TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM Á (PHẦN 1) 

TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM Á (PHẦN 1)

Đôi lời: Một bài viết rất dài và rất công phu, khoảng 98.000 từ, của tác giả Lý Đăng Thạnh, chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xin được giới thiệu với độc giả vào thời điểm Tòa Trọng tài Quốc tế sắp công bố phán quyết của vụ Philippines kiện Trung Quốc ở biển Đông. Do bài viết rất dài, xin được chia ra làm 3 phần để đăng trong nay mai. Sau đây là phần 1 của bài viết.

_____

Lý Đăng Thạnh

11-7-2016

Nội dung bài viết này gồm năm phần:

I – Biển Đông Nam Á

II- Sự tạo lập và duy trì chủ quyền cương vực trên Biển Đông Nam Á trước năm 1909

III- Sự tạo lập, duy trì và tranh chấp chủ quyền cương vực trên Biển Đông Nam Á thời 1909-45

III- Sự tạo lập, duy trì và tranh chấp chủ quyền cương vực trên Biển Đông Nam Á thời 1945-75

IV- Sự tạo lập, duy trì và tranh chấp chủ quyền cương vực trên Biển Đông Nam Á từ năm 1975

Trên bản đồ thế giới, tại khu vực Đông Nam Á có một vùng biển rộng khoảng 3.447.000 km2, nằm giữa các nước Trung Cộng, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Bruney, Singapore, Indonesia, Cambodia, Thái Lan và Việt Nam. Đây là biển lớn thứ tư thế giới sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập.

I – BIỂN ĐÔNG NAM Á

1- Cách gọi tên Biển Đông Nam Á trong lịch sử

Do là vùng biển quốc tế giáp với nhiều quốc gia có ngôn ngữ và truyền thống khác nhau, nên Biển Đông Nam Á từng mang nhiều tên gọi khác nhau, theo cách gọi của Trung Hoa, Việt Nam, các nước Đông Nam Á khác, và của các học giả Phương Tây.

Tuy nhiên có điểm chung nhất quán, là cho đến trước khi xuất hiện khái niệm ‘Chủ quyền đường Cửu Khúc/9 đoạn/Lưỡi Bò/Hình chữ U’ của Trung Hoa Dân Quốc và Trung Cộng, thì chưa từng có tài liệu nào dám hỗn hào ngu ngốc, công nhiên đòi hỏi chủ quyền quốc gia đối với toàn bộ diện tích Biển Đông Nam Á.

a- Theo cách gọi tên của Trung Hoa

Sách Dật Châu Thư (逸周書), ghi chép biên niên sử triều Tây Châu (1046-771 BC) của Trung Hoa, đã gọi vùng biển Đông Nam Á là Nam Phương Hải (南方海), chép rằng vua của các nước ‘man di’ quanh Nam Phương Hải đã triều cống nhiều hải sản như đồi mồi, hải sâm… cho vua Triều đình Châu, đặt kinh đô tại Cảo Kinh (~ Tây An, tỉnh Thiểm Tây).

Các sách Thi Kinh (詩經), Tả Truyện (左傳), Quốc Ngữ (國語) thời Xuân Thu (771-476 BC) gọi vùng biển Đông Nam Á là Nam Hải (南海), với ý nghĩa là ‘một trong bốn vùng biển bao quanh Trung Quốc’.

Dưới thời Đông Hán (23-220), thư tịch Trung Hoa gọi vùng biển này là Trướng Hải (漲海), có nghĩa là ‘vùng biển rộng mênh mông’; rồi sang thời Nam Bắc Triều (420-589) gọi là Phí Hải (沸海), có nghĩa là ‘vùng biển luôn sục sôi nhiều sóng gió’.

Từ thời Đại Đường dần dần đổi sang gọi là Nam Hải (南海), cho đến triều Đại Thanh thì tên gọi Nam Hải được người Trung Hoa sử dụng chánh thức và phổ biến cho đến ngày nay. Trong thời cận đại, do tên gọi của biển Nam Hải trong nhiều tài liệu ngoại ngữ khác mang ý nghĩa là ‘biển nằm ở phía nam Trung Hoa’ nên khi dịch sang Hán văn đã làm phát sinh thêm tên gọi ‘Nam Trung Quốc Hải’ (南中国海, 南中國海) và ‘Trung Quốc Nam Hải’ (中國南海, 中国南海).

Sách Võ Bị Chí (武備志) của Mao Nguyên Nghi (茅元儀, 1594-1640), trong phần ghi chép các chuyến hải hành của thái giám Trịnh Hòa (鄭和) từ Hoa Nam đến Ấn Độ Dương và Đông Phi (1405-1433), đã gọi vùng biển Đông Nam Á là Giao Chỉ Dương (交趾洋).

H1Giao Chỉ Dương (交趾洋)

H2Bản đồ của Lê Quý Đôn (1776) ghi tên biển Đông Dương Đại Hải (東洋大海).

b- Theo cách gọi tên của Việt Nam

Tại Việt Nam, tên gọi Nam Hải cũng được sử dụng trên một số tài liệu, nhưng với hàm ý và ngữ cảnh là dịch từ chữ ‘南海’ của Trung Hoa hay ‘South China Sea’ hay ‘Mer de Chine méridionale’ của các tài liệu Phương Tây; hoặc với ý nghĩa là ‘Vùng biển giáp nước Nam’.

Thời Triều Nguyễn tự chủ, có một vài tài liệu chữ Nôm cũng gọi biển Đông Nam Á là ‘Bể Nam’, với ý nghĩa là ‘biển giáp nước Nam’, khác biệt với cách gọi theo người Trung Hoa là ‘Nam Hải’ bằng chữ Hán theo cách viết văn tự Hán. Trong cuốn Đại Nam Quốc sử diễn ca (1870), viết bằng chữ Nôm theo thể thơ lục bát, kể đoạn An Dương Vương mất nước Âu Lạc vào tay Triệu Đà có viết như sau: …Kim Qui đâu lại hiển linh, Mới hay giặc ở bên mình không xa. Bây giờ Thục Chúa tỉnh ra, Dứt tình phó lưỡi Thái A cho nàng. Bể Nam (𣷭南) đến bước cùng đàng, Văn tê theo ngọn suối vàng cho xuôi… Ở đây Bể Nam và Nam Hải tương đương về vần luật và dấu thanh, nhưng ‘Bể Nam’ (𣷭南) được dùng mà không phải là ‘Nam Hải’ (南海).

Trong khi đó tên gọi Đông Hải (東海), Bể Đông (𣷭東), hay Biển Đông đã được sử dụng phổ biến và lâu đời trong tài liệu Việt, với ý nghĩa chỉ ‘vùng biển nằm ở phía đông lãnh thổ Việt Nam’.

Trong Bình Ngô Đại Cáo (1428) của Nguyễn Trãi viết: 決東海之水不足以濯其污,罄南山之竹不足以書其惡。(Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô, Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác). Ngô Tất Tố dịch là: Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội; Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Trong sách Phủ Biên Tạp Lục (1776) của Lê Quý Đôn, có in một bản đồ vẽ địa dư Việt Nam, đã ghi tên biển Đông Nam Á là Đông Dương Đại Hải (東洋大海).

Sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1809-19) của Phan Huy Chú, tại mục Dư Địa Chí chép: Xét trong sách vở đã ghi chép, đất nước ta phía đông đến biển, phía tây giáp Vân Nam

Sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) của Phan Huy Chú viết: 其地西接哀牢,東臨大海,南夾廣南,北連乂安。(Kỳ địa tây tiếp Ai Lao, đông lâm đại hải, nam giáp Quảng Nam, bắc liên Nghệ An). Dịch nghĩa: Đất Đàng Trong phía tây giáp Ai Lao, phía đông là biển lớn, đoạn phía nam là Quảng Nam, phía bắc nối liền với Nghệ An.

Học giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (1919), đã chép lại lời Bà Triệu Ầu (sinh thời 225-248) rằng: Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở bể đông, quét sạch bờ-cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm-đuối, chứ không thèm bắt-chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tỳ-thiếp người ta.

c- Theo cách gọi tên của Phương Tây

Theo các học giả Inrasara (Phú Trạm) và Sri Thraoh (Kiều Dung), thì vào thế kỷ 15-16, các nhà thám hiểm hàng hải và địa lý Bồ Đào Nha thường gọi gọi vùng biển Đông Nam Á là Biển Champa (Mar da Campa, Mar da Champa, Mar da Chiampa, Mar da Ciampa…). Rồi cũng trong thế kỷ 16, các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha trên các bản đồ hàng hải có lẽ là những người đầu tiên dùng tên gọi Mar da China (Mare Sinlcvm, Tần Hải), với ý nghĩa là ‘vùng biển giáp với nước Tần là đế quốc hùng vĩ nhất trong khu vực trước đây’.

H3

(http://www.slideshare.net/7philippines/the-south-china-sea-west-philippine-sea-dispute)

H4

Một số tài liệu và bản đồ Phương Tây đã từng gọi biển Đông Nam Á cùng với biển Andaman và eo Malacca là biển Đông Ấn (Il Mare dell’ Indie Orientali, bản đồ năm 1750).

https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_%C4%90%C3%B4ng#/media/File:Map_shows_Indochina_and_Southeast_Asia_1750.jpg).

Tên gọi phổ biến nhất và được xem là ‘mang tính quốc tế hiện nay’ của biển Đông Nam Á trong hầu hết các ngôn ngữ Phương Tây, thường mang ý nghĩa là ‘vùng biển nằm ở phía nam của lục địa Tần/Trung Hoa’, có thể được dịch là: biển Nam Tần, biển Nam Trung Hoa, biển Hoa Nam. Sở dĩ có cách gọi này là vì thời bấy giờ Trung Hoa là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã có giao thương với phương Tây qua con đường tơ lụa. Tên gọi nhiều biển, đại dương vốn căn cứ vào vị trí của nó so với các vùng đất gần đó cho dễ tra cứu, không có ý gì nói về chủ quyền. Thí dụ như gọi là Ấn Độ Dương, tức là đại dương ở phía nam Ấn Độ, giáp nhiều nước ở châu Á và châu Phi, chứ không phải là của riêng nước Ấn Độ; hay biển Nhật Bản, được bao quanh bởi Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Hầu hết các tài liệu và bản đồ thường ghi là:

– South China Sea (bằng Anh ngữ).

– Mer de Chine méridionale (bằng Pháp ngữ).

– Südchinesisches Meer (bản đồ châu Á 1890 bằng Đức ngữ), v.v…

(https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_%C4%90%C3%B4ng#/media/File:Asien_Bd1.jpg)

d- Theo cách gọi tên của các nước Đông Nam Á khác

Người Philippines trước đây gọi vùng biển Đông Nam Á là Biển Nam Trung Hoa (Dagat Timog Tsina), hay Biển Luzon (Dagat Luzon, Luzon Sea); tuy nhiên từ sau khi việc tranh chấp đảo ngày càng tăng mức độ gay gắt thì từ năm 2011, Chánh phủ Philippines chánh thức gọi vùng biên này là Biển Tây (West Philippine Sea, Dagat Kanlurang Pilipinas). Tháng 9-2012, tổng thống Philippines Benigno Aquino III ký sắc lệnh bắt buộc sử dụng tên gọi West Philippine Sea trong tất cả tư liệu có liên quan tại Philippines.

Bên cạnh đó, phần lớn các nước Đông Nam Á không có ‘tranh chấp gay gắt’ với Trung Cộng về chủ quyền biển đảo thì vẫn dùng cách gọi là ‘Biển Nam Trung Hoa’, như: Laut Cina Selatan (Malay, Indonesia), Laut Tiongkok Selatan (Indonesia)…

e- Cách gọi Biển Đông Nam Á

Trong bối cảnh tranh chấp căng thẳng về phân chia chủ quyền vùng biển, đã có quan điểm của một số học giả và sử gia quốc tế, đề xuất đổi tên biển thành Biển Đông Nam Á (Southeast Asia Sea) hay Biển Đông Nam châu Á (South East Asia Sea), với ý nghĩa là một tên gọi quốc tế phổ thông và trung lập. Tên gọi này bắt nguồn từ việc khu vực kinh tế Đông Nam Á đang là thị trường năng động đang đà phát triển; các nước khu vực Đông Nam Á bao bọc hầu như toàn bộ chu vi của Biển Đông Nam Á với tổng chiều dài bờ biển vào khoảng 130.000 km trong khi đường bờ biển của các tỉnh duyên hải phía nam Trung Cộng chỉ vào khoảng 2.800 km.

Gọi tên Biển Đông Nam Á là để bác bỏ một lập luận ‘phi pháp’ của Trung Cộng cho rằng ‘tên gọi biển Nam Trung Hoa đã chứng tỏ sự công nhận quốc tế về chủ quyền của Trung Hoa đối với toàn bộ vùng biển theo hình chữ U’, tức là khẳng định vùng biển Đông Nam Á là một vùng biển quốc tế, không thuộc chủ quyền nước nào. Tuy nhiên, trong vùng biển có hàng ngàn hòn đảo, thì mỗi hòn đảo lại có chủ quyền riêng theo công pháp quốc tế.

2- Quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Quần đảo Spratly (Trường Sa)

Giữa biển Đông Nam Á có hai quần đảo là Hoàng Sa (Paracel Islands) và Trường Sa (Spratly Islands), từ lâu đã thuộc chủ quyền Việt Nam dựa theo các tài liệu lịch sử. Sau này Trung Cộng lập luận rằng ‘theo lịch sử thì các quần đảo này thuộc chủ quyền Trung Hoa từ lâu đời’, tuy nhiên mọi lập luận có tính chất ngụy biện và không có bằng chứng này đều không được công pháp quốc tế chấp nhận. Cho đến cuối thế kỷ 19 thì ‘tất cả các đảo thuộc hai quần đảo Paracel và Spratly đều không có người ở và không có chính quyền nào cho người trấn đóng thường trực’. Khi Pháp đô hộ Việt Nam thì chánh quyền Đông Dương và An Nam là thể chế đầu tiên đã chánh thức và công khai thực hiện quyền cai quản hai quần đảo này như những vùng lãnh thổ trực thuộc.

Năm 1947, nước Trung Hoa Dân Quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch đã xâm chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, sau đó Trung Cộng chiếm một số đảo ở phía bắc vĩ tuyến 17 vào năm 1956 và đến năm 1974 thì dùng võ lực xâm chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Từ sau 1975, các nước Trung Cộng, Đài Loan, Philippines, Brunei, Malaysia đẩy mạnh việc tranh chấp với Việt Nam chủ quyền quần đảo Trường Sa.

a- Quần đảo Hoàng Sa

Tài liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa năm 1974 cho biết: Quần đảo Hoàng Sa là một nhóm những cù lao nhỏ ngoài khơi bờ biển Trung Phần, cách Đà Nẵng khoảng 300 cây số về hướng Đông, nằm giữa các kinh tuyến 111 độ – 113 độ Đông Greenwich và các vĩ tuyến 15 độ 15 – 17 độ 5 Bắc.

Quần đảo Hoàng Sa gồm trên 30 đảo, đá, cồn san hô, đá ngầm và bãi cạn; điểm gần nhất cách đảo Lý Sơn của Việt Nam khoảng 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 hải lý. Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo, là nhóm đảo Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết, Crescent group) và nhóm đảo An Vĩnh – Tuyên Đức (hay nhóm Bắc Đảo, Amphitrite group).

– Nhóm An Vĩnh – Tuyên Đức gồm các đảo, bãi đá và cồn cát, như: Bãi Bình Sơn, Bãi Châu Nhai, Bãi Gò Nổi, Bãi Ốc Tai Voi, Bãi Quảng Nghĩa, Bãi Thủy Tề, Cồn cát Bắc, Đá Bông Bay, Đá Nam (Cồn cát Nam), Đá Thấp, Đảo An Vĩnh, Đảo Bắc, Đảo Cây, Đảo Linh Côn, Đảo Nam, Đảo Phú Lâm, Đảo Tây (Cồn cát Tây), Đảo Trung (Cồn cát Trung), Đảo Tuyên Đức, Hòn Tháp, và một số bãi đá, cồn cát nhỏ khác.

– Nhóm Nguyệt Thiềm, còn gọi là Nhóm Trăng Khuyết, hay Nhóm Lưỡi Liềm, gồm các đảo và bãi đá, như: Bãi Xà Cừ, Đá Bắc, Đá Chim Én, Đá Hải Sâm, Đá Lồi, Đảo Ba Ba, Đảo Bạch Quy, Đảo Cam Tuyền, Đảo Duy Mộng, Đảo Hoàng Sa, Đảo Hữu Nhật, Đảo Ốc Hoa, Đảo Quang Ảnh, Đảo Quang Hạ, Đảo Quang Hòa, Đảo Tri Tôn, Đảo Vĩnh Lạc, và một số đảo san hô nhỏ.

H5

H6

b- Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa nằm ở tọa độ 8 độ 38 Bắc và 111 độ 55 Đông, với hơn 100 hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi cát, nằm rãi rác trên vùng biển rộng 410.000 cây số vuông giữa biển Đông, trong đó phần lớn là các bãi san hô phủ phân chim và đảo đá ngầm (reef), chỉ nỗi lên khi nước biển rút theo thủy triều.

Điểm gần nhất của quần đảo Trường Sa cách Cam Ranh khoảng 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Cộng) khoảng 595 hải lý. Do phân bổ rải rác trên một diện tích vùng biển rộng lớn, nên có thể nói quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông.

Quần đảo Trường Sa có thể được chia thành các cụm đảo (theo tên gọi Việt Nam, thứ tự các cụm đảo tính từ bắc xuống nam, tên các đảo theo mẫu tự abc):

– Cụm Song Tử: Bãi Đinh Ba, Bãi Núi Cầu, Đá Bắc, Đá Nam, Đảo Song Tử Đông, Đảo Song Tử Tây.

– Cụm Thị Tứ: Đá Cái Vung, Đá Hoài Ân, Đá Trâm Đức, Đá Tri Lễ, Đá Vĩnh Hảo, Đá Xu Bi, Đảo Thị Tứ.

– Cụm Loại Ta: Bãi Đường, Bãi Loại Ta Nam, Đá An Lão, Đá An Nhơn, Đá An Nhơn Bắc, Đá An Nhơn Nam, Đá Cá Nhám, Đá Sa Huỳnh, Đá Tân Châu, Đảo Bến Lạc, Đảo Loại Ta, Đảo Loại Ta Tây.

– Cụm Nam Yết: Bãi/Đá Bàn Than, Đá Chữ Thập, Đá Đền Cây Cỏ, Đá Én Đất, Đá Ga Ven, Đá Nhỏ, Đảo Nam Yết, Đảo Sơn Ca, Đá Lớn, Đá Núi Thị, Đảo Ba Bình.

– Cụm Sinh Tồn: Đá An Bình, Đá Ba Đầu, Đá Bãi Khung, Đá Bia, Đá Bình Khê, Đá Bình Sơn, Đá Đức Hòa, Đá Gạc Ma, Đá Ken Nan, Đá Nghĩa Hành, Đá Nhạn Gia, Đá Ninh Hòa, Đá Phúc Sĩ, Đá Sơn Hà, Đá Tam Trung, Đá Trà Khúc, Đá Tư Nghĩa, Đá Văn Nguyên, Đá Vị Khê, Đảo Sinh Tồn, Đảo Sinh Tồn Đông, Đá Cô Lin, Đá Len Đao.

– Cụm Trường Sa: Bãi ngầm Chim Biển, Bãi ngầm Mỹ Hải, Bãi ngầm Nguyệt Xương, Đá Châu Viên, Đá Đông, Đá Lát, Đá Núi Cô, Đá Núi Le, Đá Núi Mon, Đá Núi Trời, Đá Tây, Đá Tiên Nữ, Đá Tốc Tan, Đảo Trường Sa, Đảo Trường Sa Đông, Hòn Sập (Đảo Phan Vinh).

– Cụm Thám Hiểm: Bãi ngầm Khánh Hội, Bãi ngầm Ngũ Phụng, Bãi ngầm Tam Thanh, Bãi Phù Mỹ, Bãi Thám Hiểm (Đá Gia Hội, Đá Gia Phú, Đá Sâu), Bãi Trăng Khuyết, Đá/Bãi Thuyền Chài, Đá Công Đo, Đá Én Ca, Đá Hoa Lau, Đá Kiệu Ngựa, Đá Kỳ Vân, Đá Long Hải, Đá Lục Giang, Đá Sác Lốt, Đá Suối Cát, Đá Thanh Kỳ, Đá Vĩnh Tường, Đảo An Bang.

– Cụm Bình Nguyên: Bãi Cái Mép, Bãi Cỏ Mây, Bãi Cỏ Rong, Bãi Đồ Bàn, Bãi Đồi Mồi, Bãi Đồng Cam, Bãi Đồng Giữa, Bãi Hải Yến, Bãi Hữu Độ, Bãi Na Khoai, Bãi Ôn Thủy, Bãi Rạch Lấp, Bãi Rạch Vang, Bãi Sa Bin, Bãi Suối Ngà, Bãi Thạch Sa, Bãi Tổ Muỗi, Bãi Vĩnh Tuy, Cụm/Bãi cạn Nam (Đá Chà Và, Đá Tây Nam), Cụm/Bãi Đá Bắc (Đá Cỏ My, Đá Gò Già), Cụm/Bãi Hải Sâm (Đá Định Tường, Đá Hoa, Đá Hội Đức, Đá Ninh Cơ, Đá Triêm Đức), Cụm Hồ Tràm (Đá Ba Cờ, Đá Hợp Kim, Đá Khúc Giác, Đá Mỏ Vịt, Đá Trung Lễ), Đá Bồ Đề, Đá Đồng Thạnh, Đá Long Điền, Đá Phật Tự, Đá Suối Ngọc, Đá Vành Khăn, Đá Vĩnh Hợp, Đảo Bình Nguyên, Đảo Vĩnh Viễn.

H7

II- SỰ TẠO LẬP VÀ DUY TRÌ CHỦ QUYỀN CƯƠNG VỰC TRÊN BIỂN ĐÔNG NAM Á TRƯỚC NĂM 1909

Tài liệu Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa công bố ngày 14-2-1974 đã khẳng định: có đầy đủ sử liệu và chứng cớ khẳng định Việt Nam là quốc gia đầu tiên khám phá và đặt chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Các vua chúa Triều Nguyễn đã cho thiết lập những quan hệ chặt chẽ và thường xuyên có tánh cách hành chánh, quân sự, tài chánh và văn hóa với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việc xác định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa dựa trên các luận cứ có thật và có bằng chứng về hành động chiếm hữu thực tế, quản lý liên tục và hòa bình của các vua chúa Triều Nguyễn đối với địa danh Hoàng Sa, Trường Sa, và sau này là sự nối tiếp của chánh quyền Liên bang Đông Dương, Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các sử liệu cổ của Việt Nam đều ghi chép rằng các địa danh như Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn Lý Trường Sa thuộc lãnh thổ của Việt Nam, ít nhất là từ thế kỷ 17. Ngoài ra, còn có các sử liệu về sự công nhận của các giáo sĩ, nhà hàng hải, các học giả từ các nước trên thế giới về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo này.

1- Các sử liệu cổ Trung Hoa từ Tam Quốc (220-265) đến triều Đại Thanh (1644 -1911)

Năm 1988, một nhóm nhà nghiên cứu Trung Cộng do Hàn Chấn Hoa chủ trì, đã xuất bản cuốn sách ‘Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hội biên‘. Nội dung tập sách chú ý đưa ra những sử liệu cổ từ đời Tam Quốc (220-265) đến triều Đại Thanh (1644 -1911), và lập luận rằng ‘các quần đảo Tây Sa, Nam Sa (mà Việt Nam gọi là Hoàng Sa, Trường Sa), từ lâu đã là lãnh thổ Trung Hoa‘. Đây cũng là một trong những luận cứ cốt lõi mà lâu nay Trung Cộng từng sử dụng để yêu sách chủ quyền phần lớn diện tích Biển Đông Nam Á theo đường ranh giới ‘hình lưỡi bò’.

Năm 1995, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân (Hà Nội) đã xuất bản tập nghiên cứu của Lưu Văn Lợi, là một cựu cán bộ cao cấp ngành ngoại giao Việt Cộng, có tựa đề ‘Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’, trong đó Ông Lợi đã nghiên cứu và đưa ra những phân tích, dẫn chứng cho thấy những tài liệu mà các học giả Trung Cộng đưa ra là không thể chấp nhận, không trung thực và không hợp lý. (bauvinal.info.free.fr/tulieu/CuoctranhchapHSTS.pdf). Ngoài ra trên các trang mạng đã có hàng vạn tài liệu của các học giả trong và ngoài nước phân tích về ‘tính ngụy biện’ trong các luận cứ ‘chủ quyền lịch sử’ tương tự như vậy của Trung Cộng.

Cũng do tán đồng với quan niệm cho rằng ‘các sử liệu của Trung Cộng đưa ra là không chấp nhận được’, nên bài viết này không cần nêu chi tiết các vấn đề đó.

2- Bản đồ cổ thời Đại Tống (1136)

H8Bản đồ cổ thời Đại Tống (1136) minh thị đảo Hải Nam là cực nam của lãnh thổ Trung Hoa

3- Các chuyến hải hành của Trịnh Hòa (1405 đến 1433)

Từ năm 1405 đến 1433, thái giám Trịnh Hòa (鄭和, 1371-1433) được các triều vua Minh Thành Tổ và Minh Tuyên Tông ở Trung Hoa, phong làm đô đốc cử ‘hạ Tây dương’ 7 lần, xuống Biển Đông Đông Nam Á, rồi đi thăm các nước ở Ấn Độ Dương, nhưng không chiếm hữu bất cứ đảo hay bãi nào thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

4- Một số bản đồ của phương Tây vào thế kỷ 16-17

Một số bản đồ của phương Tây vào thế kỷ 16-17 đã vẽ vị trí các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài khơi Việt Nam. Các quần đảo này không hầu như có người cư ngụ và ‘vô chủ’ vào thế kỷ 16-17, nhưng vị trí gần bờ biển Việt Nam nhất so với các nước khác trong khu vực có thể cho thấy ‘sự gắn bó mật thiết hơn ai hết’ của cư dân và nhà cầm quyền Champa và Đàng Trong với các hải đảo ngoài khơi so với các nước khác.

Điều minh chứng là vào năm 1634, một chiếc tàu quốc tịch Hòa Lan bị chìm tại Hoàng Sa. Thủy thủ đoàn được doanh quan Quảng Nam dưới thời Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên giúp đỡ trong thời gian chờ tàu quá hải về nước.

H9

16th-century Portuguese nautical map depicting the Paracel and the Spratly Islands as a single archipelago located to the east of Viet Nam’s mainland

(https://southeastasiansea.wordpress.com/2013/02/05/the-indisputable-sovereignty-of-viet-nam-over-the-paracel-islands)

H10Bản đồ 1540-1617 vẽ vị trí quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

(https://tiengnoitudovn.files.wordpress.com/2008/02/fr_bando_vn_hs1540-1617.jpg)

H11 (http://www.slideshare.net/7philippines/the-south-china-sea-west-philippine-sea-dispute)

H12

H13

Bản đồ của Matteo Ricci, vẽ trong Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ in tại Trung Hoa năm 1602, về sau được người Nhật Bản ghi thêm dòng chú thích bằng chữ Hán 万里長沙 (Vạn Lý Trường Sa).

H14

H15

Bản đồ Đông Nam Á do người phương Tây vẽ năm 1606, Hoàng Sa (Pracel) được ghi thuộc Champa tại vị trí trong đất liền giữa Cinoa (Thuận Hóa) và Champa là Cofta de Pracel (bằng chữ Latin).

H16

This map by Jodocus Hondius in 1613 shows the Paracel Islands, and includes all of the islands of Vietnam from the southern Gulf of Tonkin to the southern coast of Vietnam, except Pulo Condor (Con Dao) and Pulo Cici (Phu Quoc), which are drawn separately.

H17

In the map drawn by W. Blaeu in 1645, the Pracel Islands are connected with the islands of Pulo Secca de Mare (Cu Lao Thu or Phu Quy island today), Pulo Cambir (Cu Lao Xanh) and Pullo Canton (Cu Lao Re or Ly Son Island today) to form an uninterrupted chain of islands belonging to the territory of Cochinchina (Vietnam today).

H18Bản đồ của Visscher (1680)

H19

Quần đảo Hoàng Sa (Paracel), với tên gọi Baixos de Chapar ou de Pulls Scir, tức là Bãi cát Champa (bãi đá ngầm), nằm trong Vịnh Cochinchine (Golfe de la Cochin Chine), phần phía đông bắc của bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean-Baptiste Nolin (1657-1708) vẽ xong năm 1687

5- Các đội Hoàng Sa và Bắc Hải thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong

Theo sách Dư địa chí tỉnh Bình Định, từ các đời chúa Nguyễn cai trị Đàng Trong cho trên các triều vua Nguyễn cai trị Đại Nam, vẫn luôn chú trọng chánh sách tiến ra biển Đông, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các Chúa Nguyễn tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa biển Đông. Đội Hoàng Sa được ấn định số lượng 70 suất và hoàn toàn chỉ chọn người xã An Vĩnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

Hằng năm, cứ vào tháng 2 đội xuất hành gồm 5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa vật của tàu bị nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây  đến tháng 8 mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân.

Có lẽ vì đội Hoàng Sa không quản lý hết được vùng biển đảo rộng lớn nên chúa Nguyễn đã quyết định đặt thêm đội thuyền Bắc Hải. Đội này do đội Hoàng Sa kiêm quản và cũng có nhiệm vụ giống như đội Hoàng Sa nhưng chỉ hoạt động ở khu vực phía Nam, từ Bắc Hải, Côn Lôn cho đến các đảo ở vùng Hà Tiên. Đội Bắc Hải tuyển người ở thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương thuộc tỉnh Bình Thuận và không cố định số suất thủy thủ như đội Hoàng Sa.

6- Bản đồ của Mao Khôn (1628)

Từ thập niên 1970, Trung Cộng cho in lại một tập bản đồ cổ của Mao Khôn (茅坤, Mao Kun) vẽ và từng được cháu nội là Mao Nguyên Nghi (茅元儀, 1594–1640) đưa vào tập sách Võ Bị Chí (武備志) xuất bản năm 1628, nhưng được cho là của đô đốc Trịnh Hòa (鄭和, 1371-1433) vẽ trong các cuộc hành trình thám hiểm vùng biển Đông Nam Á, Ấn Độ Dương và Đông Phi thời kỳ 1405-33.

Trong đó có một bản đồ vùng biển Hoa Nam, Bắc Việt và Champa, có ghi địa danh Vạn Lý Thạch Đường (万里石塘). Từ đó Trung Cộng cho rằng Vạn Lý Thạch Đường chính là Tây Sa quần đảo và Nam Sa quần đảo, rồi khẳng định một cách không có cơ sở là do đấy mà họ có chủ quyền với Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa) và Nam Sa (quần đảo Trường Sa).

Nếu chỉ cần vẽ bản đồ mà có được chủ quyền thì toàn bộ thế giới sẽ đều thuộc các nhà thám hiểm châu Âu với các bản đồ do họ vẽ từ thế kỷ 13-14 đến nay. Hoặc là nếu yêu sách chủ quyền ‘Tây Sa – Nam Sa’ thành công thì các hậu nhân của Mao Khôn – Trịnh Hòa cũng sẽ đòi chủ quyền của toàn bộ vùng Đông Nam Á, Ấn Độ Dương, Châu Phi vì đều có tên trong tập Võ Bị Chí.

H20Bản đồ của Mao Khôn có ghi địa danh Vạn Lý Thạch Đường (万里石塘)

7- Bộ bản đồ Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (1686)

Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (纂 集天南四至路圖書) do Đỗ Bá soạn vẽ năm 1686 theo lệnh của chúa Trịnh Căn dưới triều vua Lê Hy Tông. Đây là bộ bản đồ địa lý thứ hai của Việt Nam, sau bộ Hồng Đức bản đồ (được soạn vẽ theo chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông và ban hành năm 1490). Bộ bản đồ Đỗ Bá này để lại những thông tin quý báu về lãnh thổ nước Đại Việt vào thế kỷ XVII, trong đó có xứ Đàng Trong do chúa Nguyễn cai quản. Đặc biệt, những ghi chú khá tỉ mỉ về Bãi Cát Vàng (tên nôm) tức Hoàng Sa thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, được coi là nguồn tư liệu quý giá chứng minh chủ quyền của Việt Nam.

H21

Địa danh Hoàng Sa trong Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư: (http://www.baophuyen.com.vn/367/117137/dia-danh-hoang-sa-trong-toan-tap-thien-nam-tu-chi-lo-do-thu-cua-do-ba.html)

(https://southeastasiansea.wordpress.com/2013/02/05/the-indisputable-sovereignty-of-viet-nam-over-the-paracel-islands)

H22

Địa danh Bãi Cát Vàng (phía dưới, bên trái) trong tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư do Đỗ Bá biên soạn năm Chính Hòa thứ 7 (1686) đời vua Lê Hy Tông.

8- Sách ”Hải ngoại ký sự ‘ của Thích Đại Sán (1695)

Thiền sư Thích Đại Sán (釋大汕), thế danh Thạch Liêm (1633-1704) là một trong những cao tăng người Hán, đã được chúa Nguyễn mời đến đất Phú Xuân – Thuận Hóa để truyền giảng kinh Phật. Thiền sư đã khai sáng chùa Thiền Lâm (1695), mở Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ (Huế), làm cố vấn chánh trị cho chúa Nguyễn Phước Châu. Thiền sư đến Thuận Hóa bằng đường biển, qua cảng thị Hội An. Khi trở về cố quốc, Thích Đại Sán đã viết cuốn ‘Hải ngoại ký sự‘ năm 1695. Sách này cho thấy từ thế kỷ 15-17, Đàng Trong đã thực thi chủ quyền của mình trên một vùng lãnh hải rộng lớn, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thông qua các biện pháp: thâu thuế tàu thuyền buôn nước ngoài; thiết lập đội hải quân Hoàng Sa, hàng năm ra khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật, hàng hóa từ những chiếc tàu bị đắm trên vùng biển này.

9- Đội Hoàng Sa và những sự kiện Hoàng Sa ở Đàng Trong (1701-86)

Theo thư tịch phương Tây, vào năm 1701, các giáo sĩ đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Hoa xác nhận Paracel (tức Hoàng Sa) là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam.

Năm 1702 dưới thời chúa Nguyễn Phước Châu và từ đó về sau, các chúa Nguyễn cho tổ chức Đội Hoàng Sa với nhiệm vụ tuần tiễu hải phận xứ Đàng Trong, kiểm soát các thương thuyền, thâu thuế và thâu lượm sản vật trên quần đảo Hoàng Sa đem về nộp cho triều đình Phú Xuân. Mộc bản sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, quyển 10, đời chúa Nguyễn Phước Khoát có chép: “Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, có hơn 130 bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn Lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích, ba ba… Buổi quốc sơ khai đặt đội Hoàng Sa 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào. Hàng năm đến tháng ba thì đi thuyền ra, độ ba ngày đêm thì đến bãi, tìm lượm hóa vật, đến tháng tám thì về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ người ở thôn Tứ Chánh thuộc Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, sai đi thuyền nhỏ đến các xứ Bắc Hải, Côn Lôn để lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.

Tháng 10-1714, ba tàu buôn Hòa Lan gặp bão ở Hoàng Sa. Những người sống sót dạt vào tới bờ xứ Đàng Trong được Chúa Nguyễn Phước Châu tiếp và giúp đỡ lương thực, thực phẩm để đi tiếp cuộc hành trình.

Năm 1731, cuốn Quảng Đông Thông Chí công bố bản đồ tỉnh Quảng Đông và bản đồ phủ Quỳnh Châu (đảo Hải Nam) của Trung Hoa đều không vẽ quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

Năm 1739, Bộ Minh Sử của Trung Hoa trong phần nói về phạm vi lãnh thổ Đại Minh không nói gì đến Tây Sa và Nam Sa.

Năm 1753, hai đội viên đội Hoàng Sa đang hoạt động ở đảo Hoàng Sa bị bão dạt vào cảng Thanh Lan (đảo Hải Nam), Trung Hoa, viên tri huyện địa phương đem trả lại ở Phú Xuân… Chúa Nguyễn Phước Khoát đã có công văn cảm ơn.

Năm 1776, cuốn Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cho biết rõ ràng việc các Chúa Nguyễn cử đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa đánh bắt hải sản và thu lượm hóa vật từ các tàu bị đắm và dạt vào các đảo Hoàng Sa.

10- Một số bản đồ của phương Tây thế kỷ 18

H23

Quần đảo Hoàng Sa (Isles Pracel) cùng với tên gọi Baixos de Chapar de Pullo Scir, trong bản đồ của Joachim Ottens (1663-1719) vẽ xong năm 1710

H24Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam thời Lê trung hưng, theo Thiên Nam lộ đồ vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier). Bãi cát vàng (鐄葛𣺽) trên bản đồ tức là Hoàng Sa.

H25

In the map by Homann Heirs in 1744, the Paracels is noted as “I. Ciampa,” which stands for “Islands Ciampa”, meaning “The islands of the Kingdom of Ciampa. “Ciempa or Campala are the names of the Cochin called by Western countries at that time since they believed that this kingdom was the old land of the Champa Kingdom. (https://www.talkvietnam.com/2014/06/vietnams-case-for-sovereignty-in-the-east-sea-an-abundance-of-history)

Bản đồ của S. van Esveldt và Bản đồ năm 1754 vẽ các quần đảo Paracel và Spratly trong vùng biển Cochinchina (Đàng Trong).

H26Bản đồ của S. van Esveldt

H27Bản đồ do người Hòa Lan vẽ năm 1754, ghi nhận quần đảo Hoàng Sa dưới tên De Paracelles. (Trong giới hạn quần đảo De Paracelles, có 2 nhóm đảo, nhóm đảo phía nam tách rời (không được ghi chú) có hình dạng và vị trí tương đối giống với nhóm đảo Vạn Lý Trường Sa (萬里長沙) của Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ).

(https://tiengnoitudovn.files.wordpress.com/2008/02/vietnam-1754.jpg)

H28Bản đồ Đàng Ngoài Đại Việt (Ton Kin), Đàng Trong Đại Việt (Cochin Chin) cùng quần đảo Hoàng Sa (le Paracel) (có cùng một cách tô đường viền màu xanh dương nhạt), Lào (Laos), Trung Hoa (Chine) cùng đảo Hải Nam (Hainam I.), năm 1771. Trong bản đồ gốc cương vực Vương quốc Trung Hoa được giới hạn bằng đường viền màu vàng và không bao gồm quần đảo Hoàng Sa (le Paracel).

11- Bộ Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ (1774)

Năm 1774, Đoan Quận Công Bùi Thế Đạt theo lệnh chúa Trịnh Sâm đã soạn vẽ và ấn hành bộ Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ (甲午年平南圖), trong đó có ghi rõ địa danh Bãi Cát Vàng tại vị trí quần đảo Paracels.

Cũng trong năm 1774, quan huyện Văn Xương, Thanh triều Trung Hoa báo cáo về thượng cấp là đã vừa giúp các dân binh Đội Hoàng Sa của nước Đại Việt (Đàng Trong) khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Hoa trở về nguyên quán.

H29Bản đồ Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong bộ Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ (1774)

(https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_Th%E1%BA%BF_%C4%90%E1%BA%A1t)

12- Bộ sách Phủ Biên Tạp Lục (1776)

Bộ sách Phủ Biên Tạp Lục (撫邊雜錄) gồm 8 quyển của Lê Quý Đôn, ghi chép lại hầu hết các thông tin quan trọng về kinh tế và xã hội của xứ Đàng Trong trong gần 200 năm từ cuối thế kỷ 16 đến thời kỳ ông làm quan Hiệp trấn xứ Thuận Hóa của chính quyền Lê-Trịnh, vào khoảng năm 1776.

Trong sách này, Lê Quý Đôn đã miêu tả chi tiết thông tin về Đại Trường Sa (bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa), cùng với Bãi Cát Vàng (quần đảo Hoàng Sa) thuộc quyền quản hạt của quan phủ Quảng Ngãi. Đội Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải ở phía nam, tức quần đảo Trường Sa ngày nay. Lê Quý Đôn miêu tả Bãi Cát Vàng là nơi người ta có thể khai thác các sản phẩm biển và những đồ vật sót lại từ các vụ đắm tàu. Ông viết: Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chánh đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) gửi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Càn Long thứ mười tám (1753) có mười tên quân nhân xã An Vĩnh, tổng Cát Liềm, huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, một ngày tháng bảy đến Vạn Lý Trường Sa (萬里長沙) tìm kiếm các thứ, có tám tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để hai tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, dạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán

H30Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (1776) ghi chép về Đại Trường Sa

(https://southeastasiansea.wordpress.com/2013/02/05/the-indisputable-sovereignty-of-viet-nam-over-the-paracel-islands)

13- Việc thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa dưới Triều Tây Sơn (1776-93)

Phong trào nông dân Tây Sơn khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773, đã giải phóng được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam ở phía Bắc cho đến tận Bình Thuận ở phía Nam. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải, từ rất sớm, đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn.

Theo tư liệu từ sách ‘Dư địa chí tỉnh Bình Định‘, vào ngày 15 tháng giêng 1776, viên cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) là Hà Liễu đã làm đơn trình bày rõ: ‘Bây giờ chúng tôi lập hai đội Trường Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo, xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi xin tờ sai ra tìm báu vật cũng thuế quan đem phụng nạp‘.

Tờ đơn này đã được vua Thái Đức triều Tây Sơn xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ lại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được Chỉ thị ngày 14-2 năm thứ 9 hiệu Thái Đức (1786) của thái phó tổng lý quản binh dân chư vụ thượng tướng công ‘Sai Hội Đức hầu Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi 4 chiếc thuyền câu vượt biển thắng tiến Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, đá quý… đều chở về kinh tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội‘.

Ngoài ra còn có bản ‘Ngự phê lời tâu của dân xã An Vĩnh’ về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê ‘chuẩn cho’. Văn bản chép rõ: ‘Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)‘ và ‘niên hiệu Cảnh Thạnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801).

Cùng thời ấy, John Barrow là phái viên của phái bộ Macartney đi từ Anh sang Trung Hoa có ghé qua khu vực Đà Nẵng vào tháng 6-1793 (dưới triều vua Quang Toản), trong quyển ‘A Voyage to Cochinchina, in the year 1792-1793‘ (Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-93), đã mô tả: ‘Tàu thuyền xứ Đàng Trong có nhiều kiểu dáng khác nhau, được dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa)’.

Vào thời Tây Sơn thì tình hình nước Trung Hoa rất ‘rối ren’, nhiều người chống đối Triều đình Mãn Thanh đã phải phiêu bạt trên biển Đông Nam Á. Triều đình Tây Sơn đã ban nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này quy thuận. Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời vua Quang Trung từng vạch rõ: ‘Họ ra vào nơi bể nước, tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm vậy, phần vì những chánh sách bạo ngược xua đẩy‘. Vua Quang Trung kêu gọi họ sớm đầu hàng. Và chiều theo sở nguyện của từng người thậm chí chấp thuận cho cả ‘những người có chí lớn, muốn xông pha nơi ngọn sóng cùng hải đảo‘. Triều Tây Sơn đã dung nạp những người Minh Hương phiêu bạt trên biển, cho cư ngụ, giúp làm ăn sinh sống và thậm chí tuyển mộ vào quân đội và phong quan tước.

Sách Thánh Võ Ký của Ngụy Nguyên (1794-1857) chép rằng có nhiều người Minh làm nội ứng cho An Nam, được vua Quang Toản phong cho làm tổng binh hoặc Đông Hải vương: ‘Triều đình đang bận việc dẹp phía Tây, chưa lo xa đến vùng biển đảo, vì thế mà giặc hoạt động rất táo tợn. Năm đầu niên hiệu Gia Khánh (1796) vị tướng ở Khúc Châu là Khôi Luận, tổng đốc Lưỡng Quảng là Cát Khánh đã nhiều lần tâu vua rằng: bọn giặc biển Tàu Ô là Trần Thiên Bảo đã được An Nam cho làm tổng binh và cấp cho ấn‘.

Cũng trong sách Thánh Võ Ký, Ngụy Nguyên mô tả ‘Di thuyền’ (thuyền của quân Tây Sơn) cao, to hơn thuyền Đại Thanh, trên đặt nhiều súng, hoành hành lâu năm trên mặt biển và nếu quân Thanh gặp thì cũng khó có thể địch được. Đây là một bằng chứng khẳng định lực lượng hải quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo giữa biển Đông Nam Á. (nguồn: Dư địa chí tỉnh Bình Định).

14- Một số bản đồ cuối thế kỷ 18 (năm 1791, 1792, 1794, 1801)

H31Bản đồ của Robert Sayer (1725-1794), nhà xuất bản Luân đôn in năm 1791 ghi chú là: Paracel Bank (quần đảo Hoàng Sa) vẽ theo Dự thảo Hàng hải chỉ nam của xứ An Nam (Cochin China Đàng Trong) năm 1764.

H32Bản đồ năm 1792 xác định rõ Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam

(https://tiengnoitudovn.files.wordpress.com/2008/02/fr_bando_vn_hs1792.jpg)

H33Bản đồ năm 1794

H34Bản đồ năm 1801

15- Việc tạo lập và duy trì chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa của Triều Nguyễn (1802-84)

Các triều vua Nguyễn từ thời Gia Long trở đi trong thực tế đã chủ động thực thi chủ quyền của mình tại quần đảo Hoàng Sa bằng nhiều hình thức như vãn thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thâu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết.

Những tài liệu chánh thống cấp quốc gia của Việt Nam gồm có Hội Điển, các bộ chánh sử Triều Nguyễn và châu bản do Triều đình Huế lưu giữ còn đến ngày nay. Trong đó cũng có rất nhiều những bản tấu, phúc tấu của các bộ như Bộ Công cùng lời châu phê của vua về công việc cắm mốc, dựng cờ, tế cáo trời đất, dựng bia chủ quyền, xây miếu, trồng cây, viếng thăm, tuần tra, khai thác… tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1802, Nguyễn Phước Ánh lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, tái bản năm 1908, từ năm 1802 vua Gia Long cũng cho lập Đội Hoàng Sa giống như thời trước đây, để thường xuyên và liên tục kiểm soát và khai thác quần đảo này.

Năm 1805, vua Gia Long ra lệnh kiểm kê tình hình ruộng đất từ Nam ra Bắc để làm Bộ Địa bạ Gia Long, đến năm 1836 triều vua Minh Mạng thì hoàn thành.

Năm 1815, theo lệnh vua Gia Long, cai bạ Phạm Quang Ánh ra Hoàng Sa thăm dò thủy trình.

Đặc biệt nhất vào năm 1816, chuẩn lời tâu của Bộ Công, vua Gia Long thân chinh đi thuyền ra Hoàng Sa và cho thượng kỳ Hoàng triều ngay trên đảo để tế cáo trời đất. Sự kiện này được Chánh phủ Pháp vào năm 1930 chánh thức công nhận là thời điểm tạo lập chủ quyền quốc gia của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1816, để chuẩn bị cho chuyến ngự giá ra Hoàng Sa của vua Gia Long, Thủy quân và đội Hoàng Sa đã ra Hoàng Sa xem xét và đo đạc thủy trình, sau đó tiếp tục thường xuyên ra đảo để tuần tra.

Từ năm 1820, vua Minh Mạng thường sai công thuyền đến Hoàng Sa dò hải trình.

Năm 1820, Jean Baptiste Chaigneau viết trong tờ trình về xứ Cochinchina rằng ‘Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ của xứ Cochinchina‘.

Năm 1821, trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Phan Huy Chú nói rõ ràng về Hoàng Sa thuộc phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Nam.

Năm 1833, vua Minh Mạng chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị thuyền ra Hoàng Sa để dựng bia, lập miếu, trồng cây.

Năm 1834, vua Minh Mạng cử giám thành đội trưởng Trương Phước Sĩ cùng 20 thủy thủ ra Hoàng Sa vẽ bản đồ đường biển.

Ngày 9-4-2009, tộc họ Đặng ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã hiến tặng cho chính quyền Việt Cộng một tờ công lệnh cổ của gia tộc. Theo đó, vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (1834), quan tỉnh Quảng Ngãi ra công lệnh cho Đặng Văn Siểm và Dương Văn Định, cùng đội thuyền ba chiếc ra canh giữ đảo Hoàng Sa. Công lệnh ghi rõ: Các phái viên và thủy quân đi trước để cùng thám sát các vùng của xứ Hoàng Sa. Xem xét và tuyển chọn trong tỉnh ba thuyền tốt cùng với các vật dụng được tu bổ vững chắc, lại chọn ra tên Võ Văn Hùng đã được cử đi từ năm trước và chọn thêm những dân phu ven biển thông thạo đường biển để sung làm thủy thủ trên thuyền… Cứ hạ tuần tháng ba thuận thời tiết mà đi.

Năm 1835, vua Minh Mạng cử Phạm Văn Nguyên chở vật liệu ra xây miếu, dựng bia ở Hoàng Sa.

Năm 1836, vua Minh Mạng cho chỉ thị cụ thể về vẽ bản đồ các đảo Hoàng Sa và đường biển đi tới các tỉnh ven bờ. Thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật ra Hoàng Sa xem xét đo đạc và cắm mốc để đánh dấu.

Một sự kiện nỗi bật được chép rõ trong Hội Điển, Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, Quốc triều Chánh Biên Toát Yếu và cả châu bản là vào năm 1836, vua Minh Mạng cử Phạm Hữu Nhật làm thủy quản suất đội, chỉ huy bốn chiến thuyền, mỗi thuyền mang mười cột mốc bằng gỗ cắm mốc chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, đo đạc, xác định vị trí các đảo và vẽ họa đồ. Các tài liệu Hội Điển, Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu ấy đã được khắc in và lưu trữ tại nhiều thư viện. Song văn bản quốc gia có giá trị về pháp lý độc nhất vô nhị chính là những châu bản bao gồm các bản tâu, phúc tấu của các bộ gửi lên vua và lời châu phê (phê bằng mực son) của vua được lưu trữ tại Kho lưu trữ trung ương (Hà Nội).

Năm 1838, giám mục Jean Louis Taberd công bố An Nam Đại Quốc Họa Đồ, trong đó có vẽ một phần Hoàng Sa với cái tên ‘Cát Vàng’ nằm ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam như Cù Lao Ré, Cù Lao Thu, Cù Lao Chàm…

Năm 1842, bài tựa cuốn Hải Lục của Vương Bính Nam viết: ‘Vạn Lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên dậu của An Nam‘.

Năm 1847, theo lời tâu của Bộ Công, vua Thiệu Trị đồng ý năm này không cử đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa như mọi năm vì bận nhiều công việc.

Năm 1849, trong bài ‘Địa lý đế quốc Cochinchina‘, tiến sĩ Gutlaff có một đoạn dài nói về quần đảo Cát Vàng (tức Hoàng Sa).

Năm 1850, trong cuốn ‘Thế giới lịch sử và miêu tả về tất cả các dân tộc: Nhật Bản, Đông Dương, Xây-lan...’, Dubois de Jancigny có đoạn nói ‘người xứ Cochinchina đã chiếm hữu quần đảo Cát Vàng‘.

Năm 1862, trong cuốn ‘Bức tranh xứ Cochinchin‘, E. Contenbert và L. de Roany nói rõ ‘xứ Cochinchin có quần đảo Cát Vàng‘.

Năm 1876, trong cuốn ‘Việt sử cương giám khảo lược‘, Nguyễn Thông có đoạn nói về quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam.

16- Bộ sách Đại Nam Thực Lục (1821-1925)

Bộ sách Đại Nam Thực Lục (大 南寔 錄), do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn và ấn hành từ đầu triều vua Minh Mạng đến triều vua Khải Định (1821-1925). Nội dung gồm hai phần, phần Tiền Biên (前編) gồm 12 quyển, phần Chánh Biên (正編) gồm 587 quyền, ghi chép biên niên các sự kiện từ khi chúa Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến đời vua Khải Định (1925). Bộ sách có rất nhiều thông tin khẳng định chủ quyền rõ ràng của Việt Nam đối với các đảo trên biển.

Sách  Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (大南實錄前編), quyển 10, chép: ‘Tháng 7 năm Giáp Tuất (1754), dân đội Hoàng Sa gặp gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu, thuộc Thanh triều. Tổng đốc Thanh triều châu cấp cho lương đầy đủ rồi sai đưa về. Chúa sai viết thư qua…’.

Sách  Đại Nam Thực Lục Chánh Biên (大南實錄正編), quyển 50, 52 chép: ‘Năm 1815, 1816 vua (Gia Long) cho thủy quân và đội Hoàng Sa ra xem xét, đo đạc thủy trình‘.

Sách Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, quyển 104, năm Minh Mạng thứ 14 (1833) chép: ‘Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt được cạn sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời.

Sách  Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, quyển 134, năm Minh Mạng thứ 13 (1832) chép: ‘Vua nghĩ Côn Lôn thủ và Hà Tiên Phú Quốc thủ đều là những nơi sung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường có giặc biển ẩn hiện. Liền truyền dụ cho quan thành chọn đất hai chỗ chủ ấy xây đặt pháo đài, liệu cấp súng đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân trấn giữ. Những cư dân cũng cấp cho khí giới để cùng phòng thủ. Lại chuyển sức cho năm trấn trong thành hạt, ra lệnh cho các làng sở tại ven biển đều sẵn sàng thuyền bè, khí giới, nếu thấy thuyền giặc đến gần bờ thì cùng nhau tiếp ứng hợp sức cùng đánh.

Sách Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, quyển 154, năm Minh Mạng thứ 16 (1835) chép: ‘Năm nay dựng thần từ ở Hoàng Sa… Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có cái giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bia khắc bốn chữ Vạn Lý Ba Bình. Cồn Bạch Sa có chu vi 1.070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông tây nam bắc đều có đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc giáp với cồn toàn đá san hô sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao một trượng ba thước, ngang với cồn cát gọi là Bàn Than thạch. Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia chỗ ấy, bổng vì sóng gió mà không làm được. Đến nay mới sai cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem binh phu giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, chuyên chở vật liệu ra dựng miếu cách tòa miếu cổ bảy trượng. Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong thì về.

Sách Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, quyển 165, năm Minh Mạng thứ 17 (1836) ghi lại: “Bộ Công tâu: ‘Cương giới mặt biển ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia đã phái vẽ bản đồ mà hình thế nó xa rộng, mới chỉ được một nơi cũng chưa rõ ràng. Hàng năm nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Xin từ nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái biền binh thủy quân và vệ giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định thuê bốn chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng Hoàng Sa. Khi thuyền đi đến phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ…’. Vua y lời tâu, sai đội suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi. Chuẩn cho mang theo mười cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu ghi. Mỗi bài gỗ dài năm thước, rộng năm tấc, dày một tấc, mặt bài khắc chữ “Minh Mạng thứ mười bảy, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng lệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.

H35Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên chép về Hoàng Sa

H36Một số trang sách Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, viết về việc Triều Nguyễn chánh thức xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa với tư cách là một quốc gia

17- Thư tịch Hoàng gia Champa khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa (1836)

Là quốc gia từng hiện hữu trên lãnh thổ Việt Nam hàng ngàn năm, và là một trong ba nền tảng (Đại Việt – Chiêm Thành – Phù Nam) tạo lập nên quốc gia Việt Nam hiện đại, Vương quốc Champa, vốn có truyền thống về hàng hải, đã từng chứng tỏ chủ quyền lịch sử của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài khơi.

Theo phó giám đốc Trung tâm UNESCO nghiên cứu và bảo tồn Văn hóa Chăm, tiến sĩ Thông Thanh Khánh, thư tịch Hoàng gia Chăm chứa đựng nhiều chủ đề di sản văn hóa Chăm độc đáo như lịch sử, văn học, ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo… Trong đó kho tư liệu Hoàng gia Chăm vẫn còn những văn kiện liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam, đặc biệt là vùng biển Trường Sa và Hoàng Sa.

Tiến sĩ Khánh xác nhận rằng: ‘trong các công văn gửi đi và đến giữa Triều đình Champa với các địa phương, chúng tôi đã phát hiện ra có rất nhiều văn thư liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, như một văn bản của làng Chăm Plei Koh nay là đảo Phú Quý thuộc Bình Thuận vào năm 1836. Văn bản ghi: …Làng Koh trình tấu với quan phủ về việc cử 3 chiếc thuyền đến Kulao Cuah Atah (Trường Sa) và Kulao Cuah Bhong (Hoàng Sa), hỗ trợ việc cắm các mốc giới theo chỉ dụ. Việc này làng Koh đã tập hợp dân đinh và ngư phủ nhưng bây giờ biển động không thể ra khơi nên làng xin quan phủ cho dời đến tháng Mười sẽ khởi hành’.

H37Một phần tư liệu khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

H38Bản đồ Paracels Islands (Hoàng Sa) một phần của CochinChine (Vương quốc An Nam) năm 1827.

18- Bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (1834-40)

Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (大南ー統全圖) do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn ấn hành nhiều đợt từ năm 1834 đến 1840, có ghi rõ địa danh Vạn Lý Trường Sa (萬里長沙) và địa danh Hoàng Sa (黄沙) là bộ phận của lãnh thổ nước Đại Nam.

H39Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ bản in năm 1834, ghi Vạn Lý Trường Sa (萬里長沙) và Hoàng Sa (黄沙)

19- Châu bản và chiếu biểu của Triều Nguyễn (…1835, 1837, 1847…)

H40Châu bản triều Nguyễn (阮朝硃本) về việc xây đền thờ ở Hoàng Sa (黄沙寺) của đội Hoàng Sa, do Phạm Văn Nguyên (笵文原) chỉ huy. Văn bản soạn ngày 13 tháng 7 âm lịch năm Ất Mùi, Minh Mạng 16, tức ngày 5-9-1835.

H41Báo cáo của Bộ Công lên vua Thiệu Trị năm 1847 về việc khai thác và cai quản Hoàng Sa

H42Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa (黄沙), ngày 13 tháng 7 năm Đinh Dậu niên hiệu Minh Mạng thứ 18 (ngày 13-8-1837).

20- Bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ (1838)

Trong tấm bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục (Bishop) J.L. Taberd in năm 1838, đính vào cuốn Từ điển Latin-An Nam, đã ghi rõ Paracel seu Cát Vàng ở tọa độ như hiện nay của quần đảo Paracel hay quần đảo Hoàng Sa. Năm 1843, dưới thời vua Minh Mạng, quần đảo Hoàng Sa được vẽ trên các bản đồ in trong cuốn Hoàng Việt Địa Dư do Triều đình Huế xuất bản. Cũng duy nhất trước năm 1909 chỉ có bản đồ của người phương Tây ghi “Paracel seu Cát Vàng”, mà từ Cát Vàng là tên nôm của quần đảo Hoàng Sa.

H43An Nam Đại Quốc Họa Đồ (by Bishop Bishop J.L. Taberd, 1838).

(https://southeastasiansea.wordpress.com/2013/02/05/the-indisputable-sovereignty-of-viet-nam-over-the-paracel-islands)

21- Trung Hoa không hề tạo lập chủ quyền tại Tây Sa và Nam Sa (1844-1909)

Năm 1844, Hoàng Triều Nhất Thống Tổng ĐồBản đồ tỉnh Quảng Đông trong cuốn Trung Ngoại Đại Dư Đồ Thuyết của Thanh triều Trung Hoa xuất bản, đều không vẽ hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, mà vẽ rõ cương vực cực nam của Trung Hoa là đảo Hải Nam.

Năm 1894, trong bộ Hoàng Triều Nhất Thống Dư Đồ của Thanh triều Trung Hoa, bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ không vẽ Tây Sa và Nam Sa. Lời giải thích còn khẳng định rõ ‘điểm cực Nam của Trung Hoa là Châu Nhai, phủ Quỳnh Châu‘ ở vĩ độ 18013′ Bắc.

Năm 1895-96, nước Anh phản đối Trung Hoa về việc dân Hải Nam đã lấy đồng trên hai tàu Bellona và Imezi Maru bị đắm ở Hoàng Sa. Nhà cầm quyền Quảng Đông trả lời rõ là ‘Paracels không thuộc Trung Hoa, nên Trung Hoa không có trách nhiệm gì‘.

Năm 1905, trong Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ của Thanh triều Trung Hoa, bản đồ đế quốc Đại Thanh và bản đồ của tỉnh Quảng Đông đều không vẽ Tây Sa và Nam Sa, mà vẽ rõ cương vực cực nam của Trung Hoa là đảo Hải Nam,

Năm 1906, trong cuốn Trung Quốc địa lý học giáo khoa thư, tại phần Tổng luận ghi rõ điểm cực Nam của Trung Hoa là Châu Nhai, Quỳnh Nhai, ở vĩ tuyến 18013′ Bắc.

22- Bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1849-82)

Bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (大南一統志), được biên soạn thời kỳ 1849-82 dưới triều vua Tự Đức, tại quyển 6, chép về tỉnh Quảng Ngãi có đoạn: “Đảo Hoàng Sa ở phía đông cù lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ đi thuyền ra, thuận gió thì độ ba bốn ngày đêm có thể tới nơi. Có đến hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết hàng mấy ngàn dặm, bằng phẳng rộng rãi, tục gọi là Vạn Lý Trường Sa, nước rất trong, trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản vật nhiều ốc hoa, hải sâm, đồi mồi, vích… Hồi đầu, bản triều có đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào mỗi năm, cứ tháng ba là ra biển tìm kiếm sản vật, đến tháng tám mang về cửa biển Tư Hiền để nộp. Lại đặt đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật tại các đảo. Vào đầu đời vua Gia Long, phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa. Đầu đời Minh Mạng, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển. Năm Minh Mạng thứ mười sáu, sau thuyền công chở gạch đá đến xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và hậu. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn hai ngàn cân”.

H44Một trang sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1849-82) chép về Hoàng Sa

23- Bản đồ thời kỳ 1876-1908

H45Quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ của Đức năm 1876 vẽ vùng Viễn Ấn Hinter-Indien với lời ghi rõ ‘quần đảo thuộc xứ Annam’

24- Chánh quyền thuộc địa Pháp chiếm hữu chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa (1884)

Năm 1884, Triều đình Huế ký Hòa ước Giáp Thân với Chánh phủ Pháp, chấp nhận cuộc bảo hộ của Pháp. Kể từ đây, Chánh quyền thuộc địa Pháp có quyền thay mặt Việt Nam trong những quan hệ ngoại giao với nước ngoài, bên cạnh việc có trách nhiệm đảm bảo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, trong đó có việc tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đã có từ trước trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế, chánh quyền thuộc địa Pháp đã có nhiều hành động cụ thể liên tục củng cố, khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này.

Trong Công ước Thiên Tân ký với Pháp ngày 11-5-1884, Thanh triều Trung Hoa cam kết tôn trọng các hiệp ước đã ký và sẽ ký giữa Pháp và Nguyễn triều Việt Nam.

Ngày 26-2-1885, Định ước chung Berlin nêu rõ những điều kiện chiếm hữu những lãnh thổ mới ở châu Phi, trước hết là chiếm hữu thật sự.

Bà Monique Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và chính trị học ở Trường Đại học Paris 7 Denis Diderot, nguyên chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp, nguyên chủ tịch Hội luật gia châu Âu, cho rằng: ‘Tôi đã tìm thấy trong thư từ ngoại giao những yếu tố cho thấy người Pháp dần dần quan tâm tới các quần đảo này và tự đặt mình vào bối cảnh quốc tế để đòi hỏi chủ quyền.’

25- Chánh quyền Trung Hoa khẳng định Paracels không phải lãnh thổ Trung Hoa (1898)

Có thể nói, từ thời tạo thiên lập địa cho đến tận đầu thế kỷ 20, mọi triều đại Trung Hoa vẫn không hề ngó ngàng gì chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa), họ mặc nhiên chấp nhận tình trạng đó; và khái niệm ‘Tây Sa’ và ‘Nam Sa’ không hề tồn tại. Thậm chí có lần chánh quyền Trung Hoa còn khẳng định quần đảo Paracels không phải của họ.

Năm 1886 chiếc tàu Humeji-Maru treo cờ Nhật, năm 1895 chiếc tàu Bellona treo cờ Đức, trong hành trình chở đồng của Anh từ Anh sang Nhật bán, đều bị chìm ở vùng biển Hoàng Sa. Một số thủy thủ người Hán trên tàu dùng thuyền nhỏ vào đảo Hải Nam lén báo cho cư dân ở đây túa ra cướp phá lấy hết đồng và tài sản trên tàu đem về. Theo yêu cầu của các hãng bảo hiểm Anh, Công sứ Anh tại Bắc Kinh và lãnh sự Anh tại Hoihow can thiệp để lấy lại số tài sản đó, nhưng các nhà chức trách Trung Hoa trả lời rằng Hoàng Sa không thuộc Trung Hoa, không phải là đơn vị hành chánh nào của Trung Hoa và tuyên bố không chịu trách nhiệm.

Học giả Monique Chemillier-Gendreau, trong quyển Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên (NXB Phương Đông, Trung Cộng, 1988, trang 175) viết: ‘Năm 1898, chánh quyền Quảng Châu, Trung Hoa đã trả lời các khiếu nại của công sứ Anh tại Bắc Kinh về việc Công ty Bảo hiểm Anh bảo hiểm tàu Bellona của Đức bị chìm năm 1895, và tàu Humeji-Maru của Nhật bị chìm năm 1886, đã bị những người Trung Hoa ở Hải Nam cướp phá, rằng: ‘Quần đảo Paracels là những hòn đảo bị bỏ rơi, chúng không phải sở hữu của cả Trung Hoa lẫn An Nam, cũng không sáp nhập về hành chánh vào bất kỳ quận nào của Hải Nam và không có nhà chức trách nào chịu trách nhiệm về cảnh sát của chúng’.

Trong bài ‘Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa thời Pháp chiếm đóng‘ của nhóm tác giả Lê Phúc-Lê Bình-Thùy Vân-Thu Lan (18-1-2012, http://www.vnsea.net) có đoạn:

“Ông Hoàng Việt, giảng viên Trường Đại học Luật TPHCM thuật lại câu chuyện được P.A Lapicque ghi lại như sau: ‘Từ năm 1884 đến năm 1909, không có gì chứng tỏ sự quan tâm của Trung Quốc đối với các quần đảo Hoàng Sa. Chỉ có một sự kiện duy nhất được các nhà biên niên sử ghi lại. Và sự cố đó đi theo hướng là Trung Quốc đồng ý với sự chiếm hữu của nước khác.

Năm 1895, tàu Bellona của Đức chở đồng đi ngang qua vùng biển Hoàng Sa bị mắc cạn ở đó, rồi bị chìm. Ngư dân Trung Quốc ùa ra cướp về. Tàu này mua bảo hiểm của một hãng tại Anh quốc. Hãng bảo hiểm đó đã đòi tiền bồi thường của chính quyền Quảng Đông vì không đảm bảo được an ninh hàng hải. Chính quyền Quảng Đông, Trung Quốc, đã trả lời rằng, lãnh hải đó không phải của họ và họ không chịu trách nhiệm.

Câu chuyện này còn được trình bày trong một văn thư của Phủ Toàn quyền Đông Dương (Vụ Giám đốc các công việc chính trị và bản xứ) ngày 6-5-1921.

Cả hai nội dung này cho thấy rõ ràng các nhà chức trách địa phương phủ nhận một cách chính xác mọi ý tưởng về chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đào này. Đây là những nhà chức trách địa phương, tức là người có khả năng nhất để biết tình hình thực tế. Và họ nói cụ thể rằng không có sự sáp nhập hành chính, bằng chứng của việc không quản lý“. (http://www.vnsea.net/tabid/127/ArticleID/788/language/vi-VN/Default.aspx)

26- Pháp lập kế hoạch xây hải đăng ở Hoàng Sa (1898-99)

Ngay từ năm 1898, Bộ Thuộc địa Pháp và Phủ Toàn quyền Đông Dương đã đề cập đến chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Công văn của Vụ Châu Á – Châu Đại dương của Bộ Ngoại giao Pháp có đoạn viết: ‘…nhằm ngăn cản một cường quốc khác đứng trên các đảo đó (Hoàng Sa), có lẽ cần phải nên xây dựng ngay một ngọn hải đăng trong quần đảo này để khẳng định chủ quyền của chúng ta…”

Theo báo La Nature số 2916 ngày 1-11-1933, năm 1899 toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã ký nghị định cho xây dựng một hải đăng ở phía bắc đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, do thiếu kinh phí nên mãi đến năm 1937 việc xây hải đăng mới bắt đầu và năm 1938 bắt đầu hoạt động.

H46Báo La Nature số 2916 ngày 1-11-1933

_______

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Trích: LÝ ĐĂNG THẠNH – LỊCH SỬ VIỆT NAM

– Tập 2- CÁC VƯƠNG QUỐC CAMPA (192-1832), KHMER (802-1863) VÀ LÀO (1353-1949)

– Tập 4- NƯỚC VIỆT THỜI TRỊNH-NGUYỄN PHÂN TRANH

– Tập 5- NƯỚC VIỆT NAM THỜI TRIỀU NGUYỄN TỰ CHỦ

– Tập 7- ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP (1)

– Tập 9 – CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG LẦN NHẤT

– Tập 11- NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HÒA

– Tập 12, 13, 14 – CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG LẦN HAI

– Tập 15- CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG LẦN BA VÀ THỜI SAU ĐÓ

– Tập 16 – NƯỚC VIỆT NAM THUỘC CỘNG (1)

– Tập 22- THƯ MỤC THAM KHẢO VÀ CHỈ MỤC TRA CỨU

https://anhbasam.wordpress.com/2016/07/12/9105-tranh-chap-chu-quyen-tren-vung-bien-dong-nam-a-phan-1/

%d bloggers like this: