ngàn năm trước đây, người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã biết sống chung hài hòa với lũ, nhưng quy hoạch thủy lợi của các anh đã xẻ ngang, xẻ dọc nát bét vùng này, tạo điều kiện “đẹp” cho xâm nhập mặn lan tràn mà bà con nông dân hiện đang phải gồng mình gánh chịu?

MỘT SỐ NGHI VẤN KHOA HỌC

Làm sao xác định được nước thải có Fe2+?

TS Thắng mô tả đặc tính của Fe2+ trong nước thải như sau: “Trong nước thải này có chứa kation Fe+2 với nồng độ đặc biệt cao, từ 1200–2000 mg/L (4) (trung bình 1,6 kg/m3). Việc xử lý 2.500 m3 nước thải này không thành công tương đương với đổ ra biển 1,6 kg/m3 x 2500 m3 = 4000 kg = 4 tấn kation Fe+2.

Ngoài ra, Formosa Hà Tĩnh, ngày có ngày không (không đều) đã sử dụng 3–4 tấn (4) sunfat sắt (FeSO4.4H2O, màu trắng) như là chất xúc tác với H2O2 để nâng cao hơn nữa việc xử lý các chất hữu cơ khó bị sinh hủy, tẩy mầu của nước thuộc hệ thống sinh hóa xử lý nước thải của nhà máy luyện cốc, làm cho nước trong hơn. Trung bình 3,5 tấn FeSO4.4H2O sẽ tạo ra khoảng 1 tấn Fe+2.” [1]

Tài liệu tham khảo (4) mà TS Thắng sử dụng để xác định đặc tính của Fe2+ trong nước thải là “… thông tin [riêng?] sau ngày công bố kết luận chính thức về nguyên nhân cá chết (30/6)” từ TS Lê Văn Cát, thành viên Đoàn điều tra.

Sự hiện diện của Fe2+ trong nước thải của Formosa do TS Thắng đưa ra không có cơ sở khoa học vững chắc vì (a) đoàn điều tra chỉ bắt đầu hoạt động từ ngày 5/5/2016 [3] và (b) việc xả thải của Formosa đã ngừng từ cuối tháng 4 [4]. Kết quả phân tích mẫu nước thải của Formosa hay kết quả nghiên cứu thành phần nước thải của Formosa – lúc nước thải được xả ra biển – có lẽ là cơ sở khoa học vững chắc nhất cần có để xác định đặc tính của nước thải do Formosa xả ra biển trong tháng 4/2016.

Anh Minh Quang ạ! do anh đọc lướt bài viết của tôi nên mới dẫn đến câu hỏi này. Trong bài viết tôi đã nói rõ là Formosa Hà Tĩnh đã khai báo là họ đã sử dụng 245 tấn hóa chất, chủ yếu là axit clohydric và xút để xúc tẩy rửa đường ống. Các phản ứng hóa học cụ thể và quá trình này không thể trình bày được ở đây. Anh có thể tự tìm đọc trên mạng được không? Về nguyên lý nước thải của quá trình này chủ yếu là Fe2+ với nồng độ đặc biệt cao. Và kết quả phân tích mẫu nước còn lưu tại công ty cho nồng độ đặc biệt cao từ 1200 – 2000mg/L. Công ty khai báo là sự cố do nhà thầu phụ xử lý nước thải của khâu này và mất điện 5 ngày. Họ mới đổ gần 2500m3 nước thải này, chưa hết, ngày hôm sau đã thấy cá chết nổi trắng, trôi dạt vào bờ vùng biển Hà Tĩnh. Họ cũng hoảng sợ, và STOP ngay số m3 nước thải còn lại để lưu giữ trong bể chứa. Thanh tra môi trường của Hà Tĩnh người ta đã vào ngay công ty sau sự cố. Thanh tra của Bộ Tài Nguyên, Môi trường người ta cũng vào cuộc từ rất sớm. Còn ngày 5/5/2016 là ngày Hội đồng Khoa học và Công nghệ Quốc gia về điều tra nguyên nhân cá chết mới chính thức vào cuộc.

Anh yêu cầu lấy mẫu đúng “lúc nước thải được xả ra biển”. Làm sao mà rình được đúng lúc có sự cố xẩy ra mà lấy mẫu anh, mà lại sâu dưới đáy biển, xa bờ khoảng 2km. Nói chung chỉ cần lấy mẫu nước tại đầu ống trên đất liền đem phân tích là đủ. Quản lý xả thải nước hiện cả thế giới đều làm thế anh ạ!. Kết quả phân tích sau đó so sánh, đối chiếu với QCVN, họ vượt ở chỉ tiêu nào thì đó là lỗi. Từ những kết quả này, chạy qua các mô hình tính toán (khá phổ cập rồi) anh có thể biết được nồng độ các độc tố phân bổ như thế nào khi lan tỏa trong biển.

Vùng biển chết với cá ngoắc ngoải và hydroxit sắt lơ lửng?

TS Thắng lập luận rằng “… 5 tấn kation Fe+2 bị xả thải vào biển đã làm cạn kiệt oxy và đã tạo nên một vùng chết rộng lớn dài 150km x rộng 60m x sâu 3m. Những con cá chưa chết ngay, còn ngắc ngoải cùng những hydroxit sắt Fe(OH)3 (màu gạch nâu đỏ) chưa lắng đọng tiếp tục trôi dạt vào Huế, rồi chết và dừng lại ở đó.”

Không có gì sai khi dùng lập luận để giải thích một sự kiện chưa biết, nhưng lập luận chỉ được chấp nhận sau khi được kiểm chứng một cách khoa học bằng dữ kiện quan sát hay dữ kiện đo đạc được. Lập luận của TS Thắng có lẽ dựa trên sự xuất hiện của vệt nước màu đỏ rộng khoảng 10 m và dài khoảng 1,5 km chạy dọc theo bờ biển Quảng Bình vào ngày 4/5 [5], nhưng chính hiện tượng nầy đã bác bỏ lập luận của TS Thắng vì nó không xuất hiện trong vùng biển Vũng Áng, nơi nước thải được xả ra. Ngược lại, theo quan sát của phóng viên báo Thanh Niên, nước thải do Formosa xả ra có dấu hiệu xuất phát từ nhà máy luyện than coke “… tại khu vực gần cảng biển Vũng Áng, nước có màu đen như màu nước xỉ than.” [6] Rất mong TS Thắng cho biết những dữ kiện được dùng để biện minh cho lập luận nầy.

Lập luận của tôi chỉ dựa trên cơ sở là đặc trưng nước thải của Formosa Hà Tĩnh. Vệt nước màu đỏ ấy chỉ là hệ quả, là cái đi sau của cái có trước. Vệt nước màu đỏ này chính là hydroxit sắt Fe(OH)3 kết tủa (xin anh đừng đọc lướt bài viết của tôi nhé), mầu gạch nâu, lắng đọng xuống đáy biển gọi là trầm tích. Vũng Áng là đầu nguồn xả chắc chắn là phải có Fe(OH)3 rồi anh ạ!. Chỉ có điều là nó không có cơ may để một cơn sóng nào đó hất nó nổi lên trên để trôi vào bờ. Vì vậy vệt nước đỏ xuất hiện ở đoạn nào, tỉnh nào phụ thuộc vào duyên số và cơ may đó anh ạ!. Anh hay đọc kỹ đoạn tôi mô tả một đại đoàn quân khổng lồ, tham ăn, tiêu diệt oxy vốn đã cạn kiệt trong tầng nước đáy biển để tạo ra Fe(OH)3 một màng mỏng rải rác kéo dài vào đến tận Thừa Thiên – Huế. Ảnh vệt nước đỏ của anh xẫm quá, quá xẫm so với nhiều ảnh khác trên báo mạng.

“Theo phóng viên báo Thanh Niên, nước thải do Formosa xả ra có dấu hiệu xuất phát từ nhà máy luyện than coke”. Tôi thực sự kính nể người phóng viên này vì chỉ nhìn thấy được biển màu đen từ xa mà đoán được nó là nước thải của nhà máy luyện than coke (cũng màu đen). Tôi ước ao được sở hữu tài đoán như vậy. Mầu của nước biển do ta nhìn nhiều khi còn phụ thuộc vào thời tiết, nắng, gió, mây che, xa hay gần, khi xanh thẫm, xanh đen v.v..Còn vệt nước đỏ dài khoảng 1,5km có chứa các thực thể Fe(OH)3 mầu đỏ, gạch nâu. Dòng nước thải của nhà máy luyện than coke không đi thẳng ra biển đâu để tạo nên màu đen đâu. Buồn cười lắm. Anh hãy vào mạng của công ty Formosa Hà Tĩnh xem sơ đồ các nguồn xả thải nước của họ. Khoảng 8 nguồn xả thải, trong đó có nhà máy luyện cốc. Dòng thải này được đưa về khu xử lý sinh hóa, sau xử lý ở đây được dẫn về khu xử lý chung, 7 dòng thải khác cũng gộp vào khu này, sau đó theo một ống dẫn chung duy nhất đổ ra biển.

Cá chết là do “ngạt thở” thiếu oxy?

TS Thắng lập luận rằng “… cá chết là do ‘ngạt thở’ thiếu oxy” “… 5 tấn Fe2+ bị xả vào biển đã làm cạn kiệt oxy.” Nói cách khác, Fe2+ đã làm cho nồng độ oxygen hòa tan (dissolved oxygen) trong nước biển tụt giảm “đột ngột” [7] khiến cá không đủ oxygen để sống.

Tuy nhiên, phản ứng của cá có thể cho biết oxygen trong nước có phải là nguyên nhân hay không. “Khi nồng độ oxygen trong nước quá thấp, cá xuất hiện gần mặt nước trong tư thế hoảng loạn hay nhộn nhịp khác thường. Thỉnh thoảng, chúng nổi lên mặt nước để táp (gulp) không khí cần thiết để sống còn.” [8]. Phản ứng của cá dọc duyên hải miền Trung không giống như thế. “Quan sát của ngư dân và kết quả phân tích mẫu cá chết của VHLKHCN [Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam] đã xác nhận cá chết vì ammonia,” [9] vì cá nổi lờ đờ và trôi dạt vào bờ [10-12] và “… các mẫu cá đều có hiện tượng biến đổi cấu trúc mô, nhiều mẫu bị dính mang, một số có biểu hiện cháy đầu đuôi… nhiều mẫu cá chết ngoài tự nhiên có hiện tượng bỏng ở đầu và đuôi, đặc biệt là dính mang, thân và mô bị xung huyết.” [13] (Bảng 1 – Kết quả phân tích mẫu nước thu thập ngày 15/4/2016 [12])

Đọc đoạn này tôi có cảm giác hình như anh buồn ngủ, đưa ra những tiểu tiết nhầm lẫn. “Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã xác nhận cá chết vì ammonia” thế mà họ lại trình lên Chính phủ là cá chết vì phenol và xianua??. Những tiểu tiết về mẫu vài con cá chết chả nói lên điều gì. Chỉ làm cho người đọc thêm buồn cười, vì còn hàng vạn, hàng vạn con khác chết không có cùng triệu chứng đó. Chúng chỉ có cùng triệu chứng là chết ngạt, do thiếu oxy mà thôi. Hàng vạn, hàng vạn con chết giống nhau này thì anh vất bỏ, mà lại suy tôn vài con kia coi là “mẫu đại diện”.

Hơn nữa, kết quả phân tích mẫu nước ở khu vực đầm Lập An, thị trấn Lăng Cô – thu thập trong ngày 15/4/2016, lúc có hiện tượng cá chết ở đây – cho thấy nồng độ oxygen hòa tan trong tất cả các mẫu nước – từ 4,6 đến 7,3 mg/L (xem Bảng 1) – đều cao hơn rất nhiều so với nồng độ oxygen hòa tan có thể làm cho cá chết là 2,0 mg/L hay thấp hơn. TS Thắng nghĩ sao khi cá vẫn chết trong khi không thiếu oxygen?

Đến đây thì tôi chắc chắn anh đã đọc lướt bài của tôi. Tôi luôn viết, bàn về sự cố môi trường biển lịch sử ở 4 tỉnh miền Trung, thỉnh thoảng tôi dùng từ biển, vùng nước mênh mông, rộng lớn, cá chết tầng nước sâu. Tôi không bàn về hiện tượng cá chết của ao, hồ, kênh, rạch, đầm phá v.v.. Thêm vào đó anh đọc lại đoạn tôi viết về stratification sẽ thấy được ở những vùng nước lớn thì nồng độ oxy hòa tan ở tầng đáy như thế nào và ô xy hòa tan ở tầng nước bề mặt ra sao. Anh đặt câu hỏi của một vùng nước lội ngập ngang ngực người để so với một vùng nước sâu khoảng 17 – 25 m phải thợ lặn với những dụng cụ đặt biệt mới chịu nổi nghe nó thế nào ấy.

Đối với khu vực đầm Lập An, thị trấn Lăng Cô mà anh nêu, là khu vực nước nông, nên oxy bề mặt không thiếu, chả cần phải đo. Tôi biết là lượng cá chết ít lắm, thêm vào đó cá chết vào ngày 15/4, hoàn toàn chẳng liên quan gì đến xả thải của Formosa Hà Tĩnh cả. Vậy nguyên nhân nào làm ít cá đầm Lập An này chết tôi để cho anh tự giải đáp. Theo tôi dễ, không khó đâu

Thông lệ của thế giới?

TS Thắng đã “vận dụng thông lệ của thế giới” để kết luận rằng “giải thích nguyên nhân cá chết là do ‘ngạt thở’ thiếu oxy là hoàn toàn phù hợp với thông lệ thế giới” [1]. Tiếc thay, người đọc không biết “thông lệ của thế giới” nầy ra sao và xuất xứ từ đâu vì TS Thắng không cho biết thêm chi tiết nào. Nếu có thể, xin TS Thắng vui lòng cho biết để người đọc tìm hiểu thêm.

Tôi lại nhắc lại là bài tôi viết chỉ bàn về vùng nước duyên hải, ven biển, mênh mông rộng lớn và “thông lệ thế giới” về vùng nước qui mô như thế này. Đối với vùng nước lớn như vậy, anh lên mạng xem thế giới họ giải thích nguyên nhân cá chết cấp tính, hàng loạt, chỉ sau một đêm như thế nào nhé. Anh sẽ không thể nào tìm thấy các chuyên gia thế giới giải thích cá chết vì ngộ độc (phenol, xianua, ammonia, crom, cadimi, thủy ngân v.v..). Vì tại sao? vì anh có đổ hàng nghìn tấn những thứ này vào vùng nước mênh mông như vậy, thì nồng độ của chúng cũng không thể nào đạt tới LC50 của nó.

TS có thể đúng khi nói rằng “Thế giới chưa đâu giải thích nguyên nhân cá chết hàng loạt sau 1 đêm là do các độc tố như phenol, xianua, thuốc bảo vệ thực vật gây ra.” Nhưng có vài trường hợp cá chết hàng loạt vì ammonia đã xảy ra trên thế giới và được ghi nhận. “Vào năm 2013, 110 tấn cá trong sông Fuhe ở tỉnh Hubei, Trung Hoa chết hàng loạt vì ô nhiễm nước thải có chứa 196 mg/L ammonia từ một nhà máy hóa chất ở Yingcheng, ngoại ô của Wuhan. Vào năm 2015, cá chết hàng loạt trong nhánh tây của sông Nile ở Rosetta. Bộ Y tế phải tiêu hủy khoảng 1.000 tấn cá chết trong một số chợ cá của đồng bằng sông Nile.” [14] Đây có phải là ngoại lệ của thế giới hay không?

Hai thực tế này anh nêu ra chẳng có gì mâu thuẫn với những suy nghĩ và lý giải của tôi cả. Đơn giản lắm anh ạ! vì đây là một vùng nước nhỏ, anh đổ vài trăm tấn ammonia vào sông Fuhe ở tỉnh Hubei (nước thải có chứa 196mg/L) thì nồng độ của chúng cao hơn LC50 thì cá chết hàng loạt là đúng, là logic, không có gì mâu thuẫn với những gì mà tôi biết và trình bầy.

KẾT LUẬN

Trong nỗ lực giải thích nguyên nhân cá chết hàng loạt ở miền Trung, TS Nguyễn Đức Thắng đã vận dụng thông lệ của thế giới và kiến thức Hóa học 8 và Toán 6 để kết luận rằng “chân lý khoa học của nguyên nhân cá chết” là do “ngạt thở” thiếu oxy vì nước thải từ công ty Formosa có chứa 5 tấn Fe2+. Lập luận khoa học của TS Thắng đáng khích lệ trong một hoàn cảnh thiếu thốn dữ kiện và kết quả nghiên cứu khoa học để làm nền tảng cho việc giải thích thích đáng nguyên nhân cá chết, vì đó là tiến trình của khoa học.

Nhưng lập luận của TS Thắng, tương tự như lập luận của Chính phủ Việt Nam mà ông bác bỏ, không có đủ dữ kiện (hay bằng chứng) khoa học để biện minh. Hơn thế nữa, nó không phù hợp với những sự kiện quan sát được hay dữ kiện thu thập được – dù hiếm hoi nhưng khá tin cậy – trong thời gian xảy ra vụ cá chết hàng loạt. Vì thế, trong tinh thần khoa học, lập luận khoa học của TS Thắng không thể gọi là “chân lý khoa học” chừng nào lập luận đó còn nhiều nghi vấn chưa được biện minh và kiểm chứng bằng những bằng chứng khoa học đáng tin cậy. Cho tới giờ phút nầy, mọi bằng chứng khoa học của nguyên nhân cá chết hàng loạt ở miền Trung đều hướng về phía… ammonia chứa trong nước thải xả từ nhà máy luyện than coke của Formosa [9].

Vâng anh Minh Quang ạ! Tôi đã viết hơn 10 trang để phân tích gọi là cho có khoa học, trong khi anh mới chỉ có ít dòng, với nồng độ ammonia có thể uống được thể mà đã kết luận ammonia là nguyên nhân cá chết tại vùng biển 4 tỉnh miền Trung, tôi xin bái phục và kính nể.

Tuy nhiên, tất cả những phân tích về khoa học nguyên nhân cá chết mà tôi viết cũng sẽ là “thừa, và xa xỉ”, chúng ta có thể tạm thời gác bỏ sang bên. Chỉ với 2 thực tế sau đây, tự mỗi người dân bình thường thôi có thể tự trả lời được cá chết vì đâu:

Thực tế 1) Tại sao lại đổ cho phenol, xianua hay độc tố khác là nguyên nhân làm chết cá trong khi công ty Formosa Hà Tĩnh đã từ tháng 12/2015 hàng ngày đổ 1000m3 nước thải có chứa gần tấn phenol và xianua là những chất cực độc vào biển, liên tục 4 tháng liền mà cá vẫn tung tăng nhảy múa, hát ca?? Thế giới chưa có ở đâu giải thích nguyên nhân các chết (qui mô như 4 tỉnh duyên hải miền Trung) bằng các độc tố. Vì phenol, xianua và những độc tố mạnh khác nữa chưa đủ “đô” ở ngoài biển cả mênh mông đến nồng độ khoảng 25mg/L (LC50) có thể làm chết cá cấp tính hàng loạt.

Thực tế 2) Cá đã chết lăn đùng, ngã ngửa sau một đêm, sáng ngày 6/4/2016 thấy nổi trắng dạt vào bờ biển, trùng khớp đúng với trước đó một ngày Formosa Hà Tĩnh do sự cố (nhà thầu và mất điện 5 ngày) đã đổ vào biển 2500m3 nước thải có chứa 5 tấn kation Fe2+ làm cạn kiệt oxy vốn đã nghèo nàn của cả một dải nước dài khoảng 150km tầng đáy. Đối với qui mô cá chết cấp tính, hàng loạt ở những vùng ven biển lớn như 4 tỉnh duyên hải miền Trung, hiện duy nhất “thông lệ thế giới” giải thích bằng có yếu tố nào đó làm cạn kiện oxy vốn đã nghèo nàn ở tầng đáy.

Vậy bây giờ anh Minh Quang chọn nguyên nhân nào? a) hay b) (thực tế 1 và 2). Nếu anh từ bỏ nguyên nhân cũ và chuyển sang chọn nguyên nhân b) tức là ủng hộ tôi?. Vậy mong anh có thể thay đổi lại tiêu đề bài viết của anh phản biện bài viết của tôi được không? Vì tiêu đề NGHI VẤN VỀ “CHÂN LÝ KHOA HỌC” tôi thấy nó “nặng” quá. Ví dụ 1000 người đọc bài của anh, có thể 950 người (khi chưa được đọc phần giải thích phúc đáp của tôi), họ sẽ hoan hô TS. Nguyễn Minh Quang! hoan hô TS. Minh Quang! Tung anh lên đỉnh cao và coi bài viết của tôi là “khoa học rởm”. Tôi trân trọng anh vì anh đã kết thúc bài phản biện của anh bằng 3 câu sau:

Khoa học không có tình thương và cũng không có hận thù.

Khoa học không có bôi bác và cũng không có vị nễ.

Khoa học là thẳng thắn, trung thực, và chính xác.

https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/30/9353-tranh-luan-giua-ts-nguyen-duc-thang-va-ky-su-nguyen-minh-quang/

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: