Việt Nam trên bờ vực sụp đổ

 Không còn nghi ngờ gì nữa: Chúng nó bán nước thật rồi.

Theo FB Sương Chiêu Mai.

GẮN CHẶT VÀO TRUNG CỘNGFB Huỳnh Ngọc Chênh

 

HÃY TỈNH THỨC, BỞI DÂN TỘC VÀ TỔ QUỐC LÀ TRÊN HẾT/FB Luân Lê +Sự kỳ dị của một nhà nước pháp quyền +Việt Nam: đàm phán đất đai kiểu công an(BVN)

 

Việt Nam trên bờ vực sụp đổ

Nguyễn Huy Vũ

Ảnh minh họa. Photo courtesy DCV

Việt Nam đang ở trong một trạng thái hiểm nghèo chưa từng có, và đây có lẽ là một trong những lần hiếm hoi Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ sụp đổ từ kinh tế lan sang chính trị.

Sự bi đát của tình trạng Việt Nam trên bề mặt thể hiện ở chỗ ngân sách gần như kiệt quệ. Lần đầu tiên trong lịch sử các khoản chi cho Tết đã bị cắt giảm hết mức, từ các chi phí trang trí cho đến tiền dành để bắn pháo hoa.Không những ngân sách cạn kiệt mà lượng dự trữ ngoại hối cũng suy kiệt theo. Trước hết hãy nói về dự trữ ngoại hối. Dự trữ ngoại hối được đưa ra bởi Ngân hàng Nhà nước cho các báo là tăng và ở khoảng 40 tỉ đô la Mỹ. Tuy vậy, không ai tin đây là con số trung thực, mà dự đoán dự trữ ngoại hối hiện nay chỉ trong khoảng 20 tỉ đô la. Tại sao lại như vậy?

Dòng ngoại hối chuyển vào Việt Nam phụ thuộc vào sáu kênh chính: FDI, viện trợ, kiều hối, bán dầu mỏ, xuất khẩu, và tài chính chuyển vào. Tuy vậy, cả năm kênh đầu trong năm qua đều giảm nghiêm trọng và xu hướng là sẽ tiếp tục giảm trong các năm tới.

Thứ nhất, FDI giảm vì số phận của TPP coi như chấm dứt khi tổng thống mới của Mỹ là Donald Trump đã tuyên bố dẹp TPP. Không có TPP, các đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chuyển sang các quốc gia khác vì Việt Nam đang mất dần lợi thế cạnh tranh khi chi phí lao động và các chi phí khác tăng cao trong khi năng suất lao động không thay đổi mấy.

Thứ hai, Việt Nam đã được đưa ra khỏi danh sách nước nghèo nên không còn nhận viện trợ mấy nữa.

Thứ ba, kiều hối về Việt Nam đã giảm so với trước. Kiều bào gửi tiền về Việt Nam có hai mục đích chính là giúp người thân và đầu tư. Với tình trạng kinh tế Việt Nam có quá nhiều rủi ro hiện nay từ nguy cơ phá giá tiền Đồng đến nền kinh tế có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, nhiều người không còn muốn đầu tư ở Việt Nam nữa. Một nguyên nhân khác là nhiều người ở Mỹ đặt niềm tin vào sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ dưới triều đại Donald Trump nên họ cảm thấy an toàn hơn khi giữ tiền và đầu tư ở Mỹ. Bằng chứng là các chỉ số chứng khoán Mỹ đã tăng liên tục khoảng 8% kể từ ngày Donald Trump đắc cử tổng thống.

Thứ tư, nguồn thu từ dầu mỏ cũng không còn nữa. Mức giá dầu thế giới nằm trong ngưỡng 50 đô la một thùng chỉ đủ bù vào chi phí khai thác dầu ngoài khơi của Việt Nam. Chính vì lí do đó mà liên doanh khai thác dầu khí giữa Việt Nam và Nga Vietsovpetro đã thông qua phương án cắt giảm nhân sự và đóng cửa một số mỏ dầu. Giá dầu được dự đoán sẽ nằm trong ngưỡng 50 đô la Mỹ một thùng trong năm tới và do đó khó có khả năng đóng góp lớn vào nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam.

Thứ năm, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các hàng nông sản và thủy hải sản. Tuy vậy, biển ô nhiễm ở miền Trung coi như đặt dấu chấm hết cho ngành xuất khẩu thủy sản nước mặn Việt Nam. Cho dù các sản phẩm thủy hải sản của Việt Nam được đánh bắt từ vùng khác, có thể không bị ô nhiễm, nhưng khó mà thuyết phục được người tiêu dùng và do đó những công ty nhập khẩu sẽ trước hết từ chối các đơn hàng thủy sản của Việt Nam.

Và cuối cùng, nguồn thu từ tài chính chuyển vào có được thông qua việc bán các tài sản trong nước cho các tổ chức nước ngoài và vay mượn. Tuy vậy, ngay cả việc bán hết khoảng 10 công ty lớn nhất Việt Nam mà nhà nước đang nắm giữ cũng chỉ đem lại một khoản tiền 7 tỉ đô la Mỹ, thấp hơn nhiều so với con số 12 tỉ đô la mà nhà nước phải trả nợ năm 2016. Vì vậy mà để trả nợ nước ngoài và cân bằng chi tiêu, dù muốn dù không chính phủ sẽ phải vay mượn tiền từ dự trữ ngoại hối. Các kế hoạch vay tiền để trả nợ đã bị hủy bỏ vì Việt Nam khó mà vay được ngoại tệ trên thị trường tài chính vào lúc này, và thậm chí vay được thì mức phí cũng phải trên 10%/năm, khi so với mức hơn 7% năm khi Việt Nam vay qua Credit Suisse cho Vinashin năm 2007.

Các dẫn chứng trên cho thấy rằng nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam đang sụt giảm nhanh chóng và khó có thể hồi phục trong khoảng thời gian vài năm trước mặt. Nếu so với các năm trước, khi mà giá dầu ở mức hơn 100 đô la Mỹ/thùng, kiều hối dồi dào, và Việt Nam chưa phải trả nợ nước ngoài nhiều, ngoại hối chuyển về Việt Nam chỉ đủ tròm trèm cân bằng chi tiêu dành cho nhập khẩu. Giờ đây khi tất cả các nguồn đóng góp ngoại tệ đều giảm sút, dự trữ ngoại hối Việt Nam tất phải vơi đi.

Với mức dự trữ ngoại hối được báo cáo vào cuối năm 2015 ở mức khoảng 30 tỉ đô la Mỹ, sự thâm hụt ngoại hối của năm 2016 khiến cho dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện nay chỉ ở trong khoảng 20 tỉ đô la.

Trong năm nay, 2017, Việt Nam cũng sẽ phải đối diện với mức trả nợ hơn 10 tỉ đô la như năm ngoái, và khi mà mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam dưới 20 tỉ đô la Mỹ, Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính bất cứ lúc nào, khi mà thị trường đòi rút ngoại tệ gây áp lực phá giá tiền Đồng.

Chính vì nỗi sợ đó mà nhà nước đang ráo riết tìm các phương kế để tăng dự trữ ngoại hối. Họ đang làm bằng cách nào?

Cách đầu tiên là họ đang tìm cách bán hết các công ty mà nhà nước đang nắm giữ. Nhưng không dễ để tìm đối tác bán các công ty ở thời điểm này khi mà nền kinh tế Việt Nam không mấy sáng sủa.

Cách thứ hai là họ đang ráo riết vận động dư luận để tổ chức Tết Ta sang ngày 1/1 hàng năm, ăn Tết Ta chung với Tết Tây, nhờ đó mà kiều bào về Việt Nam ăn Tết nhiều hơn và giúp tăng nguồn ngoại tệ.

Cách thứ ba là họ đang tìm cách bán tất cả những thứ có được khác để thu ngoại tệ, từ các quặng mỏ cho tới đất đai.

Và cách thứ tư là lân la với Trung Quốc để cầu cứu xin vay mượn viện trợ. Đó cũng là lý do mà ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn một phái đoàn hùng hậu sang cầu cứu với Bắc Kinh.

Sự suy kiệt ngân sách nhà nước bắt nguồn từ sự khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ vài năm trước nay có thêm sự sụp đổ của kinh tế miền Trung bắt nguồn từ thảm họa biển chết bởi Formosa. Sự khủng hoảng kinh tế trầm trọng kéo theo nguồn thu ngân sách cạn kiệt. Để làm tăng ngân sách, nhà nước một mặt giảm chi tiêu, mặt khác đang cố gắng tạo ra các nguồn thu mới bằng cách tăng thuế. Mức tăng thuế môi trường đánh vào xăng là một ví dụ.

Tuy vậy, việc tăng giá xăng sẽ kéo theo sự tăng mạnh của lạm phát, vốn đã cao do nạn in tiền quá nhiều để chi tiêu của chính phủ. Sự tăng mạnh của lạm phát đến lượt nó sẽ kéo theo các bất ổn vĩ mô và khiến nền kinh tế nhanh chóng mất kiểm soát và sụp đổ.

Ngược lại, nếu chính phủ không nhanh chóng kiếm một nguồn thu ngân sách bổ sung, họ sẽ phải đối mặt với một ngân sách trống rỗng không đủ trang trải cho các hoạt động của bộ máy chính phủ và phải đối diện với sự phá sản.

Cả hai mặt trận, ngân sách chính phủ và dự trữ ngoại hối, chính phủ đang đối mặt với một tình thế hết sức hiểm nghèo và nền kinh tế có thể sụp đổ nhanh chóng trong những tháng ngày tới. Có lẽ đối diện với nỗi lo sợ đó mà ông tổng bí thư vội vã đem một phái đoàn sang diện kiến Bắc Kinh và ký kết một lúc 15 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực đặng mong Trung Quốc giúp đỡ trong những thời khắc điêu linh của đất nước?

Không còn nghi ngờ gì nữa: Chúng nó bán nước thật rồi.

 

Theo FB Sương Chiêu Mai.

DIỄN GIẢI 15 VĂN KIỆN MÀ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VỪA KÝ VỚI TẬP CẬN BÌNH.

trong-tap

Cá nhân Nguyễn Phú Trọng, trong cương vị tổng bí thư của đảng độc tài toàn trị đã ký 15 “văn kiện hợp tác” giữa 2 quốc gia Việt Nam với Trung cộng. Hơn 90 triệu dân Việt Nam không biết nguyên văn nội dung của 15 “văn kiện hợp tác”, nhưng qua tóm tắt của nó chúng ta thấy rõ đây đúng nghĩa phải là 15 cam kết buộc Việt Nam phải thần phục Bắc Kinh mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình.

Vào chiều 12/01/2017, tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Nguyễn Phú Trọng đã “bút sa… Việt Nam chết” những điều như sau:

– Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Sẽ không bao giờ có chuyện “hợp tác” theo nghĩa song phương – cán bộ cấp cao CSVN đào tạo CSTQ và ngược lại. Chỉ có “hợp tác” một chiều, theo quan hệ thầy Bắc Kinh và học trò Hà Nội. đó là: các quan thầy Bắc Kinh sẽ đào tạo một thành phần “thái thú bản xứ” làm tay sai cho thiên triều phương bắc.

– Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Kinh tế Trung ương với Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc.

Có nghĩa là Việt Nam phải ghi nhớ mọi hoạch định kinh tế của đảng CSVN áp đặt lên đất nước Việt Nam sẽ phải hoàn toàn đi theo và là một phần của toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế của Trung cộng. Điều này được bổ túc thêm bởi sức mạnh khống chế của Mao tệ với:

– Biên bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Trung Quốc về việc hợp tác tài trợ dự án và cho vay song phương trung, dài hạn giai đoạn 2017-2019.

“Hợp tác” này cho thấy Việt cộng đã quy đầu hoàn toàn sống nhờ vào tiền của Tàu cộng.

– Công thư trao đổi về việc hỗ trợ kỹ thuật lập quy hoạch tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.

Khi một dự án nằm trong lãnh thổ Việt Nam được đưa vào “văn kiện hợp tác” thì trong bối cảnh thần phục Bắc Kinh, chúng ta có thể hiểu rằng đường sắt LC-HN-HP đã hoàn toàn do Trung cộng làm chủ. Điều này cũng đáp ứng kế hoạch của Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc mà Nguyễn Phú Trọng cũng đã ký kết như trên.

– Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Trung Quốc đến năm 2025.

Với chiến lược xâm lấn Việt Nam, trong bối cảnh Bắc Kinh xâm chiếm biển đảo, văn kiện “hợp tác” quốc phòng giữa thành phần xâm lược và bị xâm lược cho thấy Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt toàn thể quân đội ký bản đầu hàng đối với Bắc Kinh.

– Hiệp định khung hợp tác cửa khẩu biên giới đất liền giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Tổng cục Hải quan Trung Quốc.

Điều này đã thêm một lần nữa đóng dấu và củng cố những thoả thuận dâng bán đất của đảng CSVN đối với Trung cộng. Mọi ký kết hợp tác vùng cửa khẩu là một tái xác quyết công nhận những vùng đất của Việt Nam đã bị lọt vào tay Trung cộng là của Trung cộng.

– Bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Tổng cục Giám sát chất lượng, kiểm nghiệm kiểm dịch quốc gia Trung Quốc về việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật thương mại.

Điều này có nghĩa là chất lượng an toàn của mọi sản phẩm tuôn vào Việt Nam sẽ không được kiểm soát bởi Việt Nam là quốc gia tiêu thụ. Ngược lại đó được “kiểm soát” và phê chuẩn “an toàn” bởi quốc gia sản xuất ra những sản phẩm độc hại.

– Thỏa thuận hợp tác thả giống nuôi trồng nguồn lợi thủy sinh khu vực Vịnh Bắc Bộ Việt Nam-Trung Quốc.

Thỏa thuận này là cam kết của Nguyễn Phú Trọng để Trung cộng làm chủ, khai thác, có mặt và hoạt động trên toàn Vịnh Bắc Bộ dưới danh nghĩa “thả giống nuôi trồng nguồn lợi thủy sinh”.

– Kế hoạch hợp tác Du lịch Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2017-2019.

Khi Tập Cận Bình lấy du lịch để là 1 trong 15 cam kết và gọi nó là một “kế hoạch” thì đây phải là một ý đồ chính trị. Qua cái gọi là “kế hoạch” này, chúng ta sẽ thấy không những hàng ngàn đoàn du lịch Tàu “đổ bộ” Việt Nam nhưng những trình bày về địa danh, lịch sử, nguồn gốc… của các danh lam thắng cảnh tại Việt Nam sẽ được “hợp tác” để được thuyết minh theo hướng “xâm lược mềm” của Bắc Kinh.

– Thỏa thuận hợp tác giữa Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật và Nhà xuất bản Nhân dân Trung Quốc giai đoạn 2017-2021.

Đây là một nâng cấp để “sự thật” sẽ được xuất bản theo những điều láo lếu của Bắc Kinh. Toàn bộ diễn giải về chính trị theo ý hướng của Trung cộng sẽ được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tại Việt Nam tuân phục theo điều ký kết này. Lãnh vực xuất bản không thôi cũng chưa đủ để có được sự khống chế toàn diện về tư tưởng. Bên cạnh lãnh vực “đọc”, Nguyễn Phú Trọng đã mở rộng chu vi thần phục bằng 2 văn kiện khác cho lãnh vực “xem” và “nghe”:

– Bản ghi nhớ về việc hợp tác làm phim truyền hình chuyên đề “Sức lôi cuốn của Việt Nam – sức lôi cuốn của Trung Quốc” giữa Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc.

– Thỏa thuận hợp tác giữa Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc.

Để mở rộng sự thần phục của đảng con đối với đảng cha ra đến nhân dân, Nguyễn Phú Trọng đã ký:

– Bản ghi nhớ về kế hoạch hợp tác giai đoạn 2017-2021 giữa Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội Hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc.

Bên cạnh đó là 2 ký kết có tính nhân đạo là:

– Bản ghi nhớ hợp tác giữa Trung ương Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam và Trung ương Hội Chữ thập Đỏ Trung Quốc.

– Bản ghi nhớ về hợp tác triển khai viện trợ không hoàn lại chuyên về lĩnh vực y tế công cộng giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam với Bộ Thương mại Trung Quốc.

Tuy nhiên, tưởng là nhân đạo nhưng văn kiện này cho phép Bắc Kinh có mặt, kiểm soát và “giải quyết” những đại nạn về y tế, môi trường xảy ra ở mức vĩ mô / công cộng mà nguyên nhân đến từ các nhà máy xây dựng bởi Trung cộng, những sản phẩm tiêu dùng sản xuất bởi Trung cộng.

Trong khi Hoa Kỳ với tân tổng thống Donald Trump đang hé lộ chính sách thân Nga chống Tàu và viễn ảnh đảng và các quan chức sẽ bị… bớt giàu vì TPP bị khai tử, Nguyễn Phú Trọng đã tức tốc sang Tàu và giao hẳn Việt Nam vào tay Bắc Kinh bằng 15 văn kiện ký kết trước sự chứng kiến của vua cha là Tập Cận Bình.

Theo DLB.

https://badamxoevietnam2.wordpress.com/2017/01/15/khong-con-nghi-ngo-gi-nua-chung-no-ban-nuoc-that-roi/

GẮN CHẶT VÀO TRUNG CỘNG

FB Huỳnh Ngọc Chênh

16-1-2017

TBT Nguyễn Phú gặp CTN Tập Cận Bình trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua. Ảnh: internet

TBT Nguyễn Phú gặp CTN Tập Cận Bình trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua. Ảnh: internet

Cùng với thông báo chung và 15 văn kiện vừa ký kết ở Bắc Kinh, ông Nguyễn Phú Trọng đã hoàn thành những bước đi dứt khoát, đẩy Việt Nam gắn chặt vào quốc gia phương Bắc, một đất nước vốn có truyền thống lâu đời là thù địch với VN vì những dã tâm bành trướng không bao giờ ngưng nghỉ của họ.

Những bước đi nầy là sự tiếp nối những gì ông Nguyễn Văn Linh và ê kíp bảo thủ của ông đã mở ra khi bí mật bay sang Trung cộng cam kết quy thuận trở lại trong hội nghị Thành Đô đầy tai tiếng vào đầu thập niên 90.

Kể từ đó, Hà Nội từng bước nhích dần về phương Bắc tương thích với những đời tổng bí thư tiếp sau Nguyễn Văn Linh phải là những người trong ê kíp bảo thủ, được Bắc Kinh ủng hộ, đồng thời với sự loại bỏ dần những người tiến bộ có xu hướng hòa nhập với phương Tây trong bộ máy lãnh đạo của đảng CSVN, dù cho xu hướng đó đã đưa VN thoát khỏi tình cảnh khốn cùng do CNXH mang lại.

Tuy vậy, những tổng bí thư tiếp theo sau Nguyễn Văn Linh vẫn còn đôi chút e dè giấu diếm trong những bước đi nhích về phía Bắc. Nhưng đến đời ông Nguyễn Phú Trọng, nhất là sau đại hội 12, quyền lực được thu về một mối, đã làm ông đủ tự tin cất những bước đi mạnh mẻ và công khai đẩy VN gắn chặt số phận của mình vào Trung Hoa cộng sản. Trong ý nghĩa nầy, đại hội đảng CSVN lần thứ 12 đã thành công tốt đẹp như đảng tự đánh giá.

Dường như lịch sử đang lặp lại. Sau khi thống nhất đất nước vào đầu thế kỷ 19, bỏ qua nhưng lời khuyên tiến bộ với xu hướng cởi mở ra thế giới, Triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã tự nguyện “bế quan tỏa cảng” gắn chặt số phận vào triều đình phong kiến Mãn Thanh, đẩy đất nước vào đêm dài lạc hậu để cuối cùng đi đến chỗ mất nước. Vẫn còn may là đã không mất nước vào tay Mãn Thanh như số phận các quốc gia Tây Tạng, Tân Cương.

Ngày nay, qua những gì ông Trọng đã và đang làm, số phận Việt Nam lại gắn chặt vào số phận Trung Hoa hơn bao giờ hết. Hệ tư tưởng gắn chặt với hệ tư tưởng, chế độ cộng sản gắn chặt với chế độ cộng sản, đảng gắn chặt với đảng, nhà nước gắn chặt với nhà nước, đường lối gắn chặt với đường lối…

Cái gọi là hợp tác toàn diện với Trung cộng từ đảng, đến quốc phòng, an ninh, ngoại giao, kinh tế, du lịch, tuyên truyền, truyền hình, phát thanh, xuất bản, làm phim… thực chất là cam kết lệ thuộc.

Hợp tác đào tạo cán bộ đảng cao cấp là gì nếu không nói thẳng ra là các tầng lớp lãnh đạo của VN phải được đào tạo và chọn lọc từ Trung cộng. Ngược lại, nếu nói có qua có lại là đưa cán bộ lãnh đạo của Bắc Kinh qua học tập và đào tạo tại VN thì đó là chuyện hoang tưởng hết sức mỉa mai. Ai cũng thấy rõ, một khi đã ký cam kết “sản xuất ra nhà máy cái” nầy thì Trung cộng chẳng cần phải ký các cam kết gọi là hợp tác khác như an ninh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế…mà vẫn nắm chặt các hoạt động đó của VN.

Hợp tác đầu tư là gì nếu không nói là trải thảm đỏ mời gọi doanh nghiệp Trung cộng trong mọi lãnh vực tràn vào VN, là mở rộng cửa cho hàng hóa trong đó có hàng kém chất lượng và độc hại, là đón nhận thiết bị và công nghệ lạc hậu đến lúc phải phế thải của Trung cộng ào ạt vào VN. Xi măng lò đứng, nhà máy đường phế thải, thiết bị điện lạc hậu, các nhà máy ngàn tỉ đắp chiếu vì công nghệ Trung cộng, rồi bô xít Tây Nguyên, đường sắt trên cao Hà Nội (đội vốn lên 300%), formosa Hà Tĩnh…đã gây ra biết bao nhiêu tác hại không thể che giấu từ cái gọi là hợp tác đầu tư bình đẳng của hai phía.

Với đất nước tiên tiến và hùng mạnh nhất thế giới mà Hà Nội đang xa lánh dần vì phải gắn chặt vào Bắc Kinh là Hoa Kỳ, VN xuất siêu đến 29 tỷ đô la trong năm 2016, nhưng cay đắng thay, số tiền đó vừa đủ để bù nhập siêu với thị trường Trung cộng, là đất nước mà ông Trọng đang lao vào “hợp tác” toàn diện bằng mọi giá.

Gọng kìm của Trung cộng đang thít chặt vào VN từ nhiều hướng. Từ biển Đông, từ Lào và Kampuchia, từ biên giới phía Bắc, từ trên cao xuống và từ ngay trong nước.

Lịch sử cay đắng của dân tộc VN đang lặp lại ở mức độ cao sâu và nghiệt ngã hơn.

Việt Nam ở đầu thế kỷ 19, vẫn còn may là chưa kịp bị nuốt chững thì phong kiến Mãn Thanh đã bước vào lụn bại.

Việt Nam ngày hôm nay chỉ còn chút hy vọng mong manh là cộng sản Trung Hoa cũng tự sụp đổ vì sự phát triển méo mó của chính nó trước khi kịp nuốt chững VN một lần nữa.

FB Huỳnh Ngọc Chênh

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: