Vì sự tiến bộ xã hội!

Khác biệt giữa dân chủ pháp trị và độc tài toàn trị -Thiện Ý BĐLB VOA

Vì sự tiến bộ xã hội!

FB Lang Anh

16-2-2017

Người dân miền Trung đi kiện Formosa. Ảnh: internet

Người dân miền Trung đi kiện Formosa. Ảnh: internet

Ngày 14/02/2017, ngày lễ ngọt ngào với nhiều người nhưng không phải với những người Việt ở miền Trung. Một cuộc tuần hành đòi công lý với lá đơn kiện nhà máy Formosa đến toà án Nhân dân huyện Kỳ Anh. Họ bị giải tán giữa đường trong một nỗ lực ngày càng vụng về của chính quyền, lá đơn không bao giờ đến đích và công lý còn rất xa vời.

Tuy nhiên câu chuyện Formosa chưa kết thúc. Nó sẽ vẫn còn đó cùng với những tổn hại lâu dài ở vùng biển miền Trung cùng với những tác động khó lường tới sức khỏe con người. Bi kịch của những người dân ở đây không phải câu chuyện của riêng ai. Hầu như toàn bộ người dân trên khắp đất nước Việt Nam đều gánh chịu những bất công và bất cập xã hội ở những mức độ khác nhau do các tệ nạn mà chính thể độc tài hiện nay đang là căn nguyên chính. Và không phải chỉ có số phận người dân, vận mệnh của đất nước cũng đang chịu sự đe dọa sinh tồn khi tiềm lực quốc gia ngày một bị đánh cắp, ngày một bị thui chột, đất nước ngày một yếu hèn giữa lúc chủ quyền ngày một bị đe dọa.

Tôi suy nghĩ khá nhiều về câu chuyện Formosa. Nó cũng chỉ là một trong số hàng loạt vấn đề đang tàn phá đất nước này: Hàng nhập lậu Trung Quốc nhan nhản khắp mọi vùng miền đang bóp chết nền sản xuất còi cọc của Việt Nam; nạn thực phẩm độc và một cuộc diệt chủng mềm đang giết hại và làm suy thoái giống nòi người Việt; nạn tham nhũng và tha hoá đang tội phạm hoá đến tận gốc rễ bộ máy chính quyền; sự suy thoái đạo đức và khủng hoảng niềm tin xã hội; sự hủy diệt về môi trường, sự cạn kiệt về nguồn nước, cạn kiệt các nguồn tài nguyên và xa hơn nữa là thảm họa nước biển dâng rồi sẽ khiến Việt Nam mất trên dưới 30% lãnh thổ. Không có ai làm gì để bảo vệ đất nước trước những thảm họa không thể tránh được ấy. Đây là một con đường dẫn tới diệt vong, nếu những người đang sống trên đất nước này cứ tiếp tục thờ ơ với thời cuộc.

Tôi có thể hiểu và chia sẻ sự phẫn nộ của rất nhiều người vì những gì đang diễn ra ở đây. Đó là sự phẫn nộ chính đáng trước những bất công và trước sự vô đạo đức đến mức đáng kinh tởm của chế độ cầm quyền. Trong những năm qua, rất nhiều người Việt Nam tìm cách đấu tranh và nhiều người trong số họ phải chịu tù đày, những án tù khuất nhục mà người Việt đang phải chịu đựng. Dù có thể khác nhau về quan điểm hay con đường đấu tranh, nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng đất nước này chịu ơn những người Việt dũng cảm dấn thân vì công lý. Sự hy sinh của họ không chỉ cho những gì đã và đang diễn ra, không phải chỉ cho những người đang sống, mà còn cho những thế hệ tương lai và cũng là cho sự tồn vong của đất nước này.

Có không ít những tên tuổi đấu tranh nổi bật. Người tù nổi tiếng nhất Việt Nam hiện nay là anh Trần Huỳnh Duy Thức, đã thụ án trên 7 năm với nhiều lần tuyệt thực, luôn từ chối mọi lời đề nghị nhận tội để đổi lấy tự do. Và dù bị tách rời xã hội bằng một bản án bất công, anh vẫn giữ được sự tỉnh táo và cả niềm tin vào lý tưởng của mình. Phảng phất đằng sau hình ảnh của Trần Huỳnh Duy Thức là Nelson Mandela và Auu Sang Suu Kye. Không phải chỉ có mình anh, nhiều người Việt Nam khác cũng đã và đang bị chế độ cầm tù trong nỗ lực trấn áp đê hèn với những đòi hỏi không ngừng nghỉ của người Việt Nam về một xã hội có tự do, hy vọng và công lý.

Tôi không nghi ngờ rằng những án tù sẽ tiếp tục nhiều thêm theo thời gian vì sẽ ngày càng có nhiều người dấn thân cho tự do, và chế độ này sẽ chưa chịu từ bỏ quyền cái trị độc tài cho đến khi nó gây ra những tổn thương không thể khắc phục đối với người dân, hoặc đến khi sự thức tỉnh là đủ mức để nó buộc phải từ bỏ đặc quyền.

Tuy có nhiều tấm gương can trường, nhưng cho đến nay, các phong trào đòi hỏi dân chủ và tiến bộ xã hội của người Việt vẫn hết sức mờ nhạt. Các hoạt động hầu hết lẻ tẻ, rời rạc và hiệu quả không đáng là bao so với những tổn thất khốc liệt mà những người đấu tranh tiên phong đang phải chịu đựng. Có hai nguyên nhân. Trước hết chính là ở các hoạt động trấn áp hết sức có kinh nghiệm của chế độ hiện tại. Những người cộng sản từng đoạt được quyền lực từ chính các phong trào dân vận và những cuộc đấu tranh biểu tình kết hợp bạo động vũ trang. Họ từng hoạt động cả bí mật và cả công khai nhiều năm trước lực lượng phòng nhì tinh nhuệ của Pháp và sau này là tình báo Mỹ. Kinh nghiệm kiểu hoạt động bí mật và bán công khai của họ đủ để tổng kết thành những giáo trình đắt giá. Họ rất có kinh nghiệm trong trò chơi phản gián để thâm nhập và phá hoại từ bên trong tổ chức của đối phương. Chính vì thế mà bộ máy an ninh của họ có khả năng siêu đẳng trong việc theo dõi, giám sát và triệt hạ các phong trào đấu tranh của những người dân chủ. Hầu hết những người Việt Nam dấn thân nổi bật đều bị triệt hạ trước khi có thể tạo được những kết quả có ý nghĩa so với sự hy sinh mà họ đã và đang phải chịu đựng.

Nguyên nhân thứ hai, nằm ở chính cách thức vận động và đấu tranh của những nhà hoạt động cho tiến bộ của Việt Nam. Phải nhìn nhận thẳng thắn rằng hoạt động đấu tranh của những nhà đấu tranh tiên phong của Việt Nam thời gian qua đều thiếu những mục tiêu thực tiễn và rõ ràng, với cách tổ chức quá rời rạc và thiếu hiệu quả và có khả năng tác động quá hạn chế đối với người dân. Khả năng trấn áp rất hiệu quả của chế độ và sự thiếu kinh nghiệm của những người đấu tranh là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng bế tắc của hầu hết các phong trào vận động cho tiến bộ xã hội ở Việt Nam.

Rõ ràng là thời gian tồn tại của chế độ độc tài này càng kéo dài thì những tổn thương của đất nước sẽ ngày càng lớn. Thậm chí nếu cứ để nó mặc nhiên diễn ra, rồi sẽ đến mức vô phương cứu chữa và sẽ là một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dân tộc. Có thể nhìn thấy trước những gì sẽ diễn ra, đó là chiến tranh, nội loạn và ngoại xâm cùng lúc hoành hành. Vẫn có những cách để vãn hồi, vẫn có những giải pháp cho sự thay đổi, trước khi mọi việc quá trễ.

Tôi sẽ cố gắng hệ thống lại một vài quan điểm rời rạc của mình về một con đường có tính khả thi và chấp nhận được cho đất nước này:

1. Nhận định rõ điểm mạnh và những điểm yếu không thể khắc phục của chế độ hiện tại:

– Chế độ hiện nay là một trong những chế độ cai trị có nhiều kinh nghiệm nhất trong việc trấn áp các hình thức đấu tranh công khai, bán công khai và hoạt động tình báo bí mật trong nội bộ đối phương. Họ đặc biệt có kinh nghiệm đối phó với các hoạt động đấu tranh tuyên truyền kết hợp biểu tình vì họ chính là những người dùng nó đầu tiên ở Việt Nam. Họ có một bộ máy cực kỳ hùng hậu công an, mật vụ, an ninh và một lực lượng cực kỳ đông đảo nhân viên bán vũ trang luôn sẵn sàng cho mọi hoạt động trấn áp. Trong bối cảnh hiện tại, bất cứ một phong trào đấu tranh tập trung dựa vào một hoặc một số cá nhân nổi bật nào đều sẽ dễ dàng bị chính quyền triệt hạ. Cần nhận thức rõ điểm mạnh nổi bật này của họ. Mọi phong trào đấu tranh ở Việt Nam cần được xây dựng trên nền tảng phân tán lực lượng, phân nhỏ thành các nhóm hoạt động có kết nối với nhau và phải thâm nhập một cách càng nhiều càng tốt vào những lực lượng có tiềm năng đấu tranh nhất ở Việt Nam: Những người dân chịu áp bức, lực lượng sinh viên và trí thức tiến bộ.

– Chế độ hiện nay có lợi thế lớn trên mặt trận kiểm duyệt tư tưởng và tuyên truyền. Thứ vũ khí lợi hại của những người cộng sản là triệt tiêu tự do ngôn luận và tự do tư tưởng. Họ coi việc kiểm duyệt tư tưởng là một công cụ cai trị chính yếu thậm chí còn xếp trên mọi loại luật pháp. Hiện nay chính quyền vẫn nắm quyền kiểm soát tuyệt đối báo chí và các phương tiện truyền thanh, truyền hình và do đó vẫn có khả năng tác động đáng kể đến một số rất đông người Việt Nam đang sống tại vùng nông thôn, vốn chịu nhiều bất công hơn bất cứ ai nhưng lại chịu tác động lớn của lối tuyên truyền ngu dân và nhồi sọ.

Bên cạnh những điểm mạnh mà chế độ đang nắm thế thượng phong, nó cũng có những điểm yếu không thể khắc phục:

– Đầu tiên chính là tình trạng khủng hoảng về lý luận của chính đảng cầm quyền. Dù đến nay vẫn tuyên truyền lấy học thuyết của Marx làm nền tảng, nhưng tất cả những người cộng sản đều hiểu rằng đó chỉ là một thứ lý thuyết lừa bịp và ảo tưởng. Họ cố tìm cách bấu víu bằng cách dựng ra hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, tuy nhiên bản thân ông Hồ chỉ là một nhà hoạt động thực dụng và có nền tảng triết lý không mấy lỗi lạc, với những quan điểm rời rạc về đạo đức theo kiểu Khổng giáo và những hiểu biết chắp vá về chủ nghĩa Marx. Ông ta cũng hoàn toàn không có kinh nghiệm gì trong việc xây dựng một xã hội pháp trị với một chính quyền được kiểm soát tốt về quyền lực. Kết quả là Đảng cầm quyền hiện nay thiếu vắng hoàn toàn lý tưởng dẫn đường khiến nó mất toàn bộ tính chính danh. Cũng chính là lý do khiến bộ máy cầm quyền tha hoá đến tận gốc rễ vì đảng viên của nó hoàn toàn không còn lý tưởng trong lúc nắm quyền lực cai trị tuyệt đối.

– Thứ hai là căn bệnh tham nhũng, sa đọa và suy thoái đến tận gốc rễ của chế độ cầm quyền. Đây là một hệ thống chính trị lỗi. Nó được xây dựng trên nền tảng của một chế độ độc tôn về quyền lực. Đảng cộng sản ngự trị trên xã hội và quyết định mọi vấn đề của quốc gia, từ việc kiểm soát và chi phối hoạt động bầu cử (tham khảo: ) đến việc tổ chức bộ máy nhà nước và việc kiểm soát báo chí và tư tưởng trong các hội. Điều này khiến Đảng có một quyền lực tuyệt đối nhưng đó cũng chính là nguyên nhân khiến bộ máy của nó nhanh chóng tha hoá và hiện nay đã đến mức vô phương cứu chữa: Quyền lực của Đảng được xây dựng trên sự độc tôn và kìm kẹp tự do. Nó dẫn tới tình trạng tham nhũng và suy thoái đạo đức không cách nào kiểm soát. Toàn bộ hệ thống cai trị của chế độ hiện nay xây dựng trên một nền tảng khuyến khích phạm tội công khai: Không có bất cứ viên chức của chế độ nào, từ cấp cao nhất là Tổng Bí Thư, cho đến cấp thấp nhất là trật tự phường, có khả năng sống với thu nhập hợp pháp theo bảng lương. Với lợi thế quyền lực độc tôn trong tay, cả hệ thống ấy hiện đều là những tội phạm tham nhũng ở những mức độ khác nhau, dựa vào quyền lực cấu kết với các nhóm lợi ích và các lợi thế thông tin. Điều bi kịch lớn nhất ở đây, là do không do người dân bầu ra, cái hệ thống lỗi này đang gây sự tàn phá nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia ở mọi phương diện, vì nó chỉ lấy việc duy trì sự cai trị độc tài của Đảng là mục tiêu tối cao thay vì phụng sự đất nước

(Tham khảo: – Những câu hỏi tại sao   —   Lỗi hệ thống và nạn lạm dụng quyền lực   —   Tương lai nào cho Việt Nam với chính thể hiện nay   —   Phong trào Một lá phiếu, một cái tên)

Những điểm yếu căn bản của chế độ đang gây ra hàng loạt những tổn thương sâu sắc đối với đất nước này. Theo thời gian, bất cập ngày một lớn lên, nhưng điều nguy hiểm là nếu không có những cách hành động đúng, chế độ này sẽ vẫn tồn tại cho đến khi nó tàn phá mọi nguồn lực, vay mọi thứ có thể vay và tiêu đến nhứng đồng cuối cùng trong ngân khố quốc gia. Sự sụp đổ của nó là tất yếu nhưng khi đó thì người Việt cũng chỉ còn một đống đổ nát hoang tàn. (Tham khảo: Đảng cộng sản Việt Nam, ngã ba đường lịch sử: phần 1, phần 2, phần 3phần kết)

Một cuộc đấu tranh đúng ở Việt Nam phải là cuộc đấu tranh làm tan rã chế độ cai trị độc tài, đồng thời bảo tồn được hoà bình và những nguồn lực để xây dựng quốc gia. Đây là một cuộc đấu tranh không dễ dàng, nhưng tôi tin nó có thể thành công với những hành động đúng.

2. Mục tiêu đấu tranh – khác biệt giữa ngắn hạn và dài hạn:

Hầu hết những phong trào đấu tranh của người Việt thời gian qua đều khá mơ hồ về mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, dẫn tới các giải pháp hoặc là khá xa rời thực tiễn hoặc là không mấy hiệu quả. Đại loại hầu hết các nhà đấu tranh dân chủ đều đặt mục tiêu lật đổ chế độ độ người tài cộng sản và xây dựng nền chính trị tam quyền phân lập với nền bầu cử tự do và quyền tự do ngôn luận như mô hình của các xã hội tiến bộ phương Tây. Đây là một mục tiêu không có gì sai nhưng nó chỉ gần với giới trí thức và rất xa lạ với hầu hết phần còn lại của xã hội. Đồng thời nói tới sự lật đổ khiến người ta hình dung tới chiến tranh và khó có được sự thiện cảm ngay từ đầu của đại bộ phận người dân vốn luôn sợ hãi chiến tranh và khao khát yên bình. Một mục tiêu quá xa và một khẩu hiệu quá mạnh chỉ dẫn tới xa rời thực tại và thất bại trong việc quy tụ đông đảo con người. Cần xác định lại những mục tiêu phù hợp cho các phong trào đấu tranh vì có mục tiêu đúng thì mới có giải pháp đúng.

Trong giai đoạn trước mắt, các phong trào đấu tranh cần xác định rõ đâu là mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn. Tôi cho rằng đấu tranh cho một xã hội tiến bộ nhất thiết phải dựa vào những bước đi liên tiếp phù hợp với tình hình thực tiễn và do đó các mục tiêu đấu tranh phải dựa trên những yếu tố có thể thu hút được nhiều người nhất, gây được sự hưởng ứng xã hội rộng nhất, từ đó tạo thành sức mạnh buộc chế độ phải có những thỏa hiệp và nhượng bộ, tạo tiền đề cho một xã hội tiến bộ ở Việt Nam. Cụ thể:

– Tập trung vào khẩu hiệu đấu tranh chống nạn lạm dụng quyền lực của bộ máy chính quyền. Đó là tình trạng bắt người trái phép, nạn cấu kết cướp đất đai của hệ thống công quyền ở khắp các địa phương, tình trạng tra tấn và lạm dụng nhục hình của bộ máy công an… Lỗi hệ thống của chế độ khiến những tệ nạn này ngày càng tăng theo thời gian và đó là một trong những thứ dễ thu hút sự hưởng ứng của đại bộ phận xã hội.
– Tập trung vào khẩu hiệu đấu tranh chống tham nhũng, vận động người dân thu thập bằng chứng bằng video clip, bằng hình ảnh và mọi hình thức có thể về các hành vi ăn hối lộ của bộ máy công quyền và chia sẻ chúng trên mạng truyền thông xã hội. Điều này sẽ buộc chính quyền phải hành động ở mức độ này hay mức độ khác, nhưng điều quan trọng nhất là nó sẽ khiến ngày càng nhiều người nhận thức rõ về tình trạng tội phạm hoá vô phương cứu chữa của hệ thống chính quyền, từ đó tạo sức mạnh đồng thuận xã hội cho các mục tiêu đấu tranh xa hơn.

– Tập trung vào đấu tranh với những bất cập trong quản trị xã hội của chế độ, ví dụ việc chính quyền bất lực với nạn thực phẩm độc tràn lan đang giết hại từ từ người Việt; việc để hàng giả, hàng chất lượng kém nhập lậu từ Trung Quốc tàn phá đất nước Việt Nam; việc để mặc cho người TQ tự do đi lại, tự do nhập cảnh trái phép, tự do tiến hành các hoạt động thương mại phá hoại đối với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản và hàng tiêu dùng trên khắp đất nước Việt Nam… Đó đều là những thứ mà người Việt đang tận mắt chứng kiến và bức xúc đến cùng cực.

– Tập trung đấu tranh với những hành động yếu kém của chế độ trong bảo vệ chủ quyền quốc gia: Những chính sách thân thiện của chế độ cộng sản Việt Nam với Trung Quốc trong lúc nền kinh tế ngày một lệ thuộc nặng nề, chủ quyền biển ngày một teo tóp dần và ngư dân bị bỏ mặc cho sự khủng bố có hệ thống của Trung Quốc trên các vùng biển Việt Nam mà hoàn toàn không có sự bảo vệ của chính quyền.

– Tập trung đấu tranh đòi chế độ phải ban hành luật biểu tình trong một lộ trình 1 năm. Quyền biểu tình có trong mọi bản hiến pháp của Việt Nam, nhưng tính từ năm 1946 đến nay đã 71 năm, hoặc chỉ tính từ năm 1975 cho đến nay thì đã tròn 42 năm chế độ hiện nay tước quyền biểu tình của người dân khi trì hoãn ban hành luật biểu tình dù đất nước đã thống nhất ngót nửa thế kỷ. Tuyên truyền rõ điều này cho càng nhiều người càng tốt để tạo sức mạnh đồng thuận xã hội và làm rõ tính hủ bại của chế độ cầm quyền trong việc kìm kẹp đất nước. Chỉ ra đây là một nguyên nhân cốt lõi dẫn đến nạn lạm dụng quyền lực ở Việt Nam và người dân đang bị tước một công cụ đấu tranh cơ bản nhất, chính đáng nhất và văn minh nhất là quyền biểu tình trước các bất cập xã hội.

– Tập trung đòi sửa đổi và/hoặc xoá bỏ các điều luật phản văn minh mà chế độ vẫn đang dùng để bỏ tù mọi trí thức đấu tranh: Ví dụ như điều 258, điều 88 bộ luật hình sự, theo đó họ có thể bỏ tù con người khi họ không có hành động gì khác ngoài việc thực hiện quyền tự do ngôn luận.

– Tập trung đấu tranh đòi tự do tôn giáo vì xét ở bối cảnh hiện tại, các tổ chức tôn giáo rất có lợi thế trong việc tập hợp con người và có thể làm hạt nhân cho những mục tiêu đấu tranh đã liệt kê ở trên

3. Giải pháp:

– Phân tán lực lượng thành các phong trào hoạt động xã hội nhỏ lẻ, tận dụng tối đa mọi biện pháp đấu tranh hợp pháp để chính quyền không thể đàn áp hiệu quả. Tổ chức thành các nhóm hoạt động xã hội từ thiện kết hợp tuyên truyền vận động người dân. Tránh việc kết hợp thành các mạng lưới có kết cấu chặt chẽ vì sẽ dễ bị tập trung khủng bố và bắt bớ. Có hai hình thức hiệu quả nhất là tổ chức các nhóm từ thiện và các nhóm trợ giúp pháp lý cho các nạn nhân bị đàn áp, bị tước đoạt tài sản bởi chính quyền và các nạn nhân bị bạo hành, tra tấn bởi lực lượng công an.

– Tận dụng tối đa hệ thống truyền thông xã hội, bao gồm mạng xã hội và hệ thống Internet. Đây là một công cụ đang làm xói mòn sự kìm kẹp của chế độ về mặt tư tưởng và đang hỗ trợ ngày càng hiệu quả cho tự do ngôn luận ở Việt Nam. Nó cũng là một kênh quan trọng nhất giúp các nhóm hoạt động xã hội có thể kết nối với nhau và có những kênh liên lạc hoặc phối hợp khi cần những hoạt động rộng khắp (ví dụ như việc sử dụng mạng xã hội để kêu gọi cho các hoạt động tuần hành tập thể như trong chuỗi sự kiện Formosa, hoặc để kêu gọi tài trợ cho các nhóm hoạt động xã hội, trợ giúp pháp lý …) Trong vòng vài năm tới, các tiến bộ công nghệ sẽ khiến chính quyền mất hoàn toàn khả năng kiểm soát sự kết nối của mạng truyền thông xã hội, đặc biệt khi các chương trình kết nối vệ tinh toàn cầu của Google, facebook hay SpaceX thành hình. Đây đã và sẽ là một kênh thông tin quan trọng nhất cho các hoạt động xã hội ở Việt Nam.

– Kiên trì đến cùng với phương châm đấu tranh bất bạo động và hoà bình. Có hai lý do: Mọi xã hội văn minh đều chỉ ủng hộ những lực lượng yêu chuộng hoà bình, và cũng chỉ có tôn chỉ hoà bình mới có thể thuyết phục rộng rãi người dân, từ đó tạo thành sức mạnh đoàn kết làm thay đổi xã hội. Mặt khác, sử dụng bạo lực, đàn áp, reo rắc sợ hãi và nghi ngờ là thế mạnh của chế độ hiện nay. Chỉ có bằng con đường hoà bình, dựa trên sự đoàn kết của đông đảo người dân mới có thể tạo được sức mạnh đối chọi lại sự khủng bố của chính quyền. Do đó cần nhận diện và đấu tranh với tất cả các khẩu hiệu bạo lực và cực đoan, vì hoặc đó là của những kẻ cực đoan gây bạo loạn và/hoặc của chính lực lượng an ninh của chính quyền kích động rối loạn để dễ bề trấn áp và khủng bố.

– Soạn thảo những tài liệu đơn giản nhất, dễ hiểu nhất, ngắn gọn nhất để phổ biến tới càng nhiều người càng tốt về các bất cập xã hội, về những biện pháp chia sẻ thông tin, những khẩu hiệu đấu tranh trong giai đoạn trước mắt.

– Phối hợp các hoạt động xã hội với các tổ chức tôn giáo tiến bộ có triết lý khuyến khích hoà bình và hoà giải, để tận dụng tính tổ chức và khả năng tập hợp con người của các tôn giáo văn minh.

Vài lời cuối cùng: Đây chỉ là những ý tưởng thiếu liền mạch mà tôi viết vội giữa những chặng dừng trong một chuyến hành trình vội vã. Nó thiếu sót và cần được bổ sung. Đất nước vốn không của riêng ai và Đó là việc của các bạn, những người quan tâm đến sự thịnh vượng và tồn vong của đất nước này. Tôi muốn nhấn mạnh rằng cuộc đấu tranh này chỉ có thể thành công, đất nước này chỉ có thể có tương lai khi mỗi người trong số chúng ta sẵn sàng làm những điều đơn giản nhất cho chính chúng ta và cho tương lai con cháu chúng ta: Hãy chia sẻ các thông điệp tiến bộ và hoà bình; hãy làm càng nhiều người biết càng tốt về thực trạng đất nước; hãy sẵn sàng quyên góp và/hoặc tham gia các hoạt động trợ giúp cho những người bị tù oan, bị đàn áp, bị cướp đoạt tài sản và kế sinh nhai; hãy sẵn sàng xuống đường tuần hành để đòi chính quyền liêm chính, bảo vệ công lý, bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền, đòi quyền biểu tình, quyền tự do lập hội và hội họp, đòi xoá bỏ các điều luật bất công… Bất cứ ai cũng có thể làm được một điều gì đó, có thể thuyết phục được một ai đó trong hoà bình để họ hiểu và đi cùng bạn. Khi mỗi người thuyết phục được thêm một người, mỗi người trợ giúp được thêm một người, với sự kiên trì và đoàn kết, trong vòng không quá 5 năm, sẽ có hàng triệu người tiến bộ. Đó cũng là lúc bình minh lên ở đất nước này.

https://anhbasam.wordpress.com/2017/02/16/11-658-vi-su-tien-bo-xa-hoi/

Khác biệt giữa dân chủ pháp trị và độc tài toàn trị

BĐLB VOA

Thiện Ý

14-2-2017

Lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12, 21/1/2016. (Ảnh tư liệu). Nguồn: EPA

Lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12, 21/1/2016. (Ảnh tư liệu). Nguồn: EPA

Có quan niệm cho rằng chính trị và đạo đức là hai phạm trù khó có sự dung hợp, “chính trị đi vào thì đạo đức đi ra”. Vì nói đến chính trị là người ta hay nghĩ đến các thủ đoạn, âm mưu giành chính quyền để thực hiện những chủ trương chính sách cai trị; người hay đảng cầm quyền có thể vận dụng mọi phương cách dù gian trá, bất chính, vô nhân đạo, phản đạo đức, vô luân để đạt mục tiêu cá nhân hay tập thể.

Quan niệm này có thể phản ánh phần nào sinh hoạt chính trị thực tế, nhưng chỉ đúng về mặt tiêu cực của chính trị, mà không đúng về mặt tích cực và chính mặt tích cực này của chính trị mới phản ánh trung thực nội dung và ý nghĩa cao đẹp của chính trị, phù hợp với nhân đạo, đạo đức xã hội. Theo đó từ ngữ chính trị bao gồm hai cơ cấu tổ chức và nhân sự điều hành chính quyền để thực hiện chủ trương, chính sách cai trị sao cho có hiệu quả thực tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi tầng lớp nhân dân được sống trong độc lập, tự do, công bình, ấm no và hạnh phúc.

Một chính đảng, muốn nắm được chính quyền theo vương đạo, phải chứng tỏ trước nhân dân là một đảng chân chính, vững mạnh về tổ chức, đưa ra được các chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân có tính thuyết phục và khả thi. Người làm chính trị chuyên nghiệp, muốn nắm được chính quyền, trước hết phải chứng tỏ tài năng và đạo đức cá nhân trước chính đảng của mình (nếu muốn nắm chính quyền thông qua chính đảng), hay trước nhân dân (nếu muốn nắm chính quyền với tư cách cá nhân). Như vậy, chính trị và đạo đức dù ở hai phạm trù vẫn có sự dung hợp và là một sự kết hợp phải có theo ý nghĩa chính danh, cao đẹp của từ ngữ chính trị. Chẳng qua, quan niệm cho rằng giữa chính trị và đạo đức không thể dung hợp, xuất phát từ những biểu hiện tiêu cực của các hoạt động chính trị thực tiễn của các chính đảng và các chính trị gia bất chính, bất lương, làm chính trị theo trường phái bá đạo, chỉ vì lợi ích cá nhân hay chính đảng của mình. Thế nhưng, thực tế với các biểu hiện tích cực của các chính đảng và các chính trị gia chân chính, lương hảo, đã xác tín nội dung và ý nghĩa cao đẹp của từ chính trị. Đồng thời cũng chính thực tế thể hiện mặt tiêu cực của các chính đảng và các chính trị gia bất chính, bất lương, đã làm mất niềm tin của nhân dân, khiến chính trị có bản chất trái đạo đức, vô nhân đạo.

Vì vậy, dưới mắt quần chúng và công luận xã hội, đạo đức chính trị đã là chuẩn mực xét định, tín nhiệm, tuyển chọn, đánh giá các chính đảng và các chính trị gia chuyên nghiệp. Trên thực tế, quần chúng và công luận luôn giữ vững các chuẩn mực này và không bỏ qua những vi phạm chuẩn mực đạo đức đối với các chính đảng hay các chính trị gia tham chính.

Trên thực thế cho thấy ý nghĩa tích cực, cao đẹp của chính trị thường thể hiện mức độ cao trong các chế độ chính trị “dân chủ pháp trị”; còn ý nghĩa tiêu cực xấu xa của chính trị hầu như chỉ thể hiện trong các “chế độ độc tài” các kiểu (quân chủ chuyên chế, tôn giáo chuyên chế, độc tài quân phiệt, cộng sản chuyên chính hay cộng sản độc tài toàn trị…). Thực tế ai cũng có thể thấy rõ sự khác biệt vế ý nghĩa chính trị tốt hay xấu nơi các nước theo chế độ dân chủ và các nước theo chế độ độc tài.

Tại Hoa Kỳ, như quý độc giả quan tâm đều biết qua các cuộc tranh cử vào các chức vụ dân cử hay công cử, tiêu chuẩn đạo đức cá nhân chính trị gia là một tiêu chuẩn hàng đầu gắn liền với tài năng các ứng viên độc lập cũng như do chính đảng đưa ra. Trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ dân cử các cấp liên bang hay tiểu bang và địa phương nói chung, một số ứng viên đã phải bỏ cuộc sau khi công bố ý định ra tranh cử hay mới bước vào tranh cử một thời gian, do bị cử tri hay truyền thông báo chí đưa ra trước công luận những vi phạm đạo đức cá nhân. Thông thường, các ứng viên biết tự trọng phải bỏ cuộc, vì những vi phạm pháp luật liên quan đến ái tình bất chính (vi phạm luật hôn nhân gia đình) hay trốn thuế, thể hiện một phẩm chất thiếu trung thực, bất xứng với nhân cách một người đại diện làm việc cho dân cho nước. Vì vậy, trong cuộc bầu cử vừa qua những người chống ứng cử viên Tổng thống Donald Trump đã cố đưa ra những quan hệ bừa bãi trong đời thường của ông Trump với phụ nữ và cố buộc ông phải công khai hồ sơ khai thuế. Nhưng rốt cuộc ứng cử viên Trump đã không hề hấn gì, có lẽ ông đã không vi luật (hôn nhân gia đình và thuế vụ) mà vợ con của ông và sở thuế đã biết rõ thực chất các vụ tố cáo này chăng? Do đó, trong các cuộc bầu cử tranh cử tự do ở Hoa Kỳ, mọi người đều có quyền bóc trần đời tư cá nhân của một ứng viên mà không sợ bị kết tội vi phạm đời tư cá nhân là như vậy.

Đối với các chức vụ công cử cũng vậy, ngoài tài năng, phẩm chất đạo đức của các ứng viên cũng được xét đến. Vì vậy những người sau khi được tân Tổng thống Donald Trump (cũng như các vị tiền nhiệm) mời tham gia nội các còn phải được sự chuẩn thuận của Quốc hội để được xét nhiều mặt trong đó có phẩm chất đạo đức cá nhân. Một điển hình dưới thời Tổng thống Barrack Obama nhiệm kỳ đầu, đã có ba nhân vật được ông đề cử vào các chức vụ công quyền, nhưng hai trong ba vị này đã phải từ chối sự đề cử sau khi bị phanh phui thiếu thuế. Đó là cựu Thượng Nghị sĩ Tom Dashle, từng là lãnh tụ đảng Dân Chủ tại Thượng Viện, tuyên bố không nhận chức Bộ trưởng Y tế đặc trách chương tình cải tổ y tế đầy tham vọng của Tổng thống Obama, vì đã quên trả tiền thuế $130,000. Khi loan báo quyết định rút lui, ông Dashle nói rằng ông không thể nào thi hành công vụ với niềm tin không trọn vẹn của Quốc hội và người dân Mỹ”. Từ chối của ông Dashle được đưa ra chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi bà Nancy Killefer, người được Tổng thống Obama để cử làm người quản trị ngân sách Tòa Bạch Ốc, một chức vụ mới nhằm theo dõi sự chi tiêu tránh lãng phí của chính phủ, phải từ nhiệm cũng vì vướng mắc với tiền thiếu thuế trong quá khứ. Riêng ông Tim Geithner được đề cử giữ chức Bộ trưởng Tài chánh thì khỏi phải từ nhiệm, vì đã kịp sửa sai sự thiếu thuế. Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình NBC, Tổng thống Obama nói ông rất buồn, hối tiếc và có lỗi trong việc giải quyết vụ việc này. Ông nói: “Tôi nhìn nhận mình đã sơ suất, lầm lỗi này quan trọng cho cả nội các, vì chúng ta muốn gửi đi thông điệp rằng nước Mỹ không có hai bộ luật riêng rẽ, một dành cho người có chức quyền, và một dành cho dân nghèo”.

Trong khi đó, chế độ độc tài toàn trị cộng sản tại Việt Nam, chẳng cần nói ra thì nhân dân Việt Nam ai cũng biết chính trị không có đạo đức và không cần đạo đức. Vì vậy khác với chế độc dân chủ, các chức vụ công cử đều do sự chọn lựa duy nhất của đảng CSVN. Tiêu chuẩn hàng đầu để được lựa chọn không phải là nhân cách, tác phong và đời sống đạo đức mà là lòng trung thành được thể hiện trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách. Tiêu chuẩn tài năng cũng cần, nhưng chỉ là để làm tốt nhiệm vụ đảng giao phó, vì lợi ích của đảng chứ không phải lợi ích của dân. Trong các cuộc bầu cử, đảng CSVN chọn ứng cử viên để dân bầu. Các cử tri cũng được quyền phê phán có mức độ, nhưng nghiêm cấm bới móc đời tư cá nhân ảnh hưởng không tốt cho đảng. Truyền thông, báo chí thì nhà nước nắm độc quyền nên lý lịch các ứng cử viên đảng cho biết đến đâu thì dân biết đến đó. Tội trốn thuế chỉ áp dụng cho nhân dân, cũng như quan hệ bất chính dù vi phạm luật hôn nhân gia đình là không có hay có cũng không được áp dụng với các ứng cử viên được đảng chọn và các quan chức nhà nước cao cấp. Đó là thực trạng phổ biến dưới chế độ “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” hiện nay.

Như vậy có thể nói, chính trị phải có đạo đức, sự vi phạm đạo đức chính trị là do các hành vi của các chính đảng và những người làm chính trị. Có khác chăng là cách xử lý các vi phạm đạo đức chính trị trong chế độ dân chủ có khác chế độ độc tài. Sự khác biệt này được thể hiện qua cách xử lý của Tổng thống Obama và sự tự giác, tự xử những vi phạm đạo đức chính trị của những người được đề cử vào các chức vụ công quyền ở Hoa Kỳ. Trong khi đó, dưới chế độ cộng sản Việt Nam, những ứng cử viên được đảng chọn không tự giác từ chối sự đề cử của đảng khi thấy mình bất xứng về đạo đức đã đành, mà chính đảng CSVN còn coi nhẹ tiêu chuẩn đạo đức và tìm cách bao che những vi phạm pháp luật của các viên chức cầm quyền vì lợi ích cao nhất của đảng.

Tựu trung, trong chế độ độc tài toàn trị như ở Việt Nam hiện nay, có hai thứ luật pháp, một cho nhân dân và một cho những kẻ cầm quyền. Như thế, nó tiêu biểu cho mặt tiêu cực của chính trị, làm mất ý nghĩa cao đẹp của chính trị, khiến nhiều người lầm tưởng hai phạm trù chính trị và đạo đức không thể dung hợp, trong khi thực chất và thực tế chính trị và đạo đức có tính chất song hợp, góp phần chủ yếu vào sự ổn định, phát triển và thăng hoa xã hội lòai người. Vì chính trị mà không có đạo đức, không chỉ phá hủy niềm tin con người mà còn phá hủy cả sự tiến bộ và nền đạo đức xã hội.

https://anhbasam.wordpress.com/2017/02/15/11-656-khac-biet-giua-dan-chu-phap-tri-va-doc-tai-toan-tri/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: